ĐƯỜNG ĐẾN THÀNH GIÊRUSALEM
Hơn 2000 năm trước, các trẻ em, phụ nữ Do Thái tay cầm lá, trải áo trên đường và đã ca vang khúc khải hoàn khi đón Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem: “Hoan hô con vua Đavít, chúc tụng vua Israen, đấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô. Hoan hô. Trên các tầng trời”. Xa xa là một số các phụ nữ đã đi theo Người trên các nẻo đường đang dõi mắt theo và cùng rảo bước với Chúa Giêsu vào thành Thánh.
Chúa Giêsu đã đăng quang trước đêm tử nạn của Người như thế đó. Trẻ em và phụ nữ là những đối tượng hết sức đơn sơ, nhạy cảm, hết sức yếu đuối, đã nồng nhiệt đón Chúa và tung hô Người như là một vị vua, vị cúu tinh của dân tộc Israen. Dường như bằng Tình yêu và sự Đơn sơ, họ đã nhận ra chính Ngài.
Thế còn những nhà thông thái, những luật sỹ, giới chức đã nhìn Chúa Giêsu thế nào? Chúa Giêsu như cái gai trong mắt họ. Chúa Giêsu là một kẻ tạo phản, một kẻ quấy rối, vì chỉ duy nhất Ngài dám vạch trần bộ mặt giả dối của họ. Ngay các Tông đồ đã theo Ngài trong suốt 03 năm ròng rã cũng không thể hiểu thực sự Ngài là ai, ngay cả sau phiên tòa xử Ngài và cái chết bi thảm của Ngài. Riêng Chúa Giêsu đã biết rõ con đường Ngài sẽ đi: Bắt đầu từ thành Giêrusalem, đến phiên tòa giả dối và đến chân núi Sọ.
Bằng những cách nhìn khác nhau, bằng những quan niệm khác nhau nhưng những nhà thông thái, biệt phái, luật sỹ và cho đến các tông đồ của Ngài không thể hiểu được một vị vua, một vị cứu tinh của dân tộc Do Thái là một con người “kém cỏi” như thế. Vì vậy mà tất cả đã chống lại Ngài trong một phiên toà giả dối và bất công, chỉ trừ những trẻ nhỏ và một số các người phụ nữ đã theo Ngài (tuy nhiên họ không thể bảo vệ được Ngài vì họ yếu đuối). Các tông đồ bỏ trốn hết, môn đệ Phêrô đã chối Ngài. Ngài đã bị thế gian xử tử hình một cách bất công. Giả dối, thiếu Tình yêu và sự đơn sơ, nhãn quan thế gian đã không thể nhận ra Ngài và càng không thể chấp nhận chung sống với Ngài, vì chưa bao giờ thế gian đã chứng kiến một quan điểm như Ngài: Cứu chuộc thế gian bằng Tình yêu và sự tha thứ, yêu đến mức hiến mạng sống cho người mình yêu.
Bức màn bí mật chỉ được từ từ hạ xuống sau sự kiện Phục sinh của Ngài. Hình ảnh Ngài sống lại bừng sáng, sống động và bình an trên khu mộ là một minh chứng đầy sức thuyết phục và chắc chắn về sứ mệnh cứu tinh của Ngài. Quan điểm của nhân loại đến lúc đó cần phải được thay đổi qua sự kiện chết và Phục sinh của Ngài vì Tình yêu và sự tha thứ có giá trị hơn bất cứ sức mạnh và đạo binh nào, thế gian không thể thắng nổi. Và trong sự Phục sinh của Ngài thì Tình yêu còn mạnh hơn cả cái chết. Trên con đường tiến về Giêrusalem trong niềm vui và tiếng tung hô của các em bé, bằng Tình yêu cứu chuộc nhân loại Chúa Giêsu đã chiến thắng sợ hãi, chiến thắng sự chết, chiến thắng thế gian để reo rắc tình yêu trên khắp vũ trụ. Không có con đường cứu chuộc nào khác ngoài Tình yêu.
Để đồng hành với Chúa Giêsu trên con đường tiến về thành Thánh, không thể có chỗ cho sự giả dối, vị kỷ, thù hận mà đó phải là Đức Tin, sự Đơn sơ, Tình yêu và sự Tha thứ.
