Chương 20: CALVIN BIẾN PHONG TRÀO THỆ PHẢN THÀNH MỘT PHONG TRÀO QUỐC TẾ



John Calvin, kiến trúc sư của Thệ Phản quốc tế, sinh ra tại Novon, Pháp, ngày 10 tháng 7 năm 1509, con trai của một công chứng viên, Gérard Cauvin (Calvin là dạng La-tinh hóa), và vợ ông, Jeanne Lefranc. Nhờ các khoản trợ cấp của Giáo hội, Calvin đã học thần học ở Paris để chuẩn bị cho chức linh mục và sau đó chuyển sang học luật và ngôn ngữ cổ điển, mà ông theo đuổi dưới sự hướng dẫn của một số giáo sư nổi tiếng nhất thời bấy giờ tại Orléans và Bourges. Calvin luôn khá kín đáo về chi tiết lịch sử bản thân của mình và không bao giờ nói nhiều về sự phát triển tâm linh dẫn đến việc ông cải sang Thệ Phản vào năm 1533 hoặc 1534. Tuy nhiên, bức thư hồi ký gửi Hồng Y Sadoleto (1539) đã hé lộ một số thông tin về vấn đề này, đặc biệt là đoạn ông kể câu chuyện về một sự hoán cải giả định sang đức tin Thệ Phản, rất có thể được rút ra từ kinh nghiệm của chính ông. Người hoán cải được đề cập ở trên cho rằng sự thay đổi lòng trung thành tôn giáo của mình là do một số lý do: việc ông không tìm thấy sự bình an trong lương tâm thông qua hệ thống đền tội thời trung cổ và nỗi kinh hoàng trong tâm hồn ông trước tình trạng này; sự an ủi mà giáo lý mới và rất khác biệt về sự đầy đủ của công trình đền tội của Chúa Kitô mang lại; niềm tin rằng mục đích của những người cải cách nhằm sửa chữa những lạm dụng trong Giáo hội không phải là ly giáo; và cuối cùng là niềm tin của ông rằng ngôi vị giáo hoàng không được Kinh Thánh biện minh mà là một chế độ chuyên chế dựa trên những tuyên bố trống rỗng. (80)

Nhà cải cách Thệ Phản John Calvin (1509–64) khi còn trẻ. Trường phái Flemish. Thư viện Công cộng và Đại học, Geneva. © Erich Lessing/Art Resource, New York.


Dù sao thì Calvin cũng hăng hái cống hiến hết mình cho tôn giáo mới của mình và nhanh chóng trở thành người đi đầu trong phong trào Thệ Phản ở Pháp. Việc tán thành tư tưởng Luther vào thời điểm đó dưới triều đại của Vua Công Giáo, Francis I, là tự rước họa vào thân và điều đó đã không lâu sau xảy ra. Calvin nhận thấy tình hình ở Pháp không thể duy trì được, đặc biệt là sau Vụ việc những tấm áp phích, một sự kiện xảy ra vào tháng 10 năm 1534 khi một số người theo Thệ Phản nhiệt thành dán đầy các tấm áp phích lên án Thánh lễ khắp Paris. Chính quyền đã có những biện pháp nghiêm khắc chống lại những kẻ dị giáo và danh sách những người tử đạo Thệ Phản bắt đầu dài ra. Không muốn thêm tên mình vào danh sách đó, Calvin đã tìm nơi ẩn náu ở Basel.

Chính tại đây vào năm 1536, ông đã xuất bản bằng tiếng La-tinh ấn bản đầu tiên của tác phẩm "Các thể chế của Kitô giáo", một cuốn cẩm nang rõ ràng về giáo lý Thệ Phản, ngay lập tức đưa ông lên vị trí nổi bật trong số các nhà lãnh đạo của phong trào cải cách. Đó là một cuốn sách tiếp tục phát triển về quy mô qua nhiều năm khi Calvin dịch nó sang tiếng Pháp và liên tục sửa đổi và mở rộng nó. Đó là một cuốn sách hiếm có đối thủ nào sánh kịp về tầm ảnh hưởng to lớn của nó đối với lịch sử phương Tây và lý thuyết giáo hội và chính trị.

Ngay sau đó, Calvin lên đường đến thăm Ferrara, nơi những mầm mống của một phong trào cải cách Ý đang bắt đầu nảy nở. Sau chuyến trở về Paris ngắn ngủi, ông lên đường đến Strassbourg vào tháng 6 năm 1536 với ý định sống một cuộc đời yên tĩnh với công việc học tập và viết lách ủng hộ chính nghĩa Thệ Phản. Nhưng một chuyến đi tình cờ qua Geneva đã đưa cuộc đời ông rẽ sang một hướng hoàn toàn khác. Trong khi dừng chân tại Geneva, ông được nhà cải cách Thệ Phản Guillaume Farel thuyết phục ở lại và tham gia vào cuộc đấu tranh để biến Geneva thành một cộng đồng Thệ Phản năng động. Farel và những người đồng hành của ông đã chiếm ưu thế nhờ những bài thuyết giảng đầy nhiệt huyết và khả năng đánh bại các đối thủ Công Giáo trong các cuộc tranh luận công khai. Giám mục Công Giáo đã bị trục xuất, Thánh lễ bị đình chỉ, và một loạt các quy định được thông qua nhằm áp đặt cuộc cải cách lên người dân. Nhưng sự phản đối vẫn còn mạnh mẽ và Farel nhìn thấy ở Calvin người phù hợp với thời cơ và cầu xin ông ở lại để hoàn thành công việc.

