BIÊN BẢN HỘI THẢO HIV/AIDS TẠI HÀ NỘI

Từ 14 đến 16-1-2008

I- THÀNH PHẦN THAM DỰ: 74 tham dự viên

1- Các Đức Giám Mục Giáo phận Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn.
2- Các tham dự viên đại diện 14 giáo phận có nhiều người nhiễm HIV/AIDS: Hà Nội, Long Xuyên, Bà Rịa, Nha Trang, Mỹ Tho, Huế, Cần Thơ, Lạng Sơn, Bùi Chu, Thanh Hoá, Xuân Lộc, Hải Phòng.
3- Các tham dự viên từ các phòng khám, mái ấm, nhóm thiện nguyện Gp. TP.HCM.
4- Các đại diện tổ chức phi chính phủ: UNAIDS, Misereor, Caritas Internationalis, Caritas Germany, Aition Aid, CRS.
5- Anh Lê Thái Tuấn, Giám đốc Chương trình AIDS Hà Nội.

II- PHƯƠNG PHÁP HỘI THẢO
Mr. Hubert và cô Tâm Đan giúp điều phối trong 3 ngày hội thảo.
- Ngày thứ nhất: Làm việc từ cái đầu, phải lắng nghe và đặt nhiều câu hỏi để phát triển kiến thức.
- Ngày thứ hai: Làm việc bằng con tim và lòng nhân ái.
- Ngày cuối cùng: Làm việc bằng đôi tay và kế hoạch thực hiện.

DIỄN VĂN CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC GIUSE NGÔ QUANG KIỆT, GIÁM MỤC GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Đức TGM chia sẻ niềm vui với các tham dự viên đến với cuộc Hội Thảo, sự vui mừng vì UB BAXH thuộc HĐGMVN quan tâm và tổ chức cuộc Hội Thảo; cũng như nói lên điều mong ước từ lâu của giáo phận Hà Nội về hoạt động trong lĩnh vực HIV. Đức TGM cũng cho biết năm 2007 một số Soeurs ở Huế đã cộng tác với TGM Hà Nội để thực hiện công tác này. Đức TGM nhận định Hội Thảo này là Hội Thảo đang mở ra những tấm lòng, HIV như một luồng gió lạnh đang lan tràn trên đất nước Việt Nam, cần nhiều tấm lòng nhân ái để trở thành những lò sưởi, phá tan ngọn gió lạnh.

Đức TGM chúc Hội Thảo tốt đẹp, thành công trong phương cách làm cho tấm lòng luôn rộng mở để phục vụ tất cả anh chị em đang sống chung với HIV.

DIỄN VĂN CỦA ÔNG EAMONN MURPHY (Đại diện UNAIDS tại VN)

Ông Eamonn Murphy, Đại diện UNAIDS tại VN, chia sẻ với Hội Thảo kinh nghiệm làm việc HIV trong 20 năm qua. Ông vui mừng vì có sự hiện diện của các vị lãnh đạo của Giáo hội Việt Nam trong cuộc Hội Thảo.

Theo ông, đại dịch HIV ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào đối tượng sử dụng ma tuý và qua quan hệ tình dục (gái mãi dâm). Do dó, vai trò phòng ngừa là rất quan trọng, nhưng vai trò này ở Việt Nam lại rất yếu. Ông cũng nêu lên những vấn đề mà Hội Thảo cần quan tâm, đó là sự kỳ thị phân biệt với người có HIV, vai trò phòng ngừa của Giáo Hội trước đại dịch, vấn đề sử dụng bao cao su, kim tiêm, người nhiễm HIV hoà nhập cộng đồng mà không lây lan cho cộng đồng.

Ông nhấn mạnh ngoài vai trò chăm sóc hỗ trợ mà Giáo Hội đã làm, còn phải lên kế hoạch cho công tác dự phòng. Các tổ chức tôn giáo có vai trò quan trọng trong công tác HIV, vai trò của người lãnh đạo phải làm sao liên kết được với các tôn giáo khác để thực hiện công tác này.

