NGÀY 15/ 1/ 2008

BÀI CHIA SẺ CỦA BÁC SĨ LAN HẢI

Bác sĩ Lan Hải đã nghiên cứu về vấn đề Đời sống Tình dục của những Người sử dụng Ma tuý để qua đó chúng ta cần huấn luyện giới tính cho họ như thế nào.

Sau khi người nghiện ma tuý cắt cơn nghiện, thì thường xuất hiện ham muốn tình dục, nhưng do hoàn cảnh không thể gặp được đối tượng yêu thương nên họ tự thủ dâm hoặc quan hệ với những người đồng giới, họ lại thích tỏ thái độ quấy nhiễu tình dục với phái nữ, thích được các người nữ chăm sóc, hoặc có trường hợp quấy nhiễu tình dục trong toà giải tội…

Tỉ lệ đồng tính luyến ái ngày càng tăng, chúng ta giúp đỡ họ như thế nào? Đồng tính nam thì dễ phát bệnh hơn do lây qua nhiều đường. Tình nguyện viên và người có HIV yêu nhau, giải quyết thế nào?

BÀI CHIA SẺ CỦA BÁC SĨ TIẾN

Bác sĩ Tiến nghiên cứu về Đời sống Hôn nhân của những người có HIV/AIDS.

2 vấn đề cần quan tâm:

- Một là họ muốn sống với nhau như vợ chồng nhưng rất sợ có con.

- Hai là họ không muốn sống như hôn nhân nhưng muốn quan hệ theo sở thích.

BÀI CHIA SẺ CỦA BÁC SĨ THANH

CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ CHO BỆNH NHÂN CÓ HIV/AIDS Ở GIAI ĐOẠN CUỐI

Bác sĩ Thanh, đại diện phòng khám Mai Khôi, chia sẻ những thuận lợi và khó khăn sau hai năm phục vụ chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân có HIV ở giai đọan cuối.

Thuận lợi:

1. Phòng Khám Mai Khôi toạ lạc ở trung tâm thành phố trên một diện tích 61,4m2, trong khuôn viên của tu viện các cha dòng Đa Minh, bệnh nhân dễ tiếp cận vì đường giao thông thuận tiện. Ngoài ra, Phòng khám Mai Khôi còn có 1 điểm vệ tinh là Phòng khám Đa khoa Xóm Mới, cách đó 14km, để chuyển đổi cho việc điều trị được tối ưu.

2. Phòng khám Mai Khôi là một phòng khám ngoại trú duy nhất cho bệnh nhân HIV/AIDS (OPC) trong TP.HCM, có bác sĩ ngoại khoa và chuyên khoa lao.

3. Nhân viên phục vụ là những người Kitô giáo có lý tưởng phục vụ bệnh nhân theo đức tin Kitô giáo. Vì thế, bệnh nhân được tận tình chăm sóc, và tuỳ nhu cầu, bệnh nhân được lãnh nhận các bí tích và hỗ trợ tâm linh.

Mặc dù có những điều kiện thuận lợi nêu trên, qua hai năm làm việc chúng tôi rút được một số nhận định sau đây:

Thành quả đạt được và những khó khăn gặp phải:

1. Về chuyên môn:

• Có một bác sĩ ngoại khoa lão thành, và các bác sĩ khác sẵn sàng phục vụ hết khả năng. Đây là điểm đặc thù của Phòng khám Mai Khôi. Trên thực tế, các bệnh nhân có hạch lao ngoại biên sưng lớn thường được các phòng khám ngoại trú giới thiệu đến, phòng khám đã dấn thân điều trị các trường hợp lao hạch ổ bụng sau khi đã đắn đo, rút kinh nghiệm với bác sĩ ngoại khoa. Kết quả khách quan là các phòng khám ngoại trú, và ngay cả các bác sĩ bệnh viện, cũng đã chỉ địa chỉ Mai Khôi cho bệnh nhân có hạch trong khoang bụng, mà đã được điều trị nhiều tháng không có kết quả… Tuy nhiên, thành công trong việc điều trị hạch lao cho bệnh nhân cũng là một thách thức, một áp lực nội tâm rất lớn cho các bác sĩ chuyên khoa lao, vì bệnh lao ở đây không được điều trị theo phác đồ của chương trình chống lao quốc gia, mà chỉ được điều trị theo từng bệnh cảnh. Phòng khám Mai Khôi đang tìm một phương thức điều trị lao hợp lý cho bệnh nhân. Về việc này, Phòng khám Mai Khôi rất mong được chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp khác.