Sau một hồi do dự, Calvin đã chấp nhận lời đề nghị của Farel và bắt tay vào nhiệm vụ tạo ra, theo lời ông, một Giáo hội “có trật tự và quy củ”. (81) Ông đã soạn thảo một bản tuyên xưng đức tin để mỗi công dân ký tên, cho thấy liệu họ thuộc về vương quốc của Giáo hoàng hay vương quốc của Chúa Giêsu Kitô. Các quy tắc đã được soạn thảo cho việc cử hành Bữa Ăn Tối của Chúa một cách đúng đắn và thường xuyên, và một hệ thống kỷ luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của người dân Geneva đến từng chi tiết nhỏ. Tuy nhiên, khi Calvin và các cộng sự yêu cầu quyền của Giáo hội để thực thi kỷ luật bằng hình phạt vạ tuyệt thông, các quan chức chính quyền đã phản đối, coi đây là một động thái nhằm biến Giáo hội thành một thế lực độc lập. Những vấn đề khác cũng gây căng thẳng, và sự phản đối đối với những người cải cách lên đến tuyêt đỉnh khi một tranh chấp nảy sinh về một số nghi thức phụng vụ (chẳng hạn như việc sử dụng bể rửa tội) mà người dân Geneva đã khôi phục dưới áp lực từ thành phố Bern lân cận. Calvin coi sự can thiệp này của Bern là sự vi phạm quyền tự trị của Giáo hội Geneva và kiên quyết chống lại động thái này. Kết quả là, Calvin, Farel và các cộng sự của họ đã bị trục xuất khỏi thành phố.

Từ năm 1538 đến năm 1541, Calvin cư trú tại Strassbourg, nơi ông đến thăm theo lời mời của Martin Bucer, một nhà thuyết giáo Thệ Phản nguyên thuộc dòng Đa Minh, người có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển thần học sau này của Calvin. Chính dưới ảnh hưởng của Bucer mà Calvin đã định hình hình thức thờ phượng công cộng, vốn trở thành tiêu chuẩn cho các nhà thờ Calvin. Phản đối việc quá chú trọng vào các nghi lễ trong Giáo hội Rô-ma, Calvin đã nghĩ ra một nghi thức cực kỳ đơn giản nhưng vẫn giữ được bố cục của Thánh lễ Rô-ma. Trong thời gian ở Strassbourg, ông cũng đã sửa đổi và xuất bản một ấn bản mới của tác phẩm "Các Thể chế" (Institutes), bắt đầu loạt sách Chú giải Kinh Thánh xuất sắc của mình, cuối cùng bao gồm tất cả các tác phẩm của Tân Ước và hầu hết các tác phẩm trong Cựu Ước. Ông cũng tham dự các cuộc hội thảo tại Worms năm 1540 và Regensburg năm 1541, do Hoàng đế Charles V triệu tập, nhằm nỗ lực hàn gắn sự chia rẽ tôn giáo, mặc dù bản thân Calvin không nghĩ rằng chúng có nhiều cơ hội thành công. Năm 1540, ông kết hôn với Idelette xứ Buren, góa phụ của một trong những người cải đạo của ông. Con trai duy nhất của họ qua đời ngay sau khi sinh.

Trong khi đó, Geneva vẫn trong tình trạng hỗn loạn, vẫn chia rẽ về những vấn đề đã buộc Calvin phải rời đi. Cuối cùng, những người ủng hộ ông đã giành được ưu thế và thành phố quyết định mời Calvin trở lại. Với nhiều lo ngại, nhưng được thúc đẩy bởi cảm giác về ơn gọi thần thiêng, Calvin đã trở lại thành phố đang gặp khó khăn vào ngày 13 tháng 9 năm 1541. Ông ngay lập tức bắt tay vào việc biến thành phố có mười ba nghìn cư dân thành một Giáo hội cải cách thực sự và một cộng đồng có kỷ luật đúng đắn. Với bản kế hoạch cho dự án này đã được hình thành rõ ràng trong tâm trí, chỉ trong vài tháng, ông đã có thể trình bày Quy chế Giáo hội của mình cho Hội đồng Tổng quát Geneva, và họ đã chính thức thông qua vào Chúa nhật, ngày 20 tháng 11, với những sửa đổi để bảo vệ quyền tài phán dân sự của riêng họ. Cùng với Các Thể chế, thiết kế cho một cộng đồng Kitô giáo lý tưởng này là đóng góp lâu dài của Calvin cho Kitô giáo, vì hiến pháp của ông đã trở thành nền tảng tổ chức cho tất cả các Giáo hội chấp nhận giáo lý Calvin. Khi soạn thảo Hiến pháp, Calvin hướng đến việc tái hiện càng nhiều càng tốt cấu trúc Giáo hội mà ông tìm thấy trong Tân Ước. Bốn chức vụ được thiết lập: mục tử, giáo viên, trưởng lão và phó tế. Kỷ luật nghiêm khắc là chìa khóa thành công trong suy nghĩ của Calvin và ông giao nhiệm vụ kỷ luật cộng đồng cho một cơ quan gọi là Công nghị (consistory), bao gồm các mục tử và trưởng lão. Họ có nhiệm vụ giám sát chặt chẽ hành vi của các công dân, những người, nếu cần thiết, có thể bị chính quyền dân sự khai trừ khỏi Giáo hội.

