Chương 12: CHẾ ĐỘ QUÂN CHỦ GIÁO HOÀNG Ở ĐỈNH CAO
Sau khi theo dõi cuộc đấu tranh thành công của các Giáo hoàng để khẳng định quyền tối cao của các ngài đối với các Hoàng đế, giờ đây chúng ta chuyển sang một chủ đề có liên quan chặt chẽ: Sự phát triển song song mà qua đó các Giáo hoàng đã chứng minh cho đòi hỏi lâu đời của các ngài về chủ quyền tuyệt đối đối với Giáo hội. Sự phát triển này có ý nghĩa đặc biệt, bởi vì ngày nay các Giáo hoàng về cơ bản vẫn đưa ra tuyên bố tương tự về chủ quyền đối với Giáo hội, trong khi cuộc đấu tranh của các ngài với các Hoàng đế chỉ còn mang ý nghĩa lịch sử.
Việc các giáo hoàng đòi quyền tối cao trong Giáo hội có thể đã có từ thế kỷ thứ tư; có rất ít bằng chứng về bất cứ đòi hỏi nào như vậy trước đó. Trong ba thế kỷ đầu tiên, tổ chức của Giáo hội đã phát triển theo mô hình hành chính của đế quốc Rô-ma. Các giáo hội nằm ở các thủ phủ tỉnh đạt được vị thế tổng giám mục, bao gồm một mức độ quyền tài phán nhất định đối với các giáo hội chị em của họ, trong khi một số đạt được vị thế siêu tổng giám mục hoặc giáo chủ. Cấu trúc này cho phép các cấp độ tự trị khác nhau; nó nhấn mạnh tính hợp đoàn (collegiality) của các giám mục và nhu cầu họ phải thường xuyên họp hội đồng để thực hiện trách nhiệm chung của họ đối với đời sống của Giáo hội. Khái niệm về trật tự Giáo hội vẫn được tìm thấy trong tư tưởng của Thánh Au-gus-ti-nô, chẳng hạn, người cùng với các giám mục châu Phi khác đã chống lại những nỗ lực của Rô-ma nhằm xâm phạm nền độc lập của họ.
Tuy nhiên, một ý tưởng tập trung hơn nhiều về cấu trúc Giáo hội đã được phát triển ở Rô-ma và được Đức Giáo Hoàng Leo Cả định hình về mặt lý thuyết. Ý tưởng này coi Giáo hội như một kim tự tháp, với các cạnh hội tụ về Rô-ma ở đỉnh – một hệ thống hoàn toàn trái ngược với khái niệm công đồng châu Phi và phương Đông. Nhờ nhiều yếu tố, Rô-ma đã có thể tổ chức Giáo hội phương Tây theo quan niệm hình kim tự tháp của mình. Các Giáo hoàng đã thành công trong việc tập trung quyền lực vào bản thân đến nỗi khái niệm cổ xưa về tính hợp đoàn của các giám mục đã bị mất đi, và cùng với đó là toàn bộ ý tưởng về sự hiệp nhất trong đa dạng. Toàn bộ Giáo hội được đồng nhất với Giáo hội địa phương ở Rô-ma; các tập tục phụng vụ và kỷ luật của nó được coi là chuẩn mực cho toàn bộ Giáo hội phương Tây. Cho đến ngày nay, bất chấp sự phục hồi tính hợp đoàn của Công đồng Vatican II, đây vẫn là mô hình quyền lực giáo triều của thẩm quyền Giáo hội.
Nhiều lực lượng lịch sử đã hội tụ để thiết lập vị thế của Giáo hoàng trong việc kiểm soát Giáo hội phương Tây. Quyền lực của Đế quốc Byzantine ở Ý suy yếu. Điều này tạo ra một khoảng trống chính trị được lấp đầy bởi giám mục thành Rô-ma, người trở thành nhà lãnh đạo chính trị hàng đầu ở Ý. Liên minh Giáo hoàng với chế độ quân chủ Carolingian đã thống nhất phương Tây về chính trị và tinh thần xung quanh Rô-ma.
Giáo hội châu Phi—giáo hội Latinh duy nhất có truyền thống chống lại sự xâm lấn của Rô-ma—đã biến mất dưới làn sóng Hồi giáo. Các phái bộ truyền giáo Anglo-Saxon, được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Rô-ma, đã gắn kết chặt chẽ Giáo hội Anh với tòa thánh. Các nhà truyền giáo Anglo-Saxon sau đó đến lục địa đã mang theo cùng một khái niệm về một Giáo hội theo Giáo hoàng và do đó đã đặt các giáo hội khác dưới sự chi phối của Rô-ma.
Một dấu hiệu cho thấy những bước tiến lớn được ý tưởng duy giáo hoàng về thẩm quyền Giáo hội đã đạt được vào thế kỷ thứ chín là việc tổ chức dưới thời Charlemagne: Các tỉnh giáo hội mới được thành lập và các tỉnh cũ được khôi phục bởi thẩm quyền duy nhất của Tòa thánh. Trong Giáo hội sơ khai, những vấn đề như vậy là công việc của hàng giám mục trong công đồng. Một dấu hiệu khác cho thấy sự gia tăng quyền lực Giáo hoàng là việc trao tặng dây pallium, một dải len trắng đeo quanh vai. Ban đầu chỉ là một vật trang trí mang tính danh dự, giờ đây nó trở thành biểu tượng cho thẩm quyền của Rô-ma đối với giám mục đô thành, người nhận được nó từ Giáo hoàng khi việc bầu chọn ông được xác nhận. Toàn bộ nghi lễ truyền tải ý tưởng này là vị giám mục mới là người đại diện của Giáo hoàng.
