DIỄN VĂN KHAI MẠC HỘI THẢO HIV/AIDS

(của Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Tổng Thư ký Uỷ ban Bác ái Xã hội)

Kính thưa Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám mục Hà Nội,
Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Giáo phận Lạng Sơn,
Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên, Giám mục Giáo phận Hải Phòng,
Đức Ông Vitillo, Đại diện Caritas Internationalis,
Bà Christine Wegner Schneider, Đại diện Caritas Germany,
Ông Eamonn Murphy, Đại diện Tổ chức Phòng chống AIDS của Liên Hiệp Quốc,
Kính thưa Quý vị Đại biểu, Quý Cha, Quý Tu sĩ nam nữ
và anh chị em tham dự viên thân mến,

Trước hết, xin cho phép chúng tôi thay mặt Ban Tổ Chức chào mừng toàn thể Quý vị và anh chị em đã đến tham dự cuộc Hội Thảo này. Tất cả những ai đang hiện nơi đây đều là những người có lòng nhân ái, biết cảm thông và muốn cứu giúp những người đang sống chung với HIV/AIDS.

Đến với cuộc Hội Thảo này, chúng ta có các vị đại biểu từ 6 Tổ chức Quốc tế: Caritas Germany, Caritas Internationalis, Catholic Relief Service, Misereor, UNAIDS và Action Aid; các đại biểu đến từ 14 giáo phận có nhiều người sống chung với HIV; các đại biểu đến từ các nhà mở, mái ấm, phòng khám dành cho người có HIV thuộc Tổng Giáo phận TP.HCM; các bác sĩ có những công trình nghiên cứu về HIV/AIDS. Một số giám mục đã gửi điện thư chúc mừng Hội Thảo nhưng không thể tham dự được vì phải tổ chức tĩnh tâm hằng năm cho các linh mục vào những tuần đầu của năm mới. Chúng tôi cũng rất tiếc phải từ chối một vài tổ chức và cá nhân vì điều kiện eo hẹp và giới hạn hiện nay chưa thể đón tiếp toàn thể Quý vị. Số tham dự viên 78 người hôm nay đã vượt xa số dự trù ban đầu là 50 người.

Tiếp theo, có lẽ chúng ta nên lược qua tình trạng HIV/AIDS tại Việt Nam để định hướng cho cuộc Hội Thảo này.

Kể từ lần đầu tiên phát hiện được người nhiễm HIV vào tháng 12 năm 1990, đại dịch này đang lan rộng rất nhanh tại Việt Nam. Vào cuối năm 1999, Bộ Y tế ước tính có 90.000 người; đến cuối năm 2007, con số này đã lên đến khoảng 300.000 người. Mỗi ngày có khoảng 100 người nhiễm mới. Tỷ lệ nhiễm ở một vài nơi đã lên đến mức dịch, nếu tính theo mức quy định (trên 1%) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): như TP.HCM 1,25%, Quảng Ninh 1,15%, Hải Phòng 1,15% (x. Bộ Y tế, Ước tính và Dự báo nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam, 2001-2005, 2005; Khuất Thị Hải Anh, Đương đầu với HIV/AIDS ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, tháng 11-2007, tr.17).

Cuối năm 2004 đã có trên 72.000 người đi vào giai đoạn AIDS và mỗi năm hơn một chục ngàn người tử vong. Số người nhiễm HIV/AIDS trong những năm đầu tập trung nơi những người nghiện ma tuý qua đường tiêm chích (33,7% vào năm 2005, riêng tại TP.HCM lên tới 64%) và các cô gái mãi dâm qua đường tình dục (6,5% năm 2004, riêng tại TP.HCM 15,5% và Hà Nội 15,6%), nay đang lan rộng trong đại chúng, nhất là nơi những di dân, công nhân và học sinh sinh viên xa nhà, qua những quan hệ tình dục bừa bãi (21,5% nam thanh niên độc thân có quan hệ tình dục với gái mãi dâm). Nhiều phụ nữ, trẻ thơ vô tình trở thành những nạn nhân của đại dịch này. (x. Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, Bản tin JVnet, tháng 12-2007, tr.20).

Có những giáo phận đầy những tín hữu đơn sơ, hiền hoà như Phát Diệm, Bùi Chu, Long Xuyên mà chúng ta tưởng rằng không bao giờ có mặt HIV thì tại những nơi đó có một vài xứ đạo đã trở thành vùng chết vì có quá nhiều người nhiễm HIV. Họ là những nạn nhân ở vùng Kim Sơn, Ninh Bình mà các chủ bãi vàng đã dùng ma tuý, gái mãi dâm để điều khiển họ. Họ là những phụ nữ nghèo khổ ở An Giang, Tiền Giang, Tây Ninh trong số 27.000 người phải bán thân ở vùng biên giới Campuchia và Việt Nam mà đa số đã bị nhiễm HIV. Quá tuổi 20, những người này trở về gia đình hay lên các thành phố lớn, họ tiếp tục hành nghề để nuôi sống mình và gia đình dù biết rằng mình đã bị nhiễm. Cái đói đã khiến họ bất chấp tất cả. Nếu các người có trách nhiệm trong Giáo hội Việt Nam như giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và hội đồng mục vụ giáo xứ không quan tâm đến vấn đề HIV/AIDS thì sợ rằng có nhiều giáo xứ thuộc các giáo phận khác cũng sẽ trở thành những vùng chết như Phát Diệm, Long Xuyên.