Việc ban hành luật lệ điều chỉnh chặt chẽ hành vi cá nhân không phải là đặc điểm bất thường của đời sống thị trấn thời trung cổ. Điều làm cho Geneva trở nên độc đáo vào thời điểm này là tính nhất quán và nghiêm khắc trong việc thực thi luật pháp. Biên bản của Công nghị cho thấy người dân bị đưa ra trước các trưởng lão và quan tòa ngay cả vì những lỗi nhỏ nhặt: cười trong khi nghe giảng, hát những bài hát phỉ báng Calvin, nhảy múa hoặc lui tới gặp thầy bói. Đời sống công cộng của Geneva dần dần bắt đầu thay đổi dưới chế độ nghiêm khắc này. Nạn mại dâm, một đặc điểm tai tiếng của Geneva trước thời Calvin, đã bị xóa bỏ, nhà hát bị đóng cửa, và án tử hình được quy định cho tội ngoại tình và thực tế đã được thi hành trong một số trường hợp.

Calvin đôi khi bị buộc tội cai trị Geneva như một nhà độc tài. Quả thực, đó là một cách gọi sai, bởi vì Calvin không giữ chức vụ chính trị nào và không sử dụng bất cứ phương tiện nào khác ngoài sức mạnh đạo đức thuần túy để áp đặt ý tưởng về cuộc sống tốt đẹp của mình lên Geneva. Hơn nữa, ông thường xuyên có nguy cơ mất quyền lực đối với thành phố, vì ông có rất nhiều kẻ thù ghét chế độ cứng rắn của ông hoặc không đồng ý với cách giải thích Lời Chúa của ông. Calvin không bao giờ né tránh xung đột và, bất chấp những biến động của dư luận đôi khi chống lại ông, ông luôn tìm cách đánh bại kẻ thù và khôi phục lại quyền lực của mình. Đối đầu với giáo hoàng của Geneva là một trò tiêu khiển nguy hiểm và những người bị đánh bại thường phải trả giá đắt. Ví dụ, Jacques Gruet là một trong những người được gọi là những người theo chủ nghĩa tự do, những người cay đắng phản đối lối sống do Calvin áp đặt. Gruet bị bắt, bị tra tấn theo cách tàn bạo thời đó, và khi có bằng chứng kết tội ông phạm thượng, ông bị chặt đầu. Nhưng nạn nhân nổi tiếng nhất của Calvin là Michael Servetus, bác sĩ người Tây Ban Nha và người chống lại thuyết Ba Ngôi, trong khi chạy trốn khỏi Tòa án Dị giáo Công Giáo, đã vô tình dừng chân ở Geneva, nơi theo lệnh của Calvin, ông bị bắt và sau khi xét xử đã bị thiêu sống vì tội dị giáo.

Thành tựu lớn nhất của Calvin là việc thành lập Học viện Geneva vào năm 1559, chủ yếu nhằm mục đích cung cấp một nền giáo dục toàn diện cho các ứng viên cho thừa tác vụ. Nó trở thành một trung tâm quyền lực cho sự lan rộng của chủ nghĩa Calvin, vì sinh viên của nó đến từ nhiều quốc gia để học thần học của Giáo hội Cải cách tại chính nguồn gốc của nó. Calvin đã phải chịu đựng rất nhiều.

Ông qua đời vì bệnh tật trong những năm cuối đời nhưng vẫn giữ chức vụ cho đến khi qua đời vào năm 1564. Thi thể của ông, theo lời kể của một nhân chứng, “được hầu hết thành phố theo sau, không khỏi rơi nhiều nước mắt.” (82)

Là thiên tài thần học tối cao của phong trào Thệ Phản, Calvin đã đặt nền móng cho những phát triển thần học sau này trong hầu hết các Giáo hội Thệ Phản không thuộc phái Luther. Calvin tự coi mình là người kế thừa Luther và thực sự hoàn toàn đồng ý với Luther về các nguyên tắc cơ bản của Thệ Phản: Kinh Thánh là nguồn duy nhất của chân lý cứu rỗi, sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin, chức tư tế của tất cả các tín hữu. Thật vậy, có thể nói rằng “giáo lý trung tâm của Luther về sự công chính hóa bởi đức tin và sự tái sinh bởi đức tin đã được Calvin bảo tồn một cách trung thực hơn và được diễn đạt mạnh mẽ hơn bất cứ nhà thần học nào khác của cuộc Cải cách.” (83)

Tuy nhiên, khi tư tưởng của ông trưởng thành, ông đã tìm thấy lý do để khác biệt rõ rệt với Luther về một số điểm quan trọng—liên quan đến Bữa Ăn Tối của Chúa, Quy điển Kinh Thánh, tiền định, giáo lý về Giáo hội, Kitô học và các bí tích.

Calvin đôi khi được coi là một nhà tư tưởng có hệ thống chặt chẽ, người đã theo đuổi sự nhất quán luận lý đến mức cực đoan trong việc xây dựng sự tổng hợp các giáo lý Kitô giáo của mình. Thực thế, Calvin tự coi mình, và nên được coi là, trước hết là một nhà giải thích Kinh Thánh bậc thầy, một nhà thần học Kinh Thánh đã cố gắng truyền đạt một cách chính xác và đầy đủ toàn bộ thông điệp mà ông tìm thấy trong Kinh Thánh và nhấn mạnh rất nhiều vào điểm cho rằng Kinh Thánh chứa đựng tất cả những gì cần thiết cho sự cứu rỗi. Ông sắp xếp tài liệu của mình xung quanh các chủ đề lớn mang lại sự thống nhất cho Kinh Thánh mà không cố gắng giải quyết các nghịch lý và mâu thuẫn luận lý được tìm thấy ở đó.