Nhiều truyền thuyết khác nhau cũng góp phần vào sự phát triển này. Một trong số đó—việc tôn thờ Thánh Phê-rô như người gác cổng thiên đường—xuất hiện vào thời điểm này.
Được các nhà truyền giáo Rô-ma mang đến cho người Anglo-Saxon, nó đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến họ và những người Đức trở lại đạo của họ. Một truyền thuyết khác phổ biến rộng rãi vào đầu thời Trung cổ cho rằng Tòa Rô-ma là nơi đặt nền móng thực sự của các Giáo hội phương Tây chính.
Nhưng có ảnh hưởng nhất trong tất cả là Sắc lệnh I-si-đo giả (Pseudo-Isidorian), được soạn thảo vào khoảng năm 850 tại văn phòng của một giám mục người Frank. Bộ sưu tập này chứa đựng sự pha trộn khéo léo giữa các văn kiện giả mạo và văn kiện chính thức của Giáo hoàng và Công đồng. Nó xuyên tạc lịch sử quan hệ giữa Giáo hoàng và các Giáo hội khác bằng cách truy nguồn gốc quyền lực của Giáo hoàng đối với họ từ thời kỳ sơ khai nhất; những vị Giáo hoàng mà chúng ta thực sự không biết gì về họ lại được miêu tả là đang mạnh mẽ thực thi thẩm quyền đối với các Giáo hội khác. Trên cơ sở sai lệch như vậy, Sắc lệnh I-si-đo giả khẳng định quyền tối cao tuyệt đối và phổ quát của người kế vị Thánh Phê-rô: Giáo hoàng là người lập pháp tối cao, sự đồng ý của ngài là cần thiết cho tính hợp lệ của tất cả các sắc lệnh của Công đồng. Ngài cũng là thẩm phán tối cao—không một giám mục nào có thể bị phế truất nếu không có sự can thiệp của ngài, và tòa án của ngài là Tòa án phúc thẩm cuối cùng cho tất cả các vụ án quan trọng.
Đức Ni-cô-la I (mất năm 867) đã sử dụng Sắc lệnh trong nỗ lực nâng cao vị thế của Giáo hoàng lên mức kiểm soát tuyệt đối đối với Giáo hội. Một cách chưa từng có tiền lệ, ngài đã tiến hành chống lại các tổng giám mục, những người là đối thủ chính chống chương trình của ngài, phế truất các tổng giám mục Cologne và Trier và buộc người quyền lực nhất trong số họ, Hincmar của Rheims (mất năm 882), phải nhượng bộ trong một tranh chấp về quyền của một trong những giám mục phụ thuộc của vị này được kháng cáo lên Rô-ma. Nhưng phong trào hướng tới một chế độ quân chủ tuyệt đối của Giáo hoàng đối với Giáo hội này đã bị chặn đứng khi Giáo hoàng bị cuốn vào sự sụp đổ chung của nền văn minh xảy ra vào cuối thế kỷ thứ chín. Với sự tan rã của Đế quốc, Giáo hoàng rơi vào sự kiểm soát của giới quý tộc Rô-ma và sau đó là các Hoàng đế Đức, như chúng ta đã thấy. Kiểu chủ quyền Giáo hoàng của Đức Ni-cô-la hầu như không bao giờ là ký ức.
Và ý tưởng này đã được hồi sinh dưới triều đại Giáo hoàng Leo IX (1048–1054), một nhà cải cách Giáo hội với kinh nghiệm sâu rộng trong công tác mục vụ và ngoại giao, những chuyến đi khắp nơi và kiến thức uyên bác đã biến ngài trở thành người lý tưởng để một lần nữa nâng cao vị thế lãnh đạo của Giáo hoàng đối với Giáo hội. Ngài đã đi thăm các nhà thờ trên khắp thế giới Ki-tô giáo, tổ chức nhiều công đồng, những công đồng đã quy định rằng các giám mục phải được bầu chọn bởi giáo sĩ và giáo dân, đồng thời lên án những lạm dụng phổ biến – buôn thần bán thánh và hôn nhân giáo sĩ. Bằng cách này, ngài đã làm nổi bật thẩm quyền và quyền tài phán của Giáo hoàng, và do đó đã xác nhận tính xác thực của những gì trong nhiều thế kỷ chỉ là lý thuyết về luật giáo hội. Ngài đã tổ chức lại văn phòng giám mục phù hợp với hoạt động ngày càng gia tăng của các Giáo hoàng và đưa vào Giáo triều những người tài năng, những người được thúc đẩy bởi những ý tưởng tốt nhất của thời đại. Các Giáo hoàng kế nhiệm tiếp tục tinh thần của Đức Leo, được hỗ trợ rất nhiều bởi sắc lệnh bầu cử năm 1059, trao quyền kiểm soát các cuộc bầu cử Giáo hoàng cho các Hồng Y và cho phép họ duy trì tinh thần cải cách ở Rô-ma.
