Trong khi Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường ASEAN cũng như của việc hợp tác kinh tế - thương mại trong khối, người ta lại nhận thấy một xu hướng gây lo ngại.
Ðó là tỷ trọng thương mại giữa Việt Nam và các nước ASEAN đang ngày càng sụt giảm so với giữa Việt Nam và các nước thuộc các khu vực khác.
Trong một số năm gần đây, tuy giá trị xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước thuộc khối ASEAN vẫn tăng đều thế nhưng so với lượng xuất nhập khẩu mà Việt Nam thực hiện với các nước ngoài khối thì thực tế lại ngày càng giảm.
Vào năm 1998, kim ngạch thương mại với ASEAN chiếm tới 25% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thì 5 năm sau vào năm 2002, tỷ trọng này chỉ còn khoảng 15% .
Các nhà nhập khẩu Việt Nam dường như đang tỏ thái độ hào hứng hơn với các thị trường như Ðài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc. Và về xuất khẩu thì nay Việt Nam đang đặt trọng tâm vào các thị trường như là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên hiệp Châu Âu.
Giải thích về hiện tượng này, tiến sỹ Sompop Manarangsan từ trường đại học Chulalongkorn Thái Lan, một chuyên gia về các vấn đề ASEAN cho rằng, lý do là vì các nước ASEAN hầu như có một nền kinh tế tương tự như nhau.
Tiến sỹ Sompop Manarangsan nói rằng so với thị trường các nước ASEAN thì các thị trường ngoài khối lại tỏ ra là có tính bổ sung cao hơn.
Các nước ASEAN hầu như sản xuất giống nhau và các mặt hàng xuất nhập khẩu cũng tương đồng với nhau. Bởi vậy mà xu hướng một nước như Việt Nam có xuất nhập khẩu nhiều hơn với các nước ngoài khối cũng dễ hiễu.
Theo tiến sỹ Lê Văn Sang, phó viện trưởng Viện kinh tế thế giới của Việt Nam, thì một lý do khác mà các nhà xuất khẩu Việt Nam có thể tỏ ra mặn mà với các thị trường khác, như thị trường châu Âu chẳng hạn, là vì những thị trường này phát triển hơn và ổn định hơn.
Tiến sỹ Sang nói rằng tính ổn định của thị trường Đông Nam Á không thật cao vì từ năm 1997 khắc phục khủng hoảng chưa triệt để lắm. Nền kinh tế của khu vực mới bắt đầu le lói từ từ, xu hướng phát triển chưa nhanh, còn bấp bênh nên đương nhiên thị trường này chưa thể gọi là ổn định được.
Cần phải nói rằng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như hàng dệt may hay da giày thì thực tế các nước khối ASEAN không nhập.
Ngược lại, các mặt hàng Việt Nam cần nhập khẩu thì cũng chủ yếu tới từ các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Ðài Loan và Nhật Bản. Trong năm 2002 bốn nước này là nguồn cung cấp tới một nửa hàng nhập khẩu của Việt Nam.
Tiến sỹ Sompop Manarangsan từ trường Chulalongkorn cảnh báo rằng hiện trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam là chỉ dấu cho một thực tế không mấy lạc quan trong việc hợp tác thương mại ASEAN.
Ông Sompop Manarangsan nói rằng khi nhìn vào mô hình phát triển của khối ASEAN thì người ta có thể thấy cạnh tranh nhiều hơn là hợp tác.
Việc các nước cùng phát triển theo một lộ trình, cùng sản xuất và xuất khẩu cùng một loại mặt hàng sẽ còn gây ra nhiều hạn chế trong tương lai.
Ðó là vấn đề mà các nhà quản lý trong khối phải tập trung nghiên cứu để tìm ra cách đối phó. Nếu không thì khó mà có được một sự phát triển bền vững cùng với nhau.(BBC)
Ðó là tỷ trọng thương mại giữa Việt Nam và các nước ASEAN đang ngày càng sụt giảm so với giữa Việt Nam và các nước thuộc các khu vực khác.
Trong một số năm gần đây, tuy giá trị xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước thuộc khối ASEAN vẫn tăng đều thế nhưng so với lượng xuất nhập khẩu mà Việt Nam thực hiện với các nước ngoài khối thì thực tế lại ngày càng giảm.
Vào năm 1998, kim ngạch thương mại với ASEAN chiếm tới 25% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thì 5 năm sau vào năm 2002, tỷ trọng này chỉ còn khoảng 15% .
Các nhà nhập khẩu Việt Nam dường như đang tỏ thái độ hào hứng hơn với các thị trường như Ðài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc. Và về xuất khẩu thì nay Việt Nam đang đặt trọng tâm vào các thị trường như là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên hiệp Châu Âu.
Giải thích về hiện tượng này, tiến sỹ Sompop Manarangsan từ trường đại học Chulalongkorn Thái Lan, một chuyên gia về các vấn đề ASEAN cho rằng, lý do là vì các nước ASEAN hầu như có một nền kinh tế tương tự như nhau.
Tiến sỹ Sompop Manarangsan nói rằng so với thị trường các nước ASEAN thì các thị trường ngoài khối lại tỏ ra là có tính bổ sung cao hơn.
Các nước ASEAN hầu như sản xuất giống nhau và các mặt hàng xuất nhập khẩu cũng tương đồng với nhau. Bởi vậy mà xu hướng một nước như Việt Nam có xuất nhập khẩu nhiều hơn với các nước ngoài khối cũng dễ hiễu.
Theo tiến sỹ Lê Văn Sang, phó viện trưởng Viện kinh tế thế giới của Việt Nam, thì một lý do khác mà các nhà xuất khẩu Việt Nam có thể tỏ ra mặn mà với các thị trường khác, như thị trường châu Âu chẳng hạn, là vì những thị trường này phát triển hơn và ổn định hơn.
Tiến sỹ Sang nói rằng tính ổn định của thị trường Đông Nam Á không thật cao vì từ năm 1997 khắc phục khủng hoảng chưa triệt để lắm. Nền kinh tế của khu vực mới bắt đầu le lói từ từ, xu hướng phát triển chưa nhanh, còn bấp bênh nên đương nhiên thị trường này chưa thể gọi là ổn định được.
Cần phải nói rằng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như hàng dệt may hay da giày thì thực tế các nước khối ASEAN không nhập.
Ngược lại, các mặt hàng Việt Nam cần nhập khẩu thì cũng chủ yếu tới từ các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Ðài Loan và Nhật Bản. Trong năm 2002 bốn nước này là nguồn cung cấp tới một nửa hàng nhập khẩu của Việt Nam.
Tiến sỹ Sompop Manarangsan từ trường Chulalongkorn cảnh báo rằng hiện trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam là chỉ dấu cho một thực tế không mấy lạc quan trong việc hợp tác thương mại ASEAN.
Ông Sompop Manarangsan nói rằng khi nhìn vào mô hình phát triển của khối ASEAN thì người ta có thể thấy cạnh tranh nhiều hơn là hợp tác.
Việc các nước cùng phát triển theo một lộ trình, cùng sản xuất và xuất khẩu cùng một loại mặt hàng sẽ còn gây ra nhiều hạn chế trong tương lai.
Ðó là vấn đề mà các nhà quản lý trong khối phải tập trung nghiên cứu để tìm ra cách đối phó. Nếu không thì khó mà có được một sự phát triển bền vững cùng với nhau.(BBC)