Ông cũng chia sẻ rằng HIV không phải là sự trừng phạt của Thiên Chúa, người Kitô hữu phải luôn luôn phân biệt giữa hành động và suy nghĩ.

DIỄN VĂN CỦA BÀ CHRISTINE WEGNER SCHNEIDER (Đại diện Caritas Germany)

Bà Christine Wegner Schneider, Đại diện Caritas Germany, thể hiện niềm vinh dự được tham dự cuộc Hội Thảo và gửi đến Hội Thảo lời chúc mừng của Đức Ông Tổng Giám đốc Caritas Germany, và người đứng đầu Caritas Internationalis cùng người đứng đầu bộ phận Caritas cho VN. Bà Christine Wegner Schneider trình bày sự tác hại của đại dịch HIV là nguyên nhân thứ tư gây tử vong trên toàn thế giới; nhiều hoạt động, nhiều chương trình HIV của các tổ chức, giáo phận, giáo xứ, dòng tu được mở rộng sau cuộc hội thảo HIV tại TP.HCM vào năm 2005.

Bà cũng mong muốn cuộc Hội Thảo lần này lan toả đến nhiều giáo phận khác để chia sẻ thông tin, học hỏi kinh nghiệm của nhau. Caritas là thành viên của mạng lưới đại kết về đại dịch HIV/AIDS trên toàn thế giới rất mong được liên kết và đồng hành với Giáo hội Việt Nam trong công tác này, để những người có HIV được vui sống trong xã hội.

BÀI THAM LUẬN CỦA ĐỨC ÔNG VITILLO

Trước tiên, Đức Ông cám ơn Đức TGM và UBBAXH đã tổ chức cuộc Hội Thảo.
Kế đến, ngài chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm về phòng chống HIV/AIDS trên hoàn cầu và sự quan tâm đặc biệt của Giáo Hội trước đại dịch này.

Đức ông trình bày những lý do mà Giáo Hội quan tâm đến HIV. Ngài nhắc lại giáo huấn của Công đồng Vatican II rằng: Thế giới là niềm vui và hy vọng của Giáo Hội. Và sự quan tâm của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khi nói đến số người tử vong do HIV cao là hồi chuông cảnh báo những người có trách nhiệm trong Giáo Hội, và công tác chăm sóc người có HIV là một phần công việc của Giáo Hội. Ngài nhấn mạnh đến sứ mạng 3 mặt của các Kitô hữu là loan báo Lời Chúa với những hiểu biết và chia sẻ kinh nghiệm về HIV cho mọi người, sứ mạng phục vụ những người khốn khổ đang sống chung với HIV, sứ mạng cử hành bí tích cho những người có HIV/AIDS.

Cuối cùng, ngài cũng muốn chia sẻ với những linh mục và tu sĩ kỳ thị người có HIV/AIDS rằng: HIV/AIDS không phải là hình phạt của Thiên Chúa. Khi chúng ta nói về HIV thì người có HIV sẽ hiểu và cảm nhận được chúng ta đang quan tâm đến vấn đề này và giúp họ tự tin để chia sẻ với chúng ta, và khi chúng ta không sợ HIV thì người có HIV mới dám đến với chúng ta. Khi thấu hiểu được nổi đau khổ của người có HIV, chúng ta có thể đồng hoá đau khổ của người có HIV với đau khổ của Chúa Giêsu trên thập giá. Là con cái của Thiên Chúa, chúng ta phải chuyên tâm cầu nguyện, Thiên Chúa sẽ giúp ta giải quyết vấn đề này.