Mặc dù người ta không thể chỉ ra bất cứ một giáo lý nào là nền tảng tư tưởng của ông, nhưng một điểm khởi đầu tốt là sự khẳng định của ông về quyền tối cao tuyệt đối của Thiên Chúa. Một trong những cáo buộc nghiêm trọng nhất mà ông đưa ra đối với Giáo hội Rô-ma là Giáo hội đã thuần hóa (domesticated) Thiên Chúa. Trong mắt Calvin, Thiên Chúa của Giáo hội Rô-ma là “một Thiên Chúa có thể được triệu tập theo lệnh của giáo sĩ, bị giới hạn và bị loại bỏ bởi phản ứng hóa học của axit dạ dày.” (84) Để phản đối, Calvin thường nhấn mạnh đến sự siêu việt tuyệt đối và sự khác biệt hoàn toàn của Thiên Chúa, đến yếu tính mầu nhiệm, không thể hiểu nổi, mục đích không thể dò xét và các sắc lệnh không thể giải mã của Người. Người là một Thiên Chúa ẩn mình. Nhận thức cứu rỗi về Người chỉ có thể được tìm thấy trong Kinh Thánh và điều này chỉ khi chúng ta đọc nó với lòng tôn kính, đức tin và tình yêu thương. Thiên Chúa chỉ bày tỏ chính Người cho chúng ta trong Kinh Thánh thông qua Chúa Giê-su Ki-tô, là cốt lõi và toàn bộ nội dung ý nghĩa của nó.

Làm thế nào chúng ta biết rằng Kinh Thánh là chân lý? Đối với Calvin, chỉ thông qua sự chứng kiến nội tâm của Chúa Thánh Linh mà chúng ta có thể nhận ra trong Kinh Thánh Lời của Thiên Chúa đang nói với chúng ta. Ngược lại, Kinh Thánh làm chứng cho quyền tối cao bao trùm của Thiên Chúa và bày tỏ Người là Đấng Cai Trị, Đấng cai quản mọi sự bằng sự quan phòng của Người. Chính trong bối cảnh này, Calvin đã hình thành nên học thuyết tiền định, một học thuyết bị chỉ trích gay gắt, theo đó, bằng sắc lệnh vĩnh cửu của Thiên Chúa, một số người được định sẵn một cách chắc chắn để hưởng sự sống đời đời và những người khác chắc chắn để chịu hình phạt đời đời. Đây là điểm yếu chí mạng trong thần học của ông và là mục tiêu của tất cả những người phản đối ông. Mặc dù đúng là ở đây Calvin đã vượt ra ngoài những yêu cầu rõ ràng của Kinh Thánh, chúng ta phải nhớ rằng ông cảm thấy buộc phải khẳng định học thuyết tiền định để bảo vệ một trong những mối quan tâm chính của mình, đó là tính chất tuyệt đối vô điều kiện của ân sủng cứu rỗi của Thiên Chúa - hoàn toàn không phụ thuộc vào công đức hay việc làm của chúng ta.

Trong học thuyết về tội nguyên tổ, cũng như ở những nơi khác, Calvin theo sát Thánh Au-gus-ti-nô. Calvin dạy rằng thông qua tội nguyên tổ, con người trở nên hoàn toàn suy đồi và trong mối quan hệ với Chúa, chỉ có khả năng phạm tội. Con người được cứu khỏi tình trạng này bởi đức tin vào Chúa Kitô, Đấng trung gian duy nhất. Nhưng con người không khởi xướng chuyển động đức tin này; trái lại, đó là công việc chính của Chúa Thánh Linh. Đức tin, như ông nói trong tác phẩm Các Thể chế (Institutes), “là một sự hiểu biết vững chắc về ân huệ thiêng liêng dành cho chúng ta, được xây dựng trên sự thật của một lời hứa tự do trong Chúa Ki-tô, được mặc khải cho tâm trí chúng ta, và được đóng ấn trong lòng chúng ta bởi Chúa Thánh Linh.” (85) Đức tin kết hợp chúng ta với Chúa Ki-tô trong một mối quan hệ đức tin bản thân. Nhưng chính đức tin này không có giá trị gì. Nó chỉ là phương tiện để chúng ta nhận được sự công chính của Chúa Ki-tô một cách nhưng không—sự công chính này vẫn thuộc về Chúa Ki-tô và chỉ được quy cho chúng ta mà thôi.

Không giống như Luther, Calvin nhấn mạnh không những sự công chính hóa mà còn cả sự thánh hóa của chúng ta. Điều này không có nghĩa là chúng ta trưởng thành một cách nội tại trong sự công chính mà chỉ là chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn về sự bất lực và tội lỗi của chính mình khi chúng ta được ghép sâu hơn vào Chúa Ki-tô, Đấng hoàn thành cho chúng ta những gì lẽ ra chúng ta phải tự làm. Ngay cả sau khi được công chính hóa, các việc làm của chúng ta vẫn bị ô nhiễm bởi tội lỗi, nhưng Thiên Chúa vẫn coi chúng là chấp nhận được. Người không những công chính hóa người tội lỗi; Người còn công chính hóa người đã được công chính hóa trong một diễn trình gọi là sự công chính hóa kép. Trong bối cảnh này, Calvin cũng giải thích về sự tái sinh. Mặc dù vẫn là những người tội lỗi, chúng ta vẫn tiến bộ trong sự thánh thiện chừng nào chúng ta được hiệp nhất với Chúa Kitô. Ân sủng này, ơn sủng mà Chúa Kitô ban cho chúng ta, là không thể cưỡng lại được và biểu hiện rõ nhất ở sự sẵn sàng từ bỏ bản thân và sống hướng đến đời sống mai sau.

Trong sự hiểu biết về Chúa Kitô, Calvin tuân theo truyền thống rất chặt chẽ, khẳng định các tín điều của các công đồng cổ thời về sự đồng bản thể của Chúa Kitô với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần và sự hiệp nhất bản vị của hai bản tính của Chúa Kitô.