Như vậy, bối cảnh đã được thiết lập cho sự xuất hiện của Hildebrand dũng cảm, người đã lên nắm quyền vào năm 1073 với ý tưởng cao cả về chế độ quân chủ giáo hoàng. Chúng ta đã chứng kiến cuộc đấu tay đôi khốc liệt giữa ngài và Henry IV về việc bổ nhiệm giáo sĩ của giáo dân. Nhưng điều có ý nghĩa lâu dài hơn nhiều là sự khẳng định thành công của Đức Grê-go-ri-ô về quyền lực tuyệt đối của giáo hoàng đối với Giáo hội. Dựa trên các nguồn như luật giáo hội cổ thời cũng như các sắc lệnh giả mạo kiểu I-si-đo giả, Đức Grê-go-ri-ô đã hình thành một lý thuyết về chế độ quân chủ giáo hoàng mà ngài đã thể hiện một cách sắc bén trong Dictatus Papae của mình:
"Giáo hoàng không thể bị ai phán xét; Giáo hội Rô-ma chưa bao giờ sai lầm và sẽ không bao giờ sai lầm cho đến tận cùng thời gian; Giáo hội Rô-ma chỉ được thành lập bởi Chúa Kitô; chỉ có Giáo hoàng mới có thể phế truất và phục hồi các giám mục; chỉ có ngài mới có thể ban hành luật mới, thiết lập các giám mục mới và tước bỏ các giám mục cũ; chỉ có ngài mới có thể thuyên chuyển các giám mục; chỉ có ngài mới có thể triệu tập các công đồng chung và phê chuẩn luật giáo hội; nhỉ mình ngài mới có thể thực thi các phán quyết của mình; các sứ giả của ngài, dù ở cấp bậc thấp hơn, vẫn có quyền ưu tiên hơn tất cả các giám mục; con dấu của tòa án giáo hoàng ngăn cản việc xét xử của tất cả các tòa án cấp dưới; một tu sĩ được thụ phong đúng cách chắc chắn được phong thánh nhờ công đức của Thánh Phê-rô".(51)
Lý thuyết về quyền lực của Giáo hoàng, kết hợp với tuyên bố về quyền tối cao đối với toàn xã hội, đã được gọi là “một trong những hệ thống vĩ đại nhất, tích hợp nhất và phát triển nhất từng được nghĩ ra để điều hành cuộc sống con người.” (52)
Tất cả đều đòi hỏi một bộ máy phức tạp được phát triển dần dần trong vài thế kỷ tiếp theo; các công cụ chính được sử dụng là các công đồng, sứ giả, thư của Giáo hoàng và các tòa án Rô-ma. Trong mỗi bộ phận này, chúng ta thấy sự tăng trưởng liên tục và đáng kinh ngạc về hoạt động trong những thế kỷ tiếp theo. Các Giáo hoàng trở thành những người bận rộn nhất ở châu Âu; sự can thiệp của các ngài vươn xuống tận tầng lớp thấp nhất của xã hội.
Sự tập trung quyền lực này, không nghi ngờ gì nữa, đã đáp ứng nhu cầu của một thế giới vẫn đang chênh vênh trên bờ vực hỗn loạn. Các linh mục giáo xứ có thể tìm thấy ở tòa án giáo hoàng sự bảo vệ chống lại việc bị đuổi khỏi nhà và sự đảm bảo về một khoản thu nhập tối thiểu không dễ bị cướp đoạt. Cả giáo dân và linh mục đều phải tuân theo một kỷ luật rõ ràng và không quá hà khắc, quy định các điều khoản cho tất cả các dịp quan trọng trong đời sống Kitô giáo—chúng liên quan đến phép rửa tội, phép xưng tội, phép rước lễ, phép sám hối, bố thí, cho vay nặng lãi, di chúc, chôn cất, nghĩa trang và trang phục giáo sĩ.
Thực thế, chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng chế độ quân chủ giáo hoàng chỉ thành công ở mức độ nó được chấp nhận bởi một số lượng lớn những người có ảnh hưởng. Ví dụ, các dòng tu tìm thấy ở thẩm quyền giáo hoàng sự bảo vệ mạnh mẽ nhất chống lại sự chuyên chế của giám mục địa phương hoặc lãnh chúa địa phương, trong khi giới giáo sĩ nói chung thu được những lợi ích đáng kể từ việc thực thi quyền lực này, bao gồm cả sự an toàn cho tài sản của họ và sự miễn trừ khỏi quyền tài phán thế tục.