BÀI THAM LUẬN CỦA MR. GRED (Đại diện tổ chức CRS Việt Nam)

Catholic Reief Service là tổ chức cứu trợ Hoa Kỳ, làm việc trên 99 nước trong vấn đề hỗ trợ phát triển và HIV/AIDS. Từ năm 1980, tổ chức đã thực hiện công tác này tại châu Phi, và hiện nay hỗ trợ trên 56 nước. Năm 2004, tổ chức CRS quan tâm đặc biệt vấn đề HIV tại Việt Nam vì HIV tại Việt Nam tập trung chứ không phải tràn lan như các nước khác, và đặc biệt đại dịch lại tập trung vào đối tượng ma tuý và mãi dâm. CRS đưa ra nhiều chương trình để giúp HIV trong đối tượng sử dụng ma tuý. Hiện nay CRS có hai chương trình tại Việt Nam: Một ở tại Lạng Sơn làm việc với Uỷ ban Phòng chống AIDS Lạng Sơn để giúp các đối tượng HIV hội nhập cộng đồng. Hai là tại huyện Hóc Môn, TP.HCM, Trung tâm Y tế Dịch vụ Xét nghiệm, Chăm sóc Giảm nhẹ và Chăm sóc Cuối đời.

Ông chia sẻ những thử thách và khó khăn của CRS trong lĩnh vực này là ở Việt Nam ma tuý vẫn bị coi là tệ nạn, trong khi các nước phương Tây coi là một căn bệnh mãn tính tái phát thường xuyên, nên khi nói đến phòng ngừa HIV thì phải nói đến việc phòng ngừa ma tuý và ngược lại. Khó khăn thứ hai là do tình hình kinh tế thay đổi rất nhanh nên lượng dân di chuyển tìm công ăn việc làm thay đổi theo. Khó khăn thứ ba là những người sống chung với HIV có rất là nhiều nhu cầu, do đó cần phải có nhiều tổ chức cùng hoạt động chung trong lĩnh vực này.

Điểu đặc biệt mà ông Gred thấy được nơi Giáo hội Việt Nam là sự liên kết với nhau để tạo thành mạng lưới hoạt động giúp cho người có HIV, và điểm nổi bật của cuộc Hội Thảo là tình yêu và sự dấn thân của các tham dự viên.

BÀI THAM LUẬN CỦA BÀ TRẦN THỊ NHIỄU (Đại diện tổ chức Action Aid)

Bà Trần Thị Nhiễu, đại diện tổ chức Action Aid trình bày mục đích, đối tượng và phạm vi triển khai chương trình hoạt động của Action Aid tại TP.HCM. Nêu 5 vấn đề mà tổ chức quan tâm đó là Quyền có lương thực, Giáo dục, Quyền phụ nữ, Thể chế, HIV/AIDS. Trong đó, đặc biệt quan tâm HIV/AIDS truyền từ mẹ sang con. Chiến lược thực hiện gồm 3 điểm: ngăn ngừa lây nhiễm, nâng cao quyền con người của người có HIV, tác động đến Nhà nước để thực thi quyền con người. Phương pháp truyền thông của Action Aid là truyền thông cá nhân và liên kết với nhiều tổ chức, nhóm, các dịch vụ khác trong xã hội.

CÁC CÂU HỎI CỦA THAM DỰ VIÊN

1- Làm thế nào để giúp các linh mục quan tâm đến HIV/AIDS nhiều hơn?
2- Khi các vị chủ chăn, lãnh đạo không muốn tham gia thì sao?
3- Làm thế nào để giúp người có HIV tự tin trong cuộc sống tương lai?
4- Nội dung truyền thông giáo dục HIV/AIDS
5- Nội dung và phương pháp để giáo dục thanh thiếu niên và cha mẹ?
6- Chăm sóc cho người sắp lìa đời?
7- Phải làm thế nào về vấn đề giáo dục tình dục?
8- Chúng ta phải làm thế nào để giúp các bạn trẻ về giới tính khi sự dậy thì đến sớm, mà tuổi kết hôn lại trễ?
9- Giáo Hội có ý kiến gì về bao cao su?
10- Làm sao giúp người sống với HIV hoà nhập cộng đồng?
11- Còn người nghèo và do di dân xa nhà xa vợ xa chồng, họ phải làm như thế nào để sống chung thuỷ hoặc không thủ dâm?
12- Có phải dùng thuốc thay thế Metadone là một phương cách tốt nhất cho người nghiện ma tuý?
Đức Ông Vitillo đã lần lượt trả lời câu hỏi cho các tham dự viên:
1. Làm thế nào để giúp các linh mục quan tâm nhiều hơn về HIV/AIDS?