Khi đến với giáo lý của Calvin về Giáo Hội, chúng ta thấy Calvin nhấn mạnh tầm quan trọng của Giáo Hội như một định chế do Chúa thiết lập, như phương tiện mà Chúa dự định để giúp đỡ con người yếu đuối và bệnh tật trên con đường cứu rỗi. Giáo Hội tối cao đối với Calvin là Giáo Hội vô hình được tạo thành từ toàn thể những người được chọn, nhưng cũng có Giáo Hội hữu hình được hình thành bởi sự quy tụ các tín hữu vào một giáo xứ. Đối với Calvin, người theo sát Luther, dấu hiệu của một Giáo hội đích thực rất đơn giản và rõ ràng: Giáo hội tồn tại ở bất cứ nơi nào Lời Chúa được rao giảng và các bí tích được cử hành theo sự thiết lập của Chúa Kitô. Quan điểm của Rô-ma cho rằng Giáo hội chỉ tồn tại khi có giám mục kế nhiệm giám mục đã bị bác bỏ. Đối với ông, đó là một khái niệm quá mang tính tổ chức, quá máy móc, quá chú trọng đến sự liên tục về cấu trúc mà không đủ quan tâm đến sự liên tục và thuần khiết của giáo lý. Calvin tin rằng chính Chúa Giêsu đã kêu gọi Giáo hội hiện hữu bằng Lời Người và các bí tích của Người. Và đối với Calvin, chỉ có hai bí tích được chứng thực trong Kinh Thánh: Phép rửa tội và Thánh Thể.

Một trong những lạm dụng mà Calvin thấy tràn lan trong Giáo hội Rô-ma là việc sử dụng các bí tích một cách gần như ma thuật và máy móc, mà ông đổ lỗi cho giáo lý chính thức của Rô-ma rằng các bí tích tự ban ân sủng (ex opere operato). Do đó, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của đức tin của người lãnh nhận và vai trò của các bí tích như một phần của cuộc đối thoại bản thân giữa người tin và Thiên Chúa. Và ông cho rằng việc cử hành bí tích phải luôn đi kèm với việc rao giảng và loan báo Lời Chúa. “Không gì… có thể vô lý hơn việc biến Bữa Tiệc Thánh thành một hành động câm lặng. Điều này được thực hiện dưới sự chuyên chế của Giáo hoàng.” (86)

Trong giáo lý về Bí tích Thánh Thể, Calvin đã theo sát thần học của người bạn Martin Bucer, người đã cố gắng hòa giải cuộc tranh luận giữa Zwingli và Luther được đề cập ở trên. (87) Như chúng ta đã giải thích, Luther nhấn mạnh sự hiện diện thực sự khách quan của thân thể Chúa Kitô trong bánh và rượu, trong khi Zwingli chỉ duy trì sự hiện diện mang tính tưởng niệm. Một mặt, Bucer đồng ý với Zwingli khi nói rằng ơn phúc thần thiêng không được ban cho trong hoặc dưới hình thức bánh và rượu, nhưng mặt khác, Bucer đồng ý với Luther về sự thông truyền thực sự nhân tính của Chúa trong bí tích. Để hài hòa hai quan điểm, Bucer ủng hộ tuyên bố cho rằng ơn phúc thần thiêng được ban cho không phải trong hoặc dưới mà là cùng với bánh và rượu: Khi bánh được ăn, ơn phúc thần thiêng đã đi vào linh hồn của người tín hữu. Học thuyết của Bucer dần dần trở thành công thức cổ điển của Thệ Phản không thuộc phái Luther. Calvin đã tiếp nhận và khẳng định nó bằng sự rõ ràng và thuyết phục đặc trưng của riêng mình. Theo Calvin, bánh và rượu là những công cụ mà qua đó Chúa Giê-su Ki-tô tự mình phân phát cho chúng ta Mình và Máu Người. Bí tích Thánh Thể không chỉ là một trợ cụ tâm lý để nắm bắt thực tại thiêng liêng mà là phương tiện qua đó Thiên Chúa thực hiện lời hứa của Người. Sự hiện diện của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể là một sự hiện diện khách quan thực sự.

Trung tâm của phái Calvin ở Geneva trở thành động lực chính cho sự bành trướng của Thệ Phản ở châu Âu. Chỉ có Đức và Scandinavia ưa chuộng phái Luther. Hầu hết các quốc gia khác chuyển sang Thệ Phản đều chấp nhận phái Calvin hoặc một điều gì đó gần giống với nó. Sự phát triển của phái này ở Thụy Sĩ được hỗ trợ rất nhiều bởi công thức đức tin được ký bởi Calvin và người kế nhiệm của Zwingli, Heinrich Bullinger, vào năm 1549. Một tài liệu rất có ảnh hưởng khác là Bản Tuyên xưng đức tin Helvetic thứ hai, một văn kiện rất Calvin, được ký bởi tất cả các bang của Thụy Sĩ ngoại trừ Basel và Neuchâtel và được phổ biến rộng rãi. Mặc dù không có thành phố nào của Đức trở thành tín đồ của phái Calvin trong suốt cuộc đời của Calvin, nhưng các giáo lý của nhà cải cách người Geneva đã tìm thấy một môi trường thuận lợi ở lãnh thổ Palatinate dưới thời Tuyển hầu tước Frederick III (1515–76). Vị hoàng tử mộ đạo chân thành và thông minh này đã mời hai học giả Calvin xuất sắc, Zacharias Ursinus và Caspar Olevianus, đến Đại học Heidelberg của mình và họ đã cùng nhau biên soạn cuốn Giáo lý Heidelberg (1563), trở thành tín điều của các nhà thờ Cải cách ở Đức cũng như ở Ba Lan, Bohemia, Hungary và Moravia. Ngoài lãnh thổ Palatinate, những bang quan trọng khác của Đức chấp nhận giáo lý Calvin là Bremen, Anhalt, phần lớn Hesse, và cuối cùng là Brandenburg, một ví dụ độc đáo trong đó các thiện cảm duy Calvin của các tuyển hầu đã đảm bảo cho phái Calvin một vị thế pháp lý mặc dù phái Luther vẫn ở thế đa số.