2. Về quản lý nhân sự:

• Phòng khám Mai Khôi có nhiều bác sĩ (8 bác sĩ) tham gia công tác điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội, vì bệnh nhân không luôn luôn theo một bác sĩ nên công việc điều trị cho một bênh nhân không được nhất quán, khó đánh giá về kết quả chuyên môn.

• Hầu hết các nhân viên của Phòng khám Mai khôi (bác sĩ, y tá….) đều là thiện nguyện viên nên rất khó tổ chức họp mặt đông đủ để giao ban định kỳ.

• Ngoài bác sĩ, ít người có trình độ chuyên môn khá nên công việc tổ chức về nghiệp vụ dễ bị động và khó vào nề nếp. Từ khi Phòng khám Mai Khôi được Uỷ ban Phòng chống AIDS của Sở Y tế TP.HCM cho phép trở thành một OPC cho bệnh nhân AIDS, thì công việc quản lý phòng khám trở nên nặng hơn, sổ sách, đơn, toa phức tạp hơn vì phải tuân thủ các quy định…

3. Về quản lý bệnh nhân:

• Đa số bệnh nhân không ý thức về bệnh tình của mình. Ngoài giai đoạn cấp cứu, khi đã được khoẻ bệnh nhân dễ bỏ điều trị nửa chừng.

• Một số bệnh nhân sau khi cai được thời gian dài lại tái nghiện. Kết quả là họ không ổn định được bệnh nhiễm trùng cơ hội.

• Thỉnh thoảng có những người đến từ những vùng rất xa, các tỉnh miền Nam hay từ miền Bắc. Sau một thời gian ngắn, qua được tình trạng cấp cứu thì họ xin kê toa để tiếp tục về quê điều trị… có người kể ở Ninh Bình, trong làng họ có thể có đến cả chục người chết vì bệnh này hàng tuần, và họ tỏ ra rất đau khổ vì chúng tôi không thể kê một toa để điều trị vĩnh viễn.

• Ngoài việc chăm sóc về thể lý cho bệnh nhân còn cần phải chăm sóc về mặt tinh thần. Tình thương của gia đình, hỗ trợ về tâm linh là điều rất cần thiết giúp bệnh nhân tìm được bình an, thanh thản để sống những ngày cuối đời.

• Trong công tác điều trị bệnh nhiễm HIV đòi hỏi phải chuyên cần, giữ lịch hẹn… nhưng nhiều bệnh nhân không tuân thủ được vì yếu mệt hoặc không có phương tiện di chuyển…

4. Phòng khám có được một nhà thuốc Tây do nhiều người hảo tâm giúp sức thành lập phục vụ cho việc điều trị. Bệnh nhân được kê toa mua thuốc, một số trường hợp được cấp thuốc miễn phí, điều này gây nên sự phân bì giữa các bệnh nhân. Điều quan trọng là nhà thuốc càng ngày càng lỗ vốn.

Kiến nghị::

Qua những kinh nghiệm trên, phòng khám Mai Khôi có một số ý kiến như sau:

Cc phịng khm ngo?i tr cho b?nh nhn HIV/AIDS c?n m?c ln nhi?u hon n?a, khơng c?n ph?i cĩ s? ?n d?nh, chuyn mơn d?y d? m?i thnh l?p phịng khm.

Để chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS có hiệu quả trong xã hội Việt Nam, cần có sự huy động của tất cả các ban ngành đoàn thể, những thiện nguyện viên, các tu sĩ và các hội đoàn.

Cách riêng các bác sĩ ở phòng khám Mai Khôi rất mong có dịp được học hỏi thực tiễn với các chuyên gia để phục vụ tốt hơn nữa!

BÀI CHIA SẺ CỦA BÁC SĨ LUẬT (Truyền thông)

Bác sĩ Luật giúp Hội thảo nhận thấy trong công tác truyền thông việc chia sẻ, giảng dạy kiến thức về HIV/AIDS cho mọi đối tượng là điều cấp bách và cần thiết. Những người làm công tác truyền thông trước hết phải biến đổi mình, hoà mình vào cộng đồng, trang bị và chia sẻ kỹ năng sống, kỹ năng truyền thông cho mọi người.