Cách thứ nhất: Giáo Hội chúng ta khắp nơi đều quan tâm đến vấn đề này. Vậy ở những nơi mà Giáo Hội chưa quan tâm lắm thì chúng ta giáo dục những người lãnh đạo chúng ta. Từ giám mục, linh mục, tu sĩ.. khi các vị chủ chăn quan tâm thì các ngài sẽ kêu gọi người khác quan tâm. Cách thứ hai: cho các vị lãnh đão được nói chuyện với người có HIV. Ngài nghe được những đau khổ của người HIV nên ngài quan tâm. Cách thứ ba: chúng ta mời các vị chủ chăn lãnh đạo đi thăm những nơi chúng ta đang hoạt động trong công tác này.

2. Khi các vị chủ chăn, lãnh đạo không muốn tham gia thì sao?

Tôi nghĩ: ngay lập tức các bạn muốn họ trở thành những chuyên viên để nói về HIV thì họ không dám, mình chỉ tìm cơ hội giúp họ đến mục vụ, rồi từ từ họ sẽ quan tâm đến và họ sẽ tham gia.

3. Làm thế nào để giúp người có HIV tự tin trong cuộc sống tương lai?

Đôi khi nhiều hoàn cảnh quá khứ đè nặng làm họ không dậy nổi, đặc biệt mỗi hoàn cảnh của mỗi người khác nhau nên không thể giải quyết giống nhau. Nhưng theo tôi, chúng ta phải nhìn vào hoàn cảnh thực tiễn của họ để qua đó chúng ta có hướng giúp họ vượt qua hơn là ép buộc. Ví dụ: một người sống hành nghề mãi dâm, khi chúng ta đến nói rằng không làm nghề này nữa, thì làm sao họ bỏ nghề được, mà chúng ta cần giúp họ có một nghề khác tốt hơn để họ thoát khỏi nghề này. Nếu chúng ta nhìn được điểm tốt của họ họ sẽ tự tin hơn, còn chúng ta, thì chúng ta phải tôn trọng họ và đồng hành với họ, đặc biệt chúng ta là người Công giáo thì chúng ta cũng phải tha thứ theo phương cách Chúa tha thứ.

4. Nội dung truyền thông giáo dục HIV/AIDS

95% lây vi rút HIV lan qua đường tình dục, nên không thể né tránh khi nói về vấn đề tình dục. Giáo Hội chúng ta cũng năng động trong việc hỗ trợ khẩu trang, găng tay để các người nhân viên phục vụ không bị phơi nhiễm nghề nghiệp và không bị lây lan. Chúng ta cần phải xét nghiệm cho tất cả các bà mẹ có thai, trong trường hợp bà mẹ mang thai bị nhiễm thì giúp họ uống thuốc để phòng ngừa lây từ mẹ sang con. Có nhiều nơi Giáo Hội đưa ra chương trình hỗ trợ dinh dưỡng để trẻ không bú sữa từ mẹ.

5. Nội dung và phương pháp để giáo dục thanh thiếu niên và cha mẹ?

Tham vấn hiệu quả và tư vấn không chỉ giới hạn làm sao không lây lan HIV, nhưng chúng ta cần giúp cho người lớn và trẻ hiểu được bản thân họ và giúp cho họ hiểu các khía cạnh khác nhau: niềm tin, đời sống thiêng liêng, thể lý, tâm lý… Nếu chúng ta giúp họ hiểu được một khía cạnh về giới tính thôi thì họ không thể hiểu tổng quan về con người được. Vì thế, điều khó nhất là làm sao giúp cho họ hiểu được giá trị của bản thân, nếu một người không nhìn thấy giá trị của mình thì sao họ có được niềm hy vọng.