Ban đầu, các Giáo hoàng không đòi quyền bổ nhiệm các giám mục. Thực thế, các ngài đã chiến đấu một trận chiến cam go về việc giáo dân bổ nhiệm giáo sĩ để khôi phục quyền bầu cử cho giáo sĩ và giáo dân. Nỗ lực của các ngài, đến một mức độ nào đó, là một thành công: Vào giữa thế kỷ thứ mười hai, quyền bầu chọn giám mục của giáo sĩ đã được công nhận rộng rãi. Tuy nhiên, các cuộc bầu cử thường gây tranh cãi, buộc Giáo hoàng phải can thiệp với tư cách là người phân xử. Điều này có thể và thường dẫn đến những cuộc tranh cãi kéo dài, với việc Giáo hoàng cố gắng bằng mọi cách để các bên đối lập đồng ý về một ứng viên trước khi giải quyết vấn đề bằng cách tự mình bổ nhiệm một giám mục. Và đến thế kỷ thứ mười bốn, các Giáo hoàng đã giải quyết vấn đề bằng cách đơn giản là giữ lại cho mình quyền bổ nhiệm tất cả các giám mục—tuy nhiên, đây là một giải pháp rất không hoàn hảo, vì nó một lần nữa liên quan đến người cai trị thế tục, người mà sự hợp tác của họ là cần thiết để đảm bảo sự tuân thủ các bổ nhiệm của Giáo hoàng.
Các vị quân chủ giáo hoàng đầy quyền lực của thế kỷ thứ mười hai tiếp tục theo tinh thần của Đức Grê-go-ri-ô, cống hiến hết mình với năng lượng phi thường cho nhiệm vụ giám sát đời sống tinh thần của Kitô giáo. Khi họ xung đột với các hoàng tử thế tục, họ thường giành được chiến thắng. Ví dụ, điều này đúng trong vụ việc nổi tiếng giữa nhà quản lý và giáo sĩ lỗi lạc, Đức Giáo Hoàng A-léc-xan-đơ III (mất năm 1181), với Frederick Barbarossa, vị Hoàng đế đáng nhớ nhất kể từ Charlemagne và là một trong những kẻ phản động nổi tiếng nhất trong lịch sử. Khi Giáo hoàng phản đối kế hoạch chinh phục Ý và đàn áp tự do của các thị trấn thuộc Liên minh Lombard, Barbarossa đã chiếm Rô-ma bằng vũ lực và đưa vị Giáo hoàng giả của mình lên ngôi. Nhưng Đức A-léc-xan-đơ, liên minh với các thị trấn Lombard và được các cường quốc châu Âu hậu thuẫn, đã giáng một đòn chí mạng vào Frederick trong trận Legnano (1176). Màn cuối cùng của vở kịch diễn ra tại Quảng trường Thánh Mác-cô, Venice, nơi hai nhân vật chính gặp nhau để dàn xếp và nơi Frederick, bị cảm động bởi lòng kính trọng, đã cởi bỏ áo choàng hoàng đế và quỳ xuống trước vị Giáo hoàng già nua, người với những giọt nước mắt lăn dài đã nâng ông dậy và ôm lấy ông.

Đồng thời, một chiến thắng ấn tượng khác của Giáo hoàng trước quyền lực thế tục đã xảy ra liên quan đến vụ án bi thảm của Thomas Becket, cựu tể tướng và bạn thân của vua Anh Henry II. Với tư cách là tổng giám mục Canterbury, Thomas đã tự chứng tỏ lòng tận tâm hoàn toàn đối với quan niệm của Đức Giáo Hoàng Grê-go-ri-ô về thẩm quyền của Giáo hội và từ chối đánh đổi những gì ngài coi là đặc quyền thiết yếu của Giáo hội. Thẩm quyền của Giáo hoàng đối với Giáo hội là một trong những vấn đề bị đe dọa, vì Hiến pháp Clarendon (1164) của Henry đã cố gắng khôi phục mối quan hệ giữa Giáo hội và nhà nước trở lại thời kỳ trước Đức Grê-go-ri-ô bằng cách hạn chế nghiêm ngặt quyền kiểm soát của Giáo hoàng đối với Giáo hội Anh.
Thomas đã thoát khỏi cơn thịnh nộ của Henry bằng cách chạy trốn sang Pháp vào năm 1164. Khi trở lại vào năm 1170, ngài được Giáo hoàng trao toàn quyền để khiển trách nhà vua nếu ông ta cố gắng khôi phục lại Hiến pháp. Vụ ám sát dã man Thomas Becket tại nhà thờ Canterbury vào chiều tối ngày 29 tháng 12 năm 1170, bởi bốn nam tước giận dữ của Henry, là một trong những sự kiện được ghi chép đầy đủ nhất trong lịch sử thời trung cổ. Đối diện với vị tổng giám mục, đang mặc mũ giám mục và áo choàng để cử hành lễ chiều, các nam tước đã đập vỡ sọ ông bằng kiếm, khiến óc ông văng tung tóe trên sàn đá. Trước khi nhát chém cuối cùng giáng xuống, Thomas đã kịp thốt lên: “Tôi chấp nhận cái chết vì danh Chúa Giêsu và Giáo hội của Người.” Tin tức về tội ác lan truyền nhanh chóng và gây ra một tiếng kêu kinh hoàng tự phát khắp châu Âu, trong một tình huống có thể so sánh với vụ ám sát Tổng thống Kennedy ngày nay. Henry chỉ cứu được vương miện của mình bằng cách khuất phục trước các sứ giả của Giáo hoàng và thề trung thành với Đức A-léc-xan-đơ III, hứa sẽ bãi bỏ tất cả những hành vi xâm phạm quyền lực của ông ta đối với Giáo hội và Giáo hoàng.
