NGHĨ GÌ VỀ CAO TRÀO GIÁO DÂN?
Phải nói là cao trào, vì tư sau Công đồng đến nay, giáo dân được đề cao và khuyến khích tham gia vào các công việc của Hội thánh, chung vai sát cánh với các linh mục. Nhà thần học Yves Congar đã coi linh mục và giáo dân như cặp bài trùng và trong tác phẩm Những chặng đường tiến tơi một nền thần học giáo dân (Jalons pour une théologie du laicat) tác giả đã vạch ra những cột mốc cho giao dân dựa vào để hoạt động. Hồng Y Suénens người Bỉ cũng đã viết một cuốn sách đề là Giáo dân đứng hàng đầu để cho thấy vai trò và vi trí của người giáo dân trong Hội thánh ngày nay. Rồi việc phục hồi chức thầy sáu vĩnh viễn cũng là một hành vi và cử chỉ coi trọng vai trò giáo dân, nghĩa là lựa chọn từ trong giáo dân những thành phân đích đáng có khả năng làm công việc này.
Như vậy, từ sau Công đồng Va-ti-ca-nô II đã có nhiều thay đổi với giáo dân. Bây giờ họ là những người được thức tỉnh và sự thức tỉnh ấy là một dấu chỉ mới trong Hội thánh. Nghĩa là thế nào? Thưa nghĩa là giáo dân thấy rằng mình cùng có trách nhiệm với hàng giáo sĩ và cùng cảm thông với Hội thánh trong công việc tông đồ. Có nhiều sự việc xẩy ra làm chứng điều này.
1. Các sự việc
1.1 Các Hội thánh địa phương, đa số là những Hội thánh trẻ có một sức sống mạnh mẽ, phần lớn là nhờ ở tinh thần cùng chia sẻ trách nhiệm của giáo dân nam nữ. Các giáo dân này hiểu biết bổn phận là người có đạo của mình, và bằng lòng nhận làm những công việc tông đồ thích hợp với giới của mình. Các cố gắng tạo bầu khí mới, cải tiến nội bộ, đổi mới đường lối truyền giáo đã được khơi lên và đem ra thực hành, thường là nhờ giáo dân biết đối thoại và hợp tác với các linh mục có trách nhiệm.
1.2 Sự kiện giáo dân ngày càng nhận làm nhiều công việc trong các cộng đồng Ki-tô hữu có một tầm quan trọng đặc biệt. Số giáo dân làm những công việc này mỗi ngày một tăng thêm. Phần đông các linh mục có trách nhiệm về họ đều công nhận và tán thành những công việc của ho. Cũng đang tăng thêm các giáo dân dạy giáo lý và loan báo Tin Mừng bằng nhiều hình thức khác nhau, học hỏi và dạy thần học, hướng dẫn và linh hoạt cộng đoàn, quản trị tài chánh và làm công tác xã hội.
1.3 Về mặt thần học, giáo hội học và mục vụ, sự gia tăng con số giáo dân ở các nước tiên tiến đóng vai trò lãnh đạo thật rất có ý nghĩa. Đây hoàn toàn không phải là một công việc lãnh đạo để bù vào sự thiếu vắng linh mục, hay gạt linh mục ra bên lề mà là sự lãnh đạo của những người giáo dân, nhờ ơn thánh đặc biệt làm cho họ cảm thấy mình được mời gọi trở nên những người dơn đốc sinh hoạt trong các cộng đồng Ki-tô hữu, bằng sự cầu nguyện, chia sẻ lời Chúa và dấn thân vào các lãnh vực xã hội và chính trị.
1.4 Trong cuộc thức tỉnh của người giáo dân, sự hiện diện của phụ nữ sau nhiều thế kỷ phải im hơi lặng tiếng và đứng bên lề, có một tầm quan trọng đáng lưu tâm đặc biệt. Những tài năng tự nhiên và đặc sủng của họ đang thổi một luồng sinh khí mới vào cộng đồng và cho thấy một bộ mặt mới của Ki-tô giáo. Nhận th?c tinh tế của họ về những gi` la` thực tiễn, khả năng nhậy cảm của nữ tính, bản năng làm mẹ, sức kiên trì chịu đựng, tất cả đều biểu lộ những góc cạnh bấy lâu còn bị ẩn giấu.
Những hiện tượng trên đã tạo ra một sự hợp tác ngày càng gia tăng giữa giáo dân, tu sĩ và linh mục về các lãnh vực khác nhau trong đời sống của Hội thánh. Các tu sĩ nam nữ năng chia sẻ những chương trình hoạt động tông đồ của Dòng mình với các tu sĩ khác, với các giáo dân nam nữ có gia đình hay sống độc thân. Gíáo dân không còn đơn thuần là những người đón nhận sứ vụ của linh mục mà chia sẻ với linh mục và linh mục chia sẻ với họ trách nhiệm đích thực này trong cộng đồng Ki-tô hữu.