6. Chăm sóc cho người sắp lìa đời?

Thời gian đầu thì chúng ta thường nói về chăm sóc cho người sắp chết. Nhưng thời gian gần đây khi nhiều người uống thuốc rồi thì chúng ta nên tập trung vào vấn đề sống với HIV, chúng ta cần giáo dục họ ý thức để sống với đại dịch này. Mặc dầu vậy thuốc uống cho người có AIDS một thời gian sẽ mất tác dụng, do đó nơi tốt nhất là gia đình của họ để họ được sống và chết. Nhưng trong trường hợp không còn nơi nào cho họ thì Giáo Hội cần có những nơi chăm sóc cho họ. Chúng ta vẫn tôn trọng bảo vệ nhân phẩm họ, chúng ta không nên cô lập họ, vì thế chúng ta phải luôn tự hỏi mình rằng: chúng ta đã tôn trọng, đã tạo môi trường tốt, đã động viên gia đình họ thăm viếng người có AIDS chưa?…

7. Phải làm thế nào về vấn đề giáo dục tình dục?

Vấn đề này khó nói không phải chỉ nơi các linh mục, tu sĩ nhưng cho tất cả mọi người. Bất cứ đất nước nào tôi đến họ đều nói văn hoá chúng tôi không cho phép nói về giới tính. Thế nhưng khi những người đàn ông tụ lại với nhau họ nói về vấn đề gì nhiều nhất? Các bà, giới trẻ cũng vậy? về vấn đề này chúng ta nhớ rằng: giới tính tình dục là quà tặng của Thiên Chúa, chúng ta không sợ khi nói về giới tính. Linh mục, tu sĩ chúng ta là khấn khiết tịnh độc thân nhưng chúng ta vẫn là người còn giới tính, nhưng chúng ta không quan hệ giới tính. Và khi chúng ta học hỏi về giới tính của mình, chúng ta cảm nghiệm được giá trị giới tính của người khác.

8. Chúng ta phải làm thế nào để giúp các bạn trẻ về giới tính khi sự dậy thì đến sớm, mà tuổi kết hôn lại trễ?

Chúng ta phải nhìn vấn đề này trong một bức tranh tổng thể, xây dựng mối quan hệ giữa nam và nữ lớn hơn quan hệ giới tính. Cần cho giới trẻ hiểu rõ hơn về các giá trị trong đời sống, các bậc cha mẹ phải giải thích cho con cái hiểu… vì thế chúng ta tạo môi trường, tạo cơ hội cho bạn trẻ nói về cảm xúc của mình, đặc biệt nói về cảm xúc của mình trong vấn đề giới tính, tạo các hoạt động vui chơi lành mạnh mà không cần phải liên quan đến tình dục. Tại sao Đức Thánh Cha Gioan Phaolô cuốn hút các bạn trẻ vậy? Lý do là ngài làm cho các bạn trẻ hiểu và giúp các bạn trẻ tôn trọng mình. Ngài không ngại nói với các bạn trẻ về giới tính, nhưng cùng lúc ngài không đồng quan điểm các bạn trẻ quan hệ trước hôn nhân.

9. Giáo Hội có ý kiến gì về bao cao su?

Nhiều quốc gia tin tưởng sử dụng bao cao su là ngăn chặn HIV/AIDS, nhưng thực tế đại dịch HIV vẫn lan rất nhanh trong nhiều năm qua. Và cho đến thời điểm này, chúng ta nhớ rằng các Đức Thánh Cha chưa đưa ra một giáo huấn nào về việc sử dụng bao cao su trong tương quan với AIDS. Đức Thánh Cha Phaolô VI, năm 1968, khuyên các cặp hôn nhân không sử dụng bao cao su và các phương pháp khác để ngừa mang thai, sinh nhiều con. Đây chỉ là phương pháp ngừa thai nhân tạo, vì thế chúng ta không thể nói lại là Giáo Hội chống lại việc sử dụng bao cao su trong việc ngừa HIV. Nhưng Giáo Hội nói rằng phương pháp phòng ngừa HIV tích cực là không quan hệ giới tính trước hôn nhân. Trong các chương trình thông tin về HIV cho họ biết về thông tin không quan hệ hôn nhân trước và không sử dụng bao cao su.