Vào thời điểm Becket bị ám sát, Lothario di Segni, một người Ý thuộc gia đình quý tộc, mới chỉ mười tuổi. Sau này, ngài có định mệnh trở thành vị Giáo hoàng quyền lực nhất thời trung cổ - In-nô-cen-tê III. Là một sinh viên thần học trẻ tuổi ở Paris, di Segni đã vượt eo biển Manche để tận mắt chứng kiến nơi tử đạo của Becket; giống như Becket, ngài hoàn toàn tận tâm với quan điểm của Đức Giáo Hoàng Grê-go-ri-ô về quyền tối cao của Giáo hoàng. Được bầu làm Giáo hoàng vào năm 1198 ở tuổi 37, ngài đã nâng ngôi vị Giáo hoàng lên tầm cao nhất về quyền lực tinh thần và thế tục trong thời Trung cổ.
Một người có tầm vóc nhỏ bé nhưng tài năng phi thường, được ngưỡng mộ hơn là yêu mến, In-nô-cen-tê sở hữu một trong những bộ óc pháp lý xuất sắc nhất thời đại, như được chứng tỏ qua hàng ngàn bức thư của ngài. Chúng phản ánh sự hiểu biết sâu rộng về tình hình của Giáo hội và mối quan tâm to lớn đến phúc lợi của Giáo hội. Ngài đã thúc đẩy khái niệm về chủ quyền của Giáo hoàng bằng cách khẳng định rằng quyền lực thế tục bắt nguồn từ Giáo hoàng, và ngài đã sử dụng sự so sánh giữa mặt trời và mặt trăng để mô tả mối quan hệ giữa quyền lực tinh thần và thế tục. Ngài là Giáo hoàng đầu tiên lấy tước hiệu Đại diện Chúa Kitô. Bằng những can thiệp của ngài vào các vấn đề chính trị của Vương quốc Anh, ngài tự biến mình thành người quyết định vận mệnh của châu Âu, và mặc dù có lẽ là một trong những nhà cai trị quyền lực nhất trong lịch sử, ngài chắc chắn là một trong những người uyên bác nhất.
Một vấn đề chính trị cấp bách ngay lập tức xuất hiện trước mắt ngài khi nhậm chức: cuộc tranh chấp giữa hai người tranh giành ngôi vị hoàng đế, Philip và Otto. Đức In-nô-cen-tê chọn Otto, người đổi lại cam kết giúp đỡ duy trì nền độc lập của các quốc gia thuộc Giáo hoàng. Khi chiến tranh nổ ra, Otto tỏ ra yếu thế hơn và buộc phải tìm nơi trú ẩn ở Anh. Nhưng với sự giúp đỡ của một sát thủ đã thủ tiêu Philip, Otto cuối cùng đã lên ngôi.

Tuy nhiên, sau khi lên ngôi, Otto đã bội ước và xâm chiếm lãnh thổ của Giáo hoàng.
Giáo hoàng đã dùng đến vũ khí cuối cùng của ngài—trút giận và phế truất—và sau đó tìm kiếm một vị Hoàng đế khác. Lần này ngài chọn một thanh niên mười sáu tuổi, cháu trai của Barbarossa, và cũng là người được ngài bảo hộ—Frederick II, người cai trị Sicily. Frederick đã long trọng thề sẽ giữ Sicily tách biệt khỏi Đế quốc, và trong Sắc lệnh Vàng Eger (1213) đã trao cho Giáo hoàng quyền lực to lớn đối với Giáo hội ở Đức, bao gồm cả quyền quyết định các cuộc bầu cử giám mục gây tranh cãi. Nhưng cần một cuộc chiến khác để giải quyết vấn đề giữa Otto và Frederick—Anh đứng về phía Otto, và Pháp đứng về phía Frederick. Trận chiến Bouvines mang tính bước ngoặt (1214) đã quyết định vấn đề theo hướng có lợi cho người cầm cờ của Giáo hoàng, Frederick, người mà một ngày nào đó sẽ vượt mặt Otto về sự phản bội đối với Giáo hoàng.
Có lẽ chiến thắng vĩ đại nhất của thanh kiếm tinh thần của Đức In-nô-cen-tê là chiến thắng của ngài trước Vua John (mất năm 1216) của Anh sau một cuộc tranh chấp đã trở thành một sự kiện đáng nhớ trong triều đại của nhà vua và có tầm quan trọng đối với lịch sử thế giới vì mối liên hệ của nó với việc ký kết Magna Carta. John là một người xấu xa—mất cân bằng, tàn nhẫn, hoài nghi, hạnh phúc nhất khi ở bên cạnh những kẻ bất lương khác, những người thích thú với những lời khoe khoang của ông ta để chế nhạo mọi thứ nghiêm túc và thánh thiêng. Tham lam và lười biếng, ông ta đã chết một cách thích đáng vì ăn uống quá độ với đào và rượu táo mới.