Trước thực tại này của Hội thánh, thiết tưởng các linh mu?c nên đặt ra cho mình một số câu hỏi như:
* Phải đón nhận và phản ứng thế nào trước sự thức tỉnh của giáo dân?
* Có vui lòng đón nhận những sự kiện đó không hay làm ngơ vì tự mãn? Có chối bỏ vì sợ hãi không?
* Có những thái độ và hành động nào trong các mối liên lạc với giáo dân? * Giáo dân có vị trí nào trong tác vụ tông đồ của linh mục?
2. Phải làm gì với giáo dân?
Phải khai mở và củng cố những thực hành mới của Hội thánh nhằm đưa giáo dân vào cộng tác trong sứ vụ của Hội thánh. Việc cầu nguyện chung với giáo dân cung cấp cho họ sự phong phú của một hình thức cầu nguyện từng được bảo đảm qua bao thế kỷ, đồng thời cũng rút ra được từ nơi ho sự mới mẻ và tươi sáng của những kinh nghiệm trong đời sống Ki-tô hữu. Một số cộng đoàn tu sĩ có thể được tăng sinh lực trong việc cầu nguyện, nếu để cho giáo dân cùng tham dự.
Cũng cần phải biết bắt đầu và nâng đỡ những kiểu cách mới trong việc nghiên cứu học hỏi với sự hợp tác của giáo dân. Công việc này không thể hướng theo một chiều như thể linh mục là thày và giáo dân là môn sinh mà phải cùng chia sẻ và tương trợ lẫn nhau. Lời Chúa không th? bị trói buộc mà phải mở ra cho mọi tín hữu lắng nghe và tìm hiểu. Các linh mục có thể đem lại cho giáo dân sự phong phú của khoa thần học mình đã được hấp thụ, nhưng cũng phải học cho biết nghe để làm cho mình nên phong phú nhờ đối thoại với tín hữu.
Như vậy, sự hợp tác giữa linh mục và giáo dân là cần thiết và bổ ích..Giáo dân đón nhận sự tín nhiệm và lời mời gọi của linh mục một cách chân thành và khiêm tốn. Linh mục coi trọng khả năng chuyên môn và lòng tận tâm của giáo dân. Cả hai cùng đồng lao cộng tác trong việc phụng thờ Chúa và muu ích cho các linh hồn.
Phải nói là cao trào, vì tư sau Công đồng đến nay, giáo dân được đề cao và khuyến khích tham gia vào các công việc của Hội thánh, chung vai sát cánh với các linh mục. Nhà thần học Yves Congar đã coi linh mục và giáo dân như cặp bài trùng và trong tác phẩm Những chặng đường tiến tơi một nền thần học giáo dân (Jalons pour une théologie du laicat) tác giả đã vạch ra những cột mốc cho giao dân dựa vào để hoạt động. Hồng Y Suénens người Bỉ cũng đã viết một cuốn sách đề là Giáo dân đứng hàng đầu để cho thấy vai trò và vi trí của người giáo dân trong Hội thánh ngày nay. Rồi việc phục hồi chức thầy sáu vĩnh viễn cũng là một hành vi và cử chỉ coi trọng vai trò giáo dân, nghĩa là lựa chọn từ trong giáo dân những thành phân đích đáng có khả năng làm công việc này.
Như vậy, từ sau Công đồng Va-ti-ca-nô II đã có nhiều thay đổi với giáo dân. Bây giờ họ là những người được thức tỉnh và sự thức tỉnh ấy là một dấu chỉ mới trong Hội thánh. Nghĩa là thế nào? Thưa nghĩa là giáo dân thấy rằng mình cùng có trách nhiệm với hàng giáo sĩ và cùng cảm thông với Hội thánh trong công việc tông đồ. Có nhiều sự việc xẩy ra làm chứng điều này.
1. Các sự việc
1.1 Các Hội thánh địa phương, đa số là những Hội thánh trẻ có một sức sống mạnh mẽ, phần lớn là nhờ ở tinh thần cùng chia sẻ trách nhiệm của giáo dân nam nữ. Các giáo dân này hiểu biết bổn phận là người có đạo của mình, và bằng lòng nhận làm những công việc tông đồ thích hợp với giới của mình. Các cố gắng tạo bầu khí mới, cải tiến nội bộ, đổi mới đường lối truyền giáo đã được khơi lên và đem ra thực hành, thường là nhờ giáo dân biết đối thoại và hợp tác với các linh mục có trách nhiệm.