Khi chúng ta cho một thông tin tổng quát như vậy thì cho các bạn trẻ hiểu tại sao Giáo Hội chọn như vậy, và các bạn trẻ lựa chọn con đường tốt nhất cho mình.

Trong trường hợp vợ chồng có 1 trong 2 người bị HIV, thì có ít nhất 2 hội đồng giám mục ở châu Phi lên tiếng chúng ta không thể cấm họ quan hệ, và trong trường hợp này, chúng ta dạy họ biết tất cả các phương pháp để ngăn ngừa HIV và để cho họ quyết định. Hoặc là họ chọn quan hệ nhưng sử dụng bao cao su, và trong bối cảnh này chúng ta phải hiểu sử dụng bao cao su không phải là ngừa thai mà ngừa căn bệnh chết người này.

10. Làm sao giúp người sống với HIV hoà nhập cộng đồng?

Cho họ gia nhập vào mọi công việc trong Giáo Hội, chúng ta không chỉ dùng lại ở cầu nguyện cho họ, mà chúng ta phải mời gọi họ cầu nguyện chung với mình. Cách làm tốt nhất là mời gọi họ cùng tham gia để họ thể hiện họ là một chủ thể hiện hữu. Vì thế, chúng ta cần xác định rõ tất cả các cơ sở Giáo Hội không bao giờ có sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV, tạo cơ hội cho họ hội nhập và tham gia trong cộng đồng và như người nhân viên cùng phòng ngừa HIV, các trẻ cần được đến trường học, điều này rất khó vì phụ huynh làm áp lực, nhưng phải làm việc với các hiệu trưởng để khẳng định rõ các quan điểm của mình và giải thích cho phụ huynh hiểu rõ về sự lây lan của HIV.

11. Còn người nghèo và do di dân xa nhà xa vợ xa chồng, họ phải làm như thế nào để sống chung thuỷ hoặc không thủ dâm?

Trước tiên mình không nhìn đến họ là dân nhập cư nên mới nghèo, mà chúng ta cần nhìn vào khía cạnh rộng hơn. Chúng ta phải chấp nhận những người nhập cư nghèo vì chúng ta mua đồ rẻ, tội lớn nhất là tội chấp nhận và cổ vũ bất công hơn là tội trách nhiệm của họ. Giáo Hội chống lại sự bất công trong xã hội, một cá nhân có thể làm gì trong hoàn cảnh cá nhân này xa nhà quá lâu, đối với các bạn trẻ Công giáo thì khuyên trao đổi với các cha trong toà giải tội. Tôi nghĩ là Giáo Hội khôn ngoan có nguyên tắc đạo đức chung, và có hướng giải quyết cho từng trường hợp một.

12. Có phải dùng thuốc thay thế Metadone là một phương cách tốt nhất cho người nghiện ma tuý?

Từ trước đến nay chưa có 1 loại thuốc hoặc là phương pháp điều trị nào thành công cho người nghiện ma tuý, ngay cả thuốc metadone, hiện nay VN đang cố gắng thực hiện chương tình metadone. Vấn đề metadone và vấn đề hỗ trợ liên tục sau khi trở về cộng đồng, chúng ta phải nhớ sử dụng thuốc thay thế metadoen, nhưng thái độ thay đổi hành vi là phương pháp đi cùng metadone. Đa số những người nhiễm HIV ở VN là sử dụng ma tuý, chúng ta cần giúp họ bằng cách này hay cách khác để giúp họ giảm thiểu hành vi của họ. Ví dụ: chúng ta có thuốc hỗ trợ ARV rồi nhưng chúng ta không hỗ trợ xã hội cho họ, nên dễ thất bại, vấn đề thay đổi hành vi và vấn đề hỗ trợ xã hội là vấn đề chính hơn là vấn đề dùng thuốc thay thế.