Rắc rối của ông ta với Đức Giáo Hoàng In-nô-cen-tê bắt đầu khi, bất chấp Luật Giáo hội yêu cầu bầu cử tự do, John đã cố gắng áp đặt người được ông ta đề cử làm tổng giám mục Canterbury. Sau khi kháng cáo, Đức In-nô-cen-tê đã quyết định chống lại John và đề cử Stephen Langton cho chức vụ này. Stephen đã được giáo sĩ bầu chọn hợp lệ, nhưng John từ chối cho phép ông ta nhập cảnh vào Anh. Đức Giáo Hoàng, người từ trước đến nay luôn tuân thủ nghiêm ngặt Luật Giáo hội, không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ban lệnh cấm tôn giáo ở Anh: Không có nghi lễ tôn giáo nào được phép diễn ra ngoại trừ lễ rửa tội và lễ tang. Lệnh cấm kéo dài gần sáu năm, trong khi đời sống tôn giáo ở Anh hầu như chấm dứt: nhà thờ bị đóng cửa; chuông im lặng; và các linh mục nhàn rỗi, nhiều người trong số họ phải sống lưu vong khi John, để trả đũa, đã ra tay mạnh mẽ bằng cách khủng bố giáo sĩ và tịch thu tài sản của họ.
Nhưng cuối cùng Đức In-nô-cen-tê đã buộc John phải khuất phục vào năm 1213 khi liên minh với Philip Augustus của Pháp, ngài đe dọa xâm lược Anh. Điều đó quá sức chịu đựng đối với John; ông cảm thấy không chắc chắn về sự ủng hộ từ thần dân của mình, những người mà lòng trung thành đã bị thử thách nghiêm trọng bởi lệnh cấm. Ông đã khuất phục một cách nhục nhã, thực hiện một hành động thần phục, và đặt nước Anh dưới sự lệ thuộc phong kiến của Giáo hoàng.
Nhưng rồi một sự đảo ngược nghịch lý đã xảy ra, một màn thứ hai trong vở kịch, đặt Giáo hoàng và John về một phía, còn Stephen Langton, tổng giám mục, và các nam tước về phía kia. Những người sau đã nổi dậy chống lại một số yêu cầu lạm dụng và hành động bạo ngược của nhà vua, và với sự cố vấn và hỗ trợ của Langton, họ quyết định buộc nhà vua phải đưa ra một văn bản đảm bảo quyền lợi của họ. Một cuộc đấu trí và đấu vũ khí đã diễn ra. John đã cầm cây thánh giá, viện dẫn quyền miễn trừ của một người tham gia thập tự chinh và yêu cầu quyền được phân xử của Giáo hoàng. Nhưng cuối cùng các nam tước đã buộc ông phải ký Đại Hiến chương hay Magna Carta tại Runnymede vào ngày 15 tháng 6 năm 1215. Hiến chương này đã khẳng định nguyên tắc chính phủ dựa trên luật pháp thay vì chế độ chuyên chế độc đoán và do đó đại diện cho sự khởi đầu của Hiến pháp Anh.
Tuy nhiên, tất cả chỉ là một trò chơi đối với John. Ngay khi có thể, ông đã kháng cáo lên Giáo hoàng với tư cách là người đứng đầu tối cao của mình và đã thuyết phục được Đức In-nô-cen-tê hủy bỏ Hiến chương. Vị Giáo hoàng này không hề hay biết về tình hình thực tế, lúc đó đang bận rộn với công đồng đại kết và chỉ nhìn thấy khía cạnh pháp lý của vấn đề. Ngài cho rằng Hiến chương vô hiệu vì nó được các nam tước dùng vũ lực để xét xử vụ án của chính họ. Ngài đã rút phép thông công những kẻ thù của John và đình chỉ chức vụ của Langton. Tuy nhiên, khi John đột ngột qua đời, phần lớn quốc gia đã tập hợp xung quanh vị vua trẻ Henry, và tổng giám mục—người đã hòa giải với Giáo hoàng trong một chuyến thăm Rô-ma—đã trở lại để làm người trung gian, giải quyết tranh chấp.
Một vị vua khác buộc phải công nhận quyền lực tối cao của Đức In-nô-cen-tê là Philip Augustus của Pháp (1180–1223). Một sự ác cảm kỳ lạ về thể chất đã khiến ông phải tách rời khỏi bà vợ xinh đẹp Ingeborg người Đan Mạch vào ngày hôm sau lễ cưới năm 1193. Mặc dù không thể xin được giấy hủy hôn, ông ta vẫn đã công khai sống với tình nhân, đồng thời làm cho cuộc sống của Ingeborg trở nên khốn khổ nhất có thể. Bà không chấp nhận số phận và cầu xin Giáo hoàng ban cho mình công lý. Vị tiền nhiệm của ngài chỉ trì hoãn – nhưng Đức In-nô-cen-tê thì không. Ngài quyết tâm chứng minh rằng các vị vua cũng phải tuân theo luật đạo đức, và mặc dù có những lý do chính trị quan trọng để mong muốn tình bạn của Philip, Đức In-nô-cen-tê, trước sự ngoan cố của nhà vua, đã quyết định ban lệnh cấm đối với Pháp. Lệnh cấm chỉ được dỡ bỏ khi Philip khuất phục và thừa nhận Ingeborg là Hoàng hậu của mình. Tuy nhiên, ông vẫn từ chối đối xử với bà như vợ mình, và toàn bộ vụ việc kéo dài nhiều năm, Đức Giáo Hoàng kiên quyết từ chối ban cho bà ly hôn. Cuối cùng, sau hai mươi năm đấu tranh, nhà vua đột nhiên đầu hàng và khôi phục lại tất cả các quyền của Ingeborg với tư cách là vợ và Hoàng hậu.