Tại Pháp dưới thời Huguenot, ở Hòa Lan và ở Tô Cách Lan, phong trào Thệ Phản đã mang hình thức của phái Calvin từ năm 1559 đến năm 1567. Pháp trở thành chiến trường thực sự cho một loạt các cuộc chiến tranh giữa những người Huguenot theo phái Calvin và những người Công Giáo, tàn phá đất nước. Những người Huguenot đã phải chịu một đòn giáng mạnh trong vụ thảm sát Ngày Thánh Bar-thô-lô-mê-ô khi theo lệnh của Hoàng hậu Catherine de Medici, hàng ngàn người trong số họ bị bất ngờ tấn công và tàn sát. Nhưng những người sống sót đã tập hợp lại và, dưới sự lãnh đạo của Henry xứ Navarre, tiếp tục cuộc đấu tranh. Tuy nhiên, Henry đã chuyển sang Công Giáo để thống nhất đất nước dưới sự cai trị của mình, nhưng Sắc lệnh Nantes (1598) của ông đã đảm bảo tự do lương tâm cho những người Huguenot.

Vào thời điểm Calvin qua đời năm 1564, phái Calvin đã đạt được những tiến bộ đáng kể ở mười bảy tỉnh của Hòa Lan (ngày nay chủ yếu là Hòa Lan, Bỉ và Lục Xâm Bảo). Họ bị cai trị bởi vua Tây Ban Nha Philip II, người đã làm mất lòng dân bằng chính sách thuế má tùy tiện, việc sử dụng quân đội Tây Ban Nha và các chính sách giáo hội hà khắc. Khi chiến tranh với Tây Ban Nha nổ ra, lòng dũng cảm và sự táo bạo của những người theo phái Calvin đã góp phần rất lớn vào sự năng động của phong trào chống Tây Ban Nha, và người lãnh đạo cuộc nổi dậy, William, Hoàng tử xứ Orange, cũng trở thành một người theo phái Calvin. William bị ám sát năm 1584, nhưng chiến thắng của con trai ông, Maurice, người đã đánh đuổi người Tây Ban Nha, đã dẫn đến việc thành lập Cộng hòa Calvinist Hòa Lan ở miền bắc Hòa Lan, nơi trở thành một trong những trung tâm sôi động và thịnh vượng nhất của phái Calvin.

Không nơi nào phái Calvin thành công trọn vẹn như ở Tô Cách Lan. Sự bén rễ của nó ở đó chủ yếu là nhờ John Knox, người đã học phái Calvin từ chính miệng của bậc thầy tại Geneva. Knox là một linh mục người Tô Cách Lan, người đã gia nhập phong trào Cải cách ngay từ đầu sự nghiệp của mình. Ông gia nhập một nhóm phiến quân đã chiếm đóng lâu đài St. Andrews sau khi ám sát Hồng Y Beaton, giáo chủ của Tô Cách Lan. Không thể chống lại hỏa lực pháo binh Pháp, phiến quân bị bắt làm tù binh và Knox đã trải qua mười chín tháng trên các thuyền chiến của Pháp. Sau những biến cố khác, cuối cùng ông đến Geneva cùng với Calvin. Cái chết của Mary Tudor vào năm 1559 đã cho phép Knox và những người tị nạn theo phái Calvin khác trở về nhà. Việc rút quân của cả quân Anh và Pháp theo hiệp ước Edinburgh ngày 6 tháng 7 năm 1560, và cái chết của nhiếp chính Mary xứ Guise, đã cho phép Knox và nhóm cải cách của ông hướng Quốc hội đến những ý tưởng cải cách. Bản Tuyên xưng Đức tin Tô Cách Lan đầu tiên, một bản sao trung thực các giáo lý cơ bản của Calvin, đã được đọc tại Quốc hội và thông qua ngay lập tức vào ngày 17 tháng 8 năm 1560. Nó vẫn là tiêu chuẩn tuyên xưng đức tin cho đến khi bị thay thế bởi Bản Tuyên xưng Westminster năm 1647. Một hình thức phụng vụ theo giáo phái Calvin đã được áp dụng vào năm 1564. Khi Nữ hoàng Công Giáo Mary Stuart lên ngôi Tô Cách Lan năm 1561, bà nhận thấy tôn giáo mới đã bén rễ sâu rộng. Bà bị suy yếu bởi cuộc hôn nhân với Bá tước Bothwell sau vụ ám sát chồng bà, Huân tước Darnley. Với việc Mary bị giam cầm trong một lâu đài ở Anh, Knox có thể qua đời năm 1572 với sự an ủi khi biết rằng Giáo hội cải cách giờ đây đã ăn sâu vào đời sống của người dân. Sau khi ông qua đời, Giáo hội Tô Cách Lan vẫn kiên quyết giữ vững hình thức Calvin theo hệ phái trưởng lão bất chấp những nỗ lực mạnh mẽ của các vị vua Stuart nhằm biến Giáo hội thành hệ phái giám mục.

Vụ thảm sát Ngày Thánh Bar-thô-lô-mê-ô. Bản khắc gỗ Đức thế kỷ XVI. Thư viện Lịch sử Thệ Phản, Paris. © Giraudon/Art Resource, New York.