Trong khi đó, ngân sách dành cho chương trình HIV/AIDS tại Việt Nam là rất lớn. Tổng ngân sách từ chính phủ, các địa phương và tài trợ nước ngoài là: 11.352.000 USD (năm 2003), 19.868.000 USD (năm 2004), nhưng đến năm 2005 chỉ còn 19.420 USD vì nhiều tổ chức quốc tế đã không thấy hiệu quả trong những dự án dành cho việc phòng chống HIV của chính phủ do số người nhiễm HIV/AIDS vẫn gia tăng nhanh chóng tại Việt Nam (x. Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, Bản tin JVnet, tháng 12-2007, tr.21). Quả thật, để đạt được hiệu quả tích cực người ta không phải chỉ tìm cách chạy chữa cho những người đã bị nhiễm mà còn phải ngăn ngừa việc lây lan trong cộng đồng xã hội bằng các phương tiện truyền thông như sách báo, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình. Cũng như không phải chỉ nói riêng về HIV/AIDS mà còn phải nói đến tình dục an toàn, giá trị cao quý của sự sống cho những người nhiễm HIV, cỗ vũ tình yêu chung thuỷ cho những người có gia đình và tình yêu trong sáng cho các bạn trẻ chưa lập gia đình, dạy cho họ những kỹ năng sống, đào tạo nghề nghiệp để khỏi rơi vào tình trạng mãi dâm…

Để góp phần vào công cuộc phòng chống HIV/AIDS và trợ giúp những người bất hạnh, nhiều giáo phận đã có những hoạt động riêng lẻ, tự phát của cá nhân hoặc dòng tu trong những năm qua như thăm viếng, săn sóc, trợ cấp thuốc men cho những người trong giai đoạn AIDS, an táng những người qua đời vì AIDS và nuôi dưỡng con cái của họ. Đặc biệt từ sau cuộc hội thảo về HIV/AIDS tại TP.HCM vào tháng 10-2005, một vài mái ấm, nhà mở, phòng khám đã được thiết lập để giúp đỡ những người HIV/AIDS. Một vài dòng tu đã hợp tác làm việc với nhau tại Trọng Điểm ở Bình Phước dưới dự điều hành của Ban Mục vụ dành cho những người HIV/AIDS của Tổng Giáo phận TP.HCM. Tuy nhiên, trong cuộc chiến chống lại căn bệnh thế kỷ người ta không nên chỉ hoạt động riêng lẻ mà cần phải liên kết để tạo nên một chiến tuyến vững chắc, một mạng lưới bền chặt để có thể chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm cho nhau. Sự liên kết này được trải rộng ra đến mọi tổ chức và tôn giáo trong nước cũng như đến mọi tổ chức quốc tế ngoài nước.

Chính vì thế mà Uỷ ban BAXH thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã tổ chức cuộc Hội Thảo lần này tại Hà Nội với chủ đề Liên kết các Hoạt động Thực tiễn của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam trước đại dịch HIV/AIDS nhằm những mục đích sau:

- Giúp người Công giáo và những vị lãnh đạo Công giáo nhận định đúng tình hình thực tế của vấn đề HIV/AIDS tại Việt Nam.
- Chia sẻ và đánh giá kinh nghiệm cũng như những phương pháp làm việc của những người làm công tác về HIV/AIDS trong những giáo phận điển hình.
- Đánh giá chương trình HIV/AIDS đã được phát động tại cuộc hội thảo 2005.
- Thành lập mạng lưới và đề ra chương trình hành động trong công tác phòng chống HIV/AIDS tại những giáo phận tham gia hội thảo.

Cuộc Hội Thảo này được Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt giúp đỡ trong tư cách vừa là chủ nhà vừa là người tổ chức và được tổ chức Caritas Germany tài trợ. Chúng ta sẽ lắng nghe Đức Ông Robert Vitillo đến từ Caritas Internationalis trình bày những vấn đề về HIV/AIDS trên toàn thế giới và đường hướng mục vụ trong việc chăm sóc những người nhiễm HIV cũng như lắng nghe đại biểu của các tổ chức quốc tế trình bày về mối quan tâm của họ đối với vấn đề này. Chúng ta sẽ dành nhiều thời gian để lắng nghe các kinh nghiệm và những khó khăn của những anh chị em đang làm việc trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS cũng như các nghiên cứu của anh chị em bác sĩ để tìm cách áp dụng cho địa phương mình. Chúng ta sẽ không tập trung vào việc báo cáo thành tích trong quá khứ nhưng tìm những biện pháp tích cực cho những hoạt động thực tiễn để áp dụng trong hiện tại và tương lai.

Chúng tôi xin giới thiệu với tham dự viên ông Huber Heindl và cô Đoàn Tâm Đan sẽ giúp điều phối chương trình cho cuộc Hội Thảo này.

Qua bài hát Kinh Chúa Thánh Thần mở đầu, chúng tôi xin Thiên Chúa chúc lành cho cuộc Hội Thảo và cầu mong cho cuộc Hội Thảo thành công tốt đẹp.

Xin chân thành cám ơn toàn thể Quý vị.