Là người đứng đầu về mặt tinh thần trong Kitô giáo, các vị Giáo hoàng như Đức In-nô-cen-tê, những nhà lập pháp vĩ đại, quan tâm đến toàn bộ các khía cạnh hành vi của con người và cố gắng điều chỉnh chi tiết cuộc sống và địa vị của mỗi thành viên trong Giáo hội. Các sắc lệnh của các ngài được ghi trong Giáo luật, vốn là bộ luật văn minh nhất thời bấy giờ và có ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng nền văn minh thời trung cổ. Những luật lệ của Giáo hoàng thường được đưa ra dưới dạng câu trả lời cho những câu hỏi cụ thể của các giám mục và – ít nhất là về mặt lý thuyết – có tính ràng buộc đối với toàn thể Giáo hội. Là một trong những thiên tài pháp luật vĩ đại nhất từng ngồi trên ngai tòa Phêrô, Đức In-nô-cen-tê đã đóng góp đáng kể vào khối lượng lớn các sắc lệnh của Giáo hoàng, cuối cùng được đưa vào bộ sưu tập Sắc lệnh của Đức Grê-go-ri-ô IX (1234) – bộ luật đầu tiên có hiệu lực pháp luật phổ quát.
Sự nghiệp lập pháp của Đức Giáo Hoàng đạt đến đỉnh cao tại Công đồng Lateran lần thứ tư, do ngài triệu tập năm 1215 – cuộc họp hoành tráng nhất thời Trung cổ, với hơn bốn trăm giám mục, tám trăm viện phụ và bề trên, cùng nhiều đại sứ từ khắp các vương quốc. Phù hợp với nỗ lực không ngừng của Đức In-nô-cen-tê nhằm nâng cao tiêu chuẩn đời sống giáo dân và giáo sĩ, Công đồng đã quy định việc xưng tội trọng hàng năm và rước lễ hàng năm là bắt buộc. Công đồng cũng quy định các điều kiện để bầu chọn giám mục hợp lệ, tiêu chuẩn để gia nhập hàng giáo sĩ, và thậm chí cả những chi tiết nhỏ nhặt trong đời sống giáo sĩ như trang phục và các hình thức giải trí được phép. Đức In-nô-cen-tê cũng tổ chức lại Giáo triều để đáp ứng những yêu cầu ngày càng tăng. Ba bộ phận chính được thành lập: Giáo phủ (chancery), phụ trách hồ sơ và sắc chỉ; Phòng Tài chính (camera); và Tòa án.
Một công cụ kiểm soát xã hội của Giáo hoàng bắt nguồn từ thời điểm này và bị nhiều người phản đối trong quá khứ là Tòa án Dị giáo. Và một trong những danh hiệu kém vẻ vang hơn của Đức In-nô-cen-tê là ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên sử dụng vũ lực trên quy mô đáng kể để đàn áp các quan điểm tôn giáo. Tân Ước chắc chắn không chứa đựng cơ sở nào cho lý thuyết về sự bách hại, nhưng sau khi Cons-tan-ti-nô trở lại đạo, các Hoàng đế Rô-ma bắt đầu chính sách sử dụng vũ lực chống lại những người dị giáo—đôi khi thậm chí là án tử hình. Chiến thuật này gặp ít sự phản đối từ các Giáo phụ. Thực thế, Thánh Au-gus-ti-nô đã xây dựng trọn một nền thần học về sự bách hại, nhưng nhìn chung, việc sử dụng các hình thức tra tấn tàn bạo hoặc án tử hình đã bị phản đối. Nhưng từ giữa thế kỷ thứ mười hai, chúng ta thấy tư tưởng pháp lý, cả thế tục và giáo hội, đã vượt ra ngoài điều này—thậm chí đến mức cho phép tử hình như một hình phạt có thể dành cho những người dị giáo ngoan cố. Quy định đầu tiên như vậy được tìm thấy trong một sắc lệnh của Peter xứ Aragon (1197). Những ảnh hưởng chính dẫn đến sự thay đổi này là các văn bản của Cựu Ước được giải thích một cách thiếu phê phán và phi lịch sử; sự phục hưng lớn của Luật Rô-ma, quy định án tử hình cho tội dị giáo, mặc dù nó hiếm khi được sử dụng trong thời Rô-ma; sự kiện với sự xuất hiện của thế giới Kitô giáo, Giáo hội đã trở thành một xã hội toàn diện, tương đương với nhà nước và về tổng thể hầu như không thể phân biệt được với nhà nước, đến nỗi những người dị giáo bị coi là mối đe dọa đối với trật tự xã hội.