Những người theo phái Calvin cũng đóng một vai trò quan trọng, dù muộn màng, trong cuộc Cải cách Anh, nhưng họ chưa bao giờ thành công trong việc thống trị Giáo hội Anh như cách họ đã làm với Giáo hội Tô Cách Lan và Hòa Lan. Chúng ta phải nhớ rằng trong khi ở Hòa Lan và Tô Cách Lan, cuộc Cải cách bắt đầu như một phong trào tôn giáo do những người theo phái Calvin lãnh đạo, thì cuộc Cải cách ở Anh lại bắt đầu như một vấn đề chính trị do chính nhà vua, Henry VIII, dàn dựng. Trên thực tế, Henry kiên quyết phản đối các ý tưởng của cuộc Cải cách và thậm chí còn viết một luận thuyết chống lại Luther, "Bảo vệ Bảy Bí tích", nhờ đó ông được Giáo hoàng Leo X phong tặng danh hiệu "Người bảo vệ Đức tin" vào ngày 11 tháng 10 năm 1521. Nhưng mối quan hệ của Henry với Giáo hoàng nhanh chóng xấu đi khi vấn đề ly hôn của ông nổi lên vào năm 1527. Ông muốn Giáo hoàng hủy bỏ cuộc hôn nhân của mình với Catherine xứ Aragon để có thể kết hôn với người mà ông đang say mê, Anne Boleyn, người mà ông hy vọng cũng có thể sinh cho ông người thừa kế nam mà ông khao khát. Đức Giáo Hoàng Clê-men-tê VII rơi vào tình thế khó xử. Một mặt, Henry đe dọa sẽ rút Anh khỏi sự trung thành với Giáo hoàng nếu không được như ý, mặt khác, Catherine đưa ra bằng chứng xác đáng cho thấy cuộc hôn nhân của bà với Henry là hợp lệ. Hơn nữa, Giáo hoàng đang chịu áp lực rất lớn trong việc bác bỏ cuộc ly hôn từ người chú của Catherine, Hoàng đế Rô-ma Thần thánh đầy quyền lực Charles V. Đức Clê-men-tê đã do dự và cuối cùng thu hồi vụ việc về Rome vào tháng 7 năm 1529.

Ngay lập tức, Henry triệu tập Quốc hội và viên tướng tài ba Thomas Cromwell đã khéo léo dẫn dắt Quốc hội thông qua một loạt các đạo luật, dần dần tách nước Anh khỏi quyền tài phán của Giáo hoàng và đặt Giáo hội Anh dưới quyền của nhà vua, người mà vào năm 1534 được tuyên bố là người đứng đầu tối cao của Giáo hội Anh. Trong số ít những người có địa vị cao, cả giáo sĩ lẫn giáo dân, từ chối tuyên thệ trung thành với quyền lực tối cao của hoàng gia có John Fisher, giám mục Rochester, và Thomas More, cựu tể tướng, cả hai đều bị xử tử năm 1535.

Trong khi đó, Henry nhận được phép ly hôn từ tân tổng giám mục Canterbury, Thomas Cranmer, người đã làm lễ đội vương miện cho Anne với nghi lễ long trọng tại nhà thờ đan viện Westminster vào ngày 1 tháng 6 năm 1533.

Bên cạnh việc từ chối quyền tài phán của Giáo hoàng, hành động mang tính cách mạng nhất của Henry là việc giải thể các đan viện từ năm 1535 đến năm 1540. Khoảng chín nghìn đan sĩ và nữ tu đã bị đuổi—một số tự nguyện—và một lượng tài sản khổng lồ đã đổi chủ. Mặc dù không còn là thế lực tinh thần hùng mạnh và trung tâm học thuật như đầu thời Trung cổ, các đan viện vẫn là một phần quan trọng của đời sống giáo hội truyền thống và việc phá hủy chúng là một yếu tố quan trọng trong sự thắng lợi dần dần của các tư tưởng cải cách ở Anh. Sự lan rộng của những ý tưởng này diễn ra bất chấp Henry, người dù bất chấp Giáo hoàng nhưng vẫn hết lòng trung thành với Công Giáo truyền thống và quyết tâm duy trì bản chất của nó. Đúng là dưới áp lực chính trị, Henry đã cho phép xuất bản Mười Điều khoản mơ hồ (1536) và ông cũng phê chuẩn Đạo luật thiết lập Kinh thánh tiếng Anh trong tất cả các nhà thờ. Nhưng Sáu Điều khoản của ông (1539) đã tái khẳng định giáo lý Công Giáo và áp đặt những hình phạt tàn khốc đối với việc phủ nhận sự biến đổi bản thể, Thánh lễ riêng, xưng tội riêng hoặc yêu cầu độc thân của giáo sĩ.

Chỉ đến khi Henry qua đời năm 1547 và Edward VI trẻ tuổi lên ngôi, phe Thệ Phản ở Anh mới nắm quyền và ảnh hưởng của phái Calvin bắt đầu được cảm nhận. Người lãnh đạo của phe Thệ Phản là Thomas Cranmer, người dù có khuynh hướng Thệ Phản nhưng đã tránh được cơn thịnh nộ của Henry. Việc sửa đổi phụng vụ của Giáo hội Anh thông qua Sách Cầu nguyện Chung (1549) phần lớn là công trình của ông và nó được ca ngợi một cách chính đáng như một kiệt tác phụng vụ. Nó tuân theo bố cục cơ bản của Thánh lễ thời Trung cổ nhưng ở những điểm quan trọng lại thấm nhuần các giáo lý Thệ Phản. Tuy nhiên, bản thân Cranmer sớm nhận thấy nó quá bảo thủ, bởi lúc này ông đã bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ bản thân với Martin Bucer, người mà ông đã mời đến Anh. Ông đã giúp đảm bảo việc sửa đổi nó và Sách Cầu nguyện Chung thứ hai (1552) phản ánh những nỗ lực của ông nhằm đơn giản hóa phụng vụ Anh theo đường lối Calvin và đưa các công thức Thánh Thể gần hơn với giáo lý của các nhà cải cách Thụy Sĩ.