Hơn 2000 năm trước, các trẻ em, phụ nữ Do Thái tay cầm lá, trải áo trên đường và đã ca vang khúc khải hoàn khi đón Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem: “Hoan hô con vua Đavít, chúc tụng vua Israen, đấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô. Hoan hô. Trên các tầng trời”. Xa xa là một số các phụ nữ đã đi theo Người trên các nẻo đường đang dõi mắt theo và cùng rảo bước với Chúa Giêsu vào thành Thánh.
Chúa Giêsu đã đăng quang trước đêm tử nạn của Người như thế đó. Trẻ em và phụ nữ là những đối tượng hết sức đơn sơ, nhạy cảm, hết sức yếu đuối, đã nồng nhiệt đón Chúa và tung hô Người như là một vị vua, vị cúu tinh của dân tộc Israen. Dường như bằng Tình yêu và sự Đơn sơ, họ đã nhận ra chính Ngài.
Thế còn những nhà thông thái, những luật sỹ, giới chức đã nhìn Chúa Giêsu thế nào? Chúa Giêsu như cái gai trong mắt họ. Chúa Giêsu là một kẻ tạo phản, một kẻ quấy rối, vì chỉ duy nhất Ngài dám vạch trần bộ mặt giả dối của họ. Ngay các Tông đồ đã theo Ngài trong suốt 03 năm ròng rã cũng không thể hiểu thực sự Ngài là ai, ngay cả sau phiên tòa xử Ngài và cái chết bi thảm của Ngài. Riêng Chúa Giêsu đã biết rõ con đường Ngài sẽ đi: Bắt đầu từ thành Giêrusalem, đến phiên tòa giả dối và đến chân núi Sọ.
Bằng những cách nhìn khác nhau, bằng những quan niệm khác nhau nhưng những nhà thông thái, biệt phái, luật sỹ và cho đến các tông đồ của Ngài không thể hiểu được một vị vua, một vị cứu tinh của dân tộc Do Thái là một con người “kém cỏi” như thế. Vì vậy mà tất cả đã chống lại Ngài trong một phiên toà giả dối và bất công, chỉ trừ những trẻ nhỏ và một số các người phụ nữ đã theo Ngài (tuy nhiên họ không thể bảo vệ được Ngài vì họ yếu đuối). Các tông đồ bỏ trốn hết, môn đệ Phêrô đã chối Ngài. Ngài đã bị thế gian xử tử hình một cách bất công. Giả dối, thiếu Tình yêu và sự đơn sơ, nhãn quan thế gian đã không thể nhận ra Ngài và càng không thể chấp nhận chung sống với Ngài, vì chưa bao giờ thế gian đã chứng kiến một quan điểm như Ngài: Cứu chuộc thế gian bằng Tình yêu và sự tha thứ, yêu đến mức hiến mạng sống cho người mình yêu.
Bức màn bí mật chỉ được từ từ hạ xuống sau sự kiện Phục sinh của Ngài. Hình ảnh Ngài sống lại bừng sáng, sống động và bình an trên khu mộ là một minh chứng đầy sức thuyết phục và chắc chắn về sứ mệnh cứu tinh của Ngài. Quan điểm của nhân loại đến lúc đó cần phải được thay đổi qua sự kiện chết và Phục sinh của Ngài vì Tình yêu và sự tha thứ có giá trị hơn bất cứ sức mạnh và đạo binh nào, thế gian không thể thắng nổi. Và trong sự Phục sinh của Ngài thì Tình yêu còn mạnh hơn cả cái chết. Trên con đường tiến về Giêrusalem trong niềm vui và tiếng tung hô của các em bé, bằng Tình yêu cứu chuộc nhân loại Chúa Giêsu đã chiến thắng sợ hãi, chiến thắng sự chết, chiến thắng thế gian để reo rắc tình yêu trên khắp vũ trụ. Không có con đường cứu chuộc nào khác ngoài Tình yêu.
Để đồng hành với Chúa Giêsu trên con đường tiến về thành Thánh, không thể có chỗ cho sự giả dối, vị kỷ, thù hận mà đó phải là Đức Tin, sự Đơn sơ, Tình yêu và sự Tha thứ.