1.2 Sự kiện giáo dân ngày càng nhận làm nhiều công việc trong các cộng đồng Ki-tô hữu có một tầm quan trọng đặc biệt. Số giáo dân làm những công việc này mỗi ngày một tăng thêm. Phần đông các linh mục có trách nhiệm về họ đều công nhận và tán thành những công việc của ho. Cũng đang tăng thêm các giáo dân dạy giáo lý và loan báo Tin Mừng bằng nhiều hình thức khác nhau, học hỏi và dạy thần học, hướng dẫn và linh hoạt cộng đoàn, quản trị tài chánh và làm công tác xã hội.
1.3 Về mặt thần học, giáo hội học và mục vụ, sự gia tăng con số giáo dân ở các nước tiên tiến đóng vai trò lãnh đạo thật rất có ý nghĩa. Đây hoàn toàn không phải là một công việc lãnh đạo để bù vào sự thiếu vắng linh mục, hay gạt linh mục ra bên lề mà là sự lãnh đạo của những người giáo dân, nhờ ơn thánh đặc biệt làm cho họ cảm thấy mình được mời gọi trở nên những người dơn đốc sinh hoạt trong các cộng đồng Ki-tô hữu, bằng sự cầu nguyện, chia sẻ lời Chúa và dấn thân vào các lãnh vực xã hội và chính trị.
1.4 Trong cuộc thức tỉnh của người giáo dân, sự hiện diện của phụ nữ sau nhiều thế kỷ phải im hơi lặng tiếng và đứng bên lề, có một tầm quan trọng đáng lưu tâm đặc biệt. Những tài năng tự nhiên và đặc sủng của họ đang thổi một luồng sinh khí mới vào cộng đồng và cho thấy một bộ mặt mới của Ki-tô giáo. Nhận th?c tinh tế của họ về những gi` la` thực tiễn, khả năng nhậy cảm của nữ tính, bản năng làm mẹ, sức kiên trì chịu đựng, tất cả đều biểu lộ những góc cạnh bấy lâu còn bị ẩn giấu.
Những hiện tượng trên đã tạo ra một sự hợp tác ngày càng gia tăng giữa giáo dân, tu sĩ và linh mục về các lãnh vực khác nhau trong đời sống của Hội thánh. Các tu sĩ nam nữ năng chia sẻ những chương trình hoạt động tông đồ của Dòng mình với các tu sĩ khác, với các giáo dân nam nữ có gia đình hay sống độc thân. Gíáo dân không còn đơn thuần là những người đón nhận sứ vụ của linh mục mà chia sẻ với linh mục và linh mục chia sẻ với họ trách nhiệm đích thực này trong cộng đồng Ki-tô hữu.
Trước thực tại này của Hội thánh, thiết tưởng các linh mu?c nên đặt ra cho mình một số câu hỏi như:
* Phải đón nhận và phản ứng thế nào trước sự thức tỉnh của giáo dân?
* Có vui lòng đón nhận những sự kiện đó không hay làm ngơ vì tự mãn? Có chối bỏ vì sợ hãi không?
* Có những thái độ và hành động nào trong các mối liên lạc với giáo dân? * Giáo dân có vị trí nào trong tác vụ tông đồ của linh mục?
2. Phải làm gì với giáo dân?
Phải khai mở và củng cố những thực hành mới của Hội thánh nhằm đưa giáo dân vào cộng tác trong sứ vụ của Hội thánh. Việc cầu nguyện chung với giáo dân cung cấp cho họ sự phong phú của một hình thức cầu nguyện từng được bảo đảm qua bao thế kỷ, đồng thời cũng rút ra được từ nơi ho sự mới mẻ và tươi sáng của những kinh nghiệm trong đời sống Ki-tô hữu. Một số cộng đoàn tu sĩ có thể được tăng sinh lực trong việc cầu nguyện, nếu để cho giáo dân cùng tham dự.
Cũng cần phải biết bắt đầu và nâng đỡ những kiểu cách mới trong việc nghiên cứu học hỏi với sự hợp tác của giáo dân. Công việc này không thể hướng theo một chiều như thể linh mục là thày và giáo dân là môn sinh mà phải cùng chia sẻ và tương trợ lẫn nhau. Lời Chúa không th? bị trói buộc mà phải mở ra cho mọi tín hữu lắng nghe và tìm hiểu. Các linh mục có thể đem lại cho giáo dân sự phong phú của khoa thần học mình đã được hấp thụ, nhưng cũng phải học cho biết nghe để làm cho mình nên phong phú nhờ đối thoại với tín hữu.
Như vậy, sự hợp tác giữa linh mục và giáo dân là cần thiết và bổ ích..Giáo dân đón nhận sự tín nhiệm và lời mời gọi của linh mục một cách chân thành và khiêm tốn. Linh mục coi trọng khả năng chuyên môn và lòng tận tâm của giáo dân. Cả hai cùng đồng lao cộng tác trong việc phụng thờ Chúa và muu ích cho các linh hồn.