Công việc của các nhà cải cách Thệ Phản ở Anh đã bị gián đoạn bởi Mary Tudor, người kế vị Edward vào năm 1553 và hoàn toàn tận tâm khôi phục thẩm quyền của Giáo hoàng ở Anh. Để đạt được mục đích đó, bà đã tiến hành một cuộc đàn áp toàn diện những người Thệ Phản bất đồng chính kiến và đã thiêu sống chính Cranmer. Tuy nhiên, bà chỉ thành công trong việc đưa người dân Anh đến gần hơn với sự chấp nhận thực sự đối với phong trào Thệ Phản.

Với sự lên ngôi của Elizabeth, con gái của Anne Boleyn, vào năm 1558, những người theo phái Calvint đã nỗ lực hết sức để tiếp quản cuộc Cải cách Anh và định hình nó theo đường lối của họ. Được mệnh danh là "những người Thanh giáo", họ tìm cách thanh tẩy Giáo hội Anh khỏi mọi thứ mà họ cho là mê tín dị đoan, thờ thần tượng và mang tính Công Giáo Rô-ma. Sách Cầu nguyện Chung, được sửa đổi lại vào năm 1559, đặc biệt làm họ khó chịu vì mặc dù nó gọi bàn thờ là một cái bàn và không còn coi Bữa Tiệc Thánh là một lễ tế, nhưng nó vẫn giữ lại nhiều điều mà họ cho là không được Kinh Thánh cho phép, chẳng hạn như lễ phục, dấu thánh giá, quỳ gối khi rước lễ và cầu nguyện theo nghi thức. Mục tiêu chính khác của họ là chức vụ giám mục, mà họ muốn thay thế bằng một hình thức chính quyền giáo hội theo thể chế trưởng lão như ở Tô Cách Lan. Tuy nhiên, Elizabeth đã làm ngơ trước họ, vì bà cam kết với chính sách thực dụng trong các vấn đề tôn giáo và muốn một tôn giáo quốc gia kết hợp các yếu tố Công Giáo, Luther và Calvin theo cách thống nhất tất cả người Anh trong một Giáo hội duy nhất. Mặc dù phái Thanh giáo có ảnh hưởng đáng kể đến việc soạn thảo Ba mươi chín điều khoản (1563), họ chưa bao giờ thành công trong việc thiết lập một hệ thống Calvin ở Anh, nhưng dưới thời Elizabeth, họ vẫn là một phe phái quan trọng của Giáo hội Anh, cực kỳ thù địch với đối thủ của họ là phái thượng quyền giám mục [episcopal], những người vẫn tin vào các giám mục.

Chân dung Nữ hoàng Elizabeth I của Anh, Siève, khoảng năm 1575. Federico Zuccaro (1543–1609). Pinacoteca Nazionale, Siena. © Scala/Art Resource, New York.


Dưới thời các vị vua Stuart của Anh vào thế kỷ 17, cuộc đấu tranh giữa phái Thanh giáo và phái Thượng quyền giám mục trở nên vô cùng gay gắt. Cả James I (1603–25) và Charles I (1625–49) đều liên tục làm suy yếu phái Thanh giáo và khuyến khích phe chống Thanh giáo trong Giáo hội Anh. Trong thời kỳ trị vì của Charles, tổng giám mục Canterbury, William Laud (mất năm 1645), đã tiến hành một chiến dịch mạnh mẽ nhằm phục hưng hoàn toàn truyền thống Công Giáo trong Giáo hội và cố gắng buộc phái Thanh giáo phải tuân theo bằng cách sử dụng các hình phạt nghiêm khắc. Điều này dẫn đến cuộc di cư lớn của phái Thanh giáo đến Tân Thế giới. Khoảng hai mươi nghìn người Thanh giáo đã rời Anh vào những năm 1630 để gia nhập những người khác đã ở New England trong việc thành lập các quốc gia thánh thiện dựa trên giáo lý Calvin. Dưới sự lãnh đạo của Thuộc địa Vịnh Massachusetts, chủ nghĩa Calvin phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng lớn đến việc hình thành quốc gia mới.

Chủ Nghĩa Calvin không tránh khỏi những cú sốc mà tất cả các hệ thống đều phải chịu đựng khi trải qua thử thách của lịch sử. Những người theo phái này cuối cùng đã chia rẽ thành nhiều giáo hội riêng biệt, thường xuyên tranh cãi với nhau về những vấn đề nhỏ nhặt. Một số giáo lý chủ chốt của phái đã phải bị loại bỏ khi nhận thức thăng tiến và ngày nay không ai chấp nhận nó như một hệ thống hoàn chỉnh. Nhưng ít ai có thể phủ nhận rằng đóng góp của Calvin cho đời sống và tư tưởng Kitô giáo là vô cùng quan trọng. Và chúng ta vẫn có thể suy gẫm một cách bổ ích về những điều ông đã nói với chúng ta về sự siêu việt và tối cao của Thiên Chúa, chiều sâu của sự sa ngã của con người, sự tự do tuyệt đối của ân sủng, và lời kêu gọi chúng ta đáp lại bằng đức tin sâu sắc từ bên trong.