Đức In-nô-cen-tê trước hết nhận thấy cần phải dùng đến vũ lực để đối phó với giáo phái Cathar, một giáo phái phản xã hội mà các thành viên của họ rao giảng rằng vũ trụ vật chất là sự sáng tạo và công cụ của Satan; do đó họ lên án việc sử dụng mọi thứ vật chất, cấm kết hôn, khuyến khích tự tử, và nói chung đại diện cho một đạo đức kết hợp kỳ lạ giữa khổ hạnh và vô đạo đức. Phong trào này tìm thấy môi trường thuận lợi ở miền nam nước Pháp, và ở nhiều nơi thậm chí còn giành được sự ủng hộ của đa số dân chúng. Nhưng cho đến thời Đức In-nô-cen-tê, các Giáo hoàng quá bận rộn với các cuộc xung đột với các Hoàng đế nên không dành nhiều sự chú ý cho nó. Với năng lực và sự quyết đoán thường thấy, khi nhậm chức, Đức In-nô-cen-tê ngay lập tức hành động để ngăn chặn làn sóng này. Kế hoạch đầu tiên của ngài là dùng thuyết phục và cử nhà thuyết giáo tài ba Dominic (mất năm 1221) đến Pháp, nhưng mười năm nỗ lực hòa bình hầu như không mang lại cải thiện nào. Sau đó, vào năm 1207, sứ thần của Đức In-nô-cen-tê là Peter xứ Castelnau bị sát hại dã man, dường như là do sự xúi giục của một người bị nghi ngờ là tín đồ Cathar, Bá tước Raymond xứ Toulouse. Nhu cầu về các chiến thuật khác dường như là điều cấp thiết. Một cuộc thập tự chinh được tuyên bố chống lại những người Albigenses (Cathar), như đôi khi họ được gọi: Hai đạo quân lớn dưới sự chỉ huy của Simon de Montfort đã hội tụ ở tây nam nước Pháp, tấn công các thành phố Beziers và Carcassonne, và tàn sát cư dân của chúng. Cuối cùng, tại Trận Muret, họ đã đánh bại những kẻ dị giáo một cách dứt khoát.
Chính liên quan đến cuộc thập tự chinh này mà hệ thống Tòa án Dị giáo của Giáo hoàng ra đời—một tòa án đặc biệt do các Giáo hoàng bổ nhiệm và có nhiệm vụ truy tìm những kẻ dị giáo. Cho đến lúc đó, trách nhiệm này thuộc về các giám mục địa phương. Tuy nhiên, để đối phó với mối đe dọa từ phái Cathar (Albigensian), Đức In-nô-cen-tê thấy cần thiết phải cử các đại biểu được giao quyền hạn đặc biệt, độc lập với quyền lực giám mục. Năm 1233, Đức Grê-go-ri-ô IX đã tổ chức cơ quan lâm thời này thành một hệ thống các quan tòa thường trực, thường được chọn từ các tu sĩ khất thực, dòng Đa Minh và dòng Phanxicô, những người thường nổi bật bởi lòng dũng cảm, liêm chính, thận trọng và nhiệt huyết cao độ.
Mặc dù ít thành viên trong số đó là những kẻ cuồng tín và tàn bạo như được mô tả trong các tài liệu chống giáo sĩ rùng rợn về Tòa án Dị giáo, nhưng bản thân hệ thống này vẫn cung ứng một lời bình luận đáng lo ngại về các tiêu chuẩn công lý thời trung cổ. Các nạn nhân bị buộc tội dựa trên những lời tố cáo ẩn danh; họ không được phép có nhân chứng bênh vực cũng như không được tư vấn pháp lý; cả người vô tội lẫn người có tội thường bị ép phải xưng vì bị tra tấn dã man, điều này đã được quy định rõ ràng trong sắc lệnh của Đức In-nô-cen-tê IV năm 1252, Ad extirpanda.
Quả thực có những khía cạnh đáng ngờ. Nhưng nhìn chung, chúng ta có thể nói rằng chế độ quân chủ giáo hoàng toàn cầu—bắt đầu từ Đức Gre-go-ri-ô VII và đạt đến đỉnh cao với Đức In-nô-cen-tê III—về nhiều mặt là một thành công đáng kể. Trong bối cảnh hỗn loạn của thời đại, nó đại diện cho một yếu tố ổn định và tượng trưng cho các ý tưởng về trật tự và công lý. Bằng việc tuyên bố Hưu chiến vì Chúa [Truce of God] và cấm các cuộc đấu trên ngựa, nó đã chống lại sự vô luật lệ của chế độ phong kiến, “trong khi tấm gương mà nó mô tả về một chế độ quân chủ tinh thần thống nhất các quốc gia dưới sự cai trị của nó hoàn toàn trái ngược với sự vô chính phủ mà chế độ phong kiến không kiềm chế tạo ra trong các vấn đề thế tục.”(53) Nhờ sự quan tâm hàng đầu của các ngài đối với việc xây dựng và thực thi luật pháp, những vị Giáo hoàng luật học này đã đóng góp rất nhiều vào trật tự cơ bản của xã hội thời trung cổ và khiến thế giới hiện đại mang ơn họ rất nhiều.