Mặt khác về phía Giáo Hội, chúng ta còn có chương tình hỗ trợ tâm lý, tâm linh cho người sử dụng ma tuý.

BÀI THAM LUẬN CỦA DOCTOR CLEMENT OCHEL

Chia sẻ: SỰ THAY ĐỔI CỦA QUÝ VỊ TRONG CÔNG TÁC CHĂM SÓC HỖ TRỢ NGƯỜI CÓ HIV TỪ NĂM 2004 ĐẾN NAY

Doctor Clement Ochel Chia sẻ cảm nhận khi lần đầu tiên, năm 2004, đến giúp Giáo hội Việt Nam về lĩnh vực HIV/AIDS, và những kinh nghiệm học hỏi được từ những buổi làm việc tại cộng đoàn Mai Linh, trung tâm Mai Hoà, từ các thiện nguyện viên, các chuyên viên y tế. Tuy nhiên, ông lại thấy ngoài việc có những nhà nuôi trẻ ở các trung tâm, việc cần phải làm là phải có chương trình giúp trẻ sống tại cộng đồng. Các nhóm bạn giúp bạn, đồng đẳng cũng rất qan trọng trong công tác phòng chống HIV nên Giáo Hội cần quan tâm đến khía cạnh này. Bên cạnh đó, ông cũng vui mừng chia sẻ những thành quả đạt được trong việc trang bị kiến thức để nâng cao việc chăm sóc điều trị người có HIV/AIDS và sự hợp tác phối hợp của các phòng khám và các nhóm trong công tác chăm sóc và phòng chống HIV.

BÀI THAM LUẬN CỦA FR. TOẠI (đại diện Giáo phận Tp.HCM)

Trước tiên, linh mục trình bày quá trình hình thành công tác chăm sóc cho những người có HIV:

Năm 1998, Lm. Vũ Khởi Phụng đã tổ chức thánh lễ cầu nguyện cho người HIV, và từ đó Nhóm Tiếng Vọng hình thành, trong đó có 1 bác sĩ.

Năm 2004, Đức Hồng Y gửi các tu sĩ đến Trung tâm Trọng Điểm để phục vụ bệnh nhân AIDS. Công tác này được phân làm 2 mảng:

1- Các tu sĩ phục vụ bệnh nhân AIDS tại Trung tâm Trọng Điểm.
2- Các giáo dân chăm sóc bệnh nhân AIDS tại TP.HCM

Sau nhiều nguyên do và nhu cầu của bệnh nhân, cuối cùng phòng khám Mai Khôi được hình thành.

Tháng 7 năm 2005, nhận thấy nhu cầu các bà mẹ và trẻ em có HIV cần được chăm sóc nên Mái ấm Mai Tâm cũng được hình thành.

Hội thảo HIV vào năm 2005, đã vạch ra 5 nhu cầu lớn:

1- Hỗ trợ về chuyên môn.
2- Xây dựng năng lực cho đội ngũ tình nguyện viên.
3- Tư cách pháp nhân và nguồn tài chính.
4- Sự phản ứng từ một số các linh mục, tu sĩ, hội đồng giáo xứ.
5- Liên kết với nhau.

Sau đó chúng tôi đã ngồi lại để tìm hiểu:

+ Làm sao để nâng cao nhận thức về HIV/AIDS của các lãnh đạo?
+ Làm sao nâng cao nhận thức về HIV/AIDS giữa các linh mục, tu sĩ…?
+ Làm sao để huấn luyện về HIV/AIDS cho hội đồng mục vụ giáo xứ?
+ Để xây dựng nên nhóm tình nguyện tại các giáo xứ, bằng cách đã đến các giáo xứ để truyền thông về HIV.
+ Làm sao để xây dựng năng lực cho các em hỗ trợ tại Mai Linh, các bà mẹ tại Mái ấm Mai Tâm, phòng khám.

Kế đến, linh mục chia sẻ phương pháp làm việc của Giáo phận theo Mô hình thân chủ là trọng tâm:

1- Người nhiễm HIV được đón nhận để chăm sóc/chữa trị tại các phòng khám C nếu bệnh nặng chuyển đến bệnh viện/chẩn đoán C sau đó trở về cộng đồng/trở về gia đình hoặc mái ấm/nhà nương tựa C sức khoẻ được phục hồi, tạo công ăn việc làm để sống tự lập C nơi để ra đi nhẹ nhàng thanh thản.

2- Thân chủ nhiễm HIV: có thể đến phòng khám Mai Khôi/Xóm Mới/Phú Trung/Camillô hoặc các nơi để được hỗ trợ.

3- Các phòng khám: + Phòng khám Mai Khôi.
+ Phòng khám tư nhân.
+ Phòng khám giáo xứ.

4- Hoạt động giúp trực tiếp: Mái ấm Mai Tâm giúp đào tạo nghề, nhà tự lập, shop hoa để bán bông.

5- Nhà nương tựa: Trung tâm Mai Hoà, Nhà Cỏ, Nhà Cầu Dừa, Nhà Nagia.

BÀI CHIA SẺ CỦA CHỊ TRẦN THỊ LỆ

Chị bị bệnh đã 8 năm và đang sống tại Mái ấm Mai Tâm. Chị bị gia đình kỳ thị nên suy sụp tinh thần. Qua sự giới thiệu của chị Hằng, chị được đến Mái ấm Mai Tâm. Tại đây chị được các linh mục và tu sĩ chăm sóc cùng điều trị, được học nghề may. Sức khoẻ của chị và con chị đã được bình phục, chị đã biết may. Hiện nay chị đang sống trong nhà tự lập và may hàng gia công.

ĐÚC KẾT NGÀY ĐẦU TIÊN CỦA MR. HUBERT HEINDL

Ông Hubert, điều phối viên của Hội thảo, tóm lược những chia sẻ của Đức Ông Vitillo về quan điểm và giáo huấn cùa Giáo Hội về HIV, chia sẻ của các tham dự viên về cách phục vụ người HIV, sự hiểu về xã hội, học hiểu về giới tính đối với mọi người mà các tham dự viên đã được học qua việc chia sẻ và trao đổi với nhau.

- Qua các bài chia sẻ đã giúp Hội thảo nhận thức được những khó khăn tồn tại, những cản trở khi chăm sóc hỗ trợ người có HIV. Theo ông Hubert, chúng ta cần trung thực chấp nhận rằng chúng ta e dè khi đến gặp gỡ người có HIV, chúng ta còn sợ và chỉ cầu nguyện cho người có HIV mà chưa dám cùng họ cầu nguyện trong nhà thờ, nhiều khi từ chính bản thân chúng ta yêu thương theo kiểu cho đi chứ chưa có sự đồng cảm theo sự tham gia cộng tác, chúng ta còn tồn tại việc xét đoán, chưa chấp nhận họ, và qua việc chia sẻ chúng ta có sự thay đổi từ cái nhìn là: TỪ CHẾT VÌ AIDS SANG SỐNG VỚI AIDS.

Qua ngày làm việc đầu tiên, Hội thảo đã đạt được:

- Xác định được các từ khoá quan trọng để làm việc cho ngày kế tiếp đó là: MẠNG LƯỚI và TÌNH YÊU.
- Mỗi người có nhu cầu cần được học hỏi và thay đổi, cần tăng năng lực và tiếp nhận người có HIV cùng tham gia.
- Nâng cao nhận thức cho cộng đồng, cho mỗi người về phòng chống HIV.
- Nhu cầu cần thiết lập mạng lưới trong và ngoài Giáo Hội, và liên kết với các tổ chức, các dịch vụ bên ngoài.
- Xây dựng năng lực từ phía giáo phận, giáo xứ, hội đồng giáo xứ…
- Xây dựng năng lực từ phía giáo dân, tu sĩ, linh mục…