BÀI CHIA SẺ CỦA Sr. DUNG
CỘNG ĐOÀN MAI LINH PHỤC VỤ BỆNH NHÂN AIDS TẠI BỆNH VIỆN NHÂN ÁI

I. TỪ TRUNG TÂM TRỌNG ĐIỂM ĐẾN BỆNH VIỆN NHÂN ÁI

Tiền thân của Bệnh viện Nhân Ái là Trung tâm Trọng Điểm Cai nghiện Ma tuý (CNMT). Trung tâm Trọng Điểm CNMT trực thuộc Sở Lao động Thương binh - Xã hội TP.HCM, đóng trên địa bàn tỉnh Bình Phước, cách thành phố 200km.

Trung tâm được thành lập ngày 05-06-2003 với hai nhiệm vụ: quản lý, giáo dục và dạy nghề cho học viên CNMT; chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS giai đoạn cuối.

Ngày 02-12-2005, Trung tâm khánh thành Khu Chăm sóc Bệnh nhân HIV/AIDS giai đoạn cuối (khu D). Hầu hết bệnh nhân từ trạm xá của trung tâm chuyển qua.

Từ tháng 03-2006, Trung tâm chuyển lần lượt toàn bộ số học viên đi các trung tâm khác theo sự chỉ đạo của UBND TP.HCM, Số còn lại là nhân viên y tế và một số nhân viên hành chánh (99 người). Số bệnh nhân là 57 và 6 học viên đã được giải quyết tái hoà nhập cộng đồng (THNCĐ) tình nguyện làm việc tại Trung tâm.

Ngày 17-08-2006, UBND Thành phố ra quyết định số 3739/QĐ-UBND về việc Chuyển đổi chức năng Trung tâm Trọng Điểm CNMT thuộc Sở LĐTB-XH qua Sở Y tế quản lý để thành lập Bệnh viện Nhân Ái.

Ngày 31-10-2006, UBND Thành phố ra quyết định số 4856/QĐ-UBND về việc Thành lập Bệnh viện Nhân Ái trực thuộc Sở Y tế Thành phố.

Ngày 08-10-2007, UBND Thành phố ra quyết định số 123/2007/QĐ-UBND về ban hành Quy định tiếp nhận và điều trị bệnh nhân của Bệnh viện Nhân Ái.

Ngày 31-12-2007, Sở Y tế Thành phố ra thông báo số 7874/SYT-NVY về việc Thông báo tiếp nhận và điều trị bệnh nhân AIDS tại bệnh viện Nhân Ái từ ngày 01-01-2008.

Ngày 01-01-2008, Bệnh viện Nhân Ái chính thức được tiếp nhận và điều trị bệnh nhân.

Năm 2008, mục tiêu của bệnh viện là “Chăm sóc giảm nhẹ”, phấn đấu lên bệnh viện hạng 3. Từ năm 2009 là bệnh viện chuyên sâu các bệnh truyền nhiễm.

II. CỘNG ĐOÀN MAI LINH

Cộng đoàn Mai Linh trực thuộc Ban Mục vụ Chăm sóc Người có HIV/ADS của Tổng giáo phận TP.HCM. Cộng đoàn gồm các tu sĩ nam nữ thuộc nhiều hội dòng, đáp lại lời kêu gọi của Đức Hồng y G.B. Phạm Minh Mẫn, Tổng Giáo phận TP.HCM, tự nguyện đến phục vụ bệnh nhân HIV/AIDS tại Trung tâm Trọng Điểm CNMT từ tháng 05-2003 theo đề nghị của Sở LĐTB-XH và nay là Sở Y tế Thành phố.

Ban đầu các tu sĩ phục vụ tại trạm xá Trung tâm. Sau khi khánh thành khu Chăm sóc Điều trị Bệnh nhân HIV/AIDS giai đoạn cuối, các tu sĩ chuyển xuống làm việc hoàn toàn tại khu này. Sau gần 4 năm, đã có 68 lượt tu sĩ đến phục vụ, trong đó có 22 tu sĩ ký hợp đồng ngắn hạn và 46 tu sĩ thiện nguyện. Số tu sĩ đến từ những ngày đầu hiện còn 04 người.

Hiện nay cộng đoàn có 12 tu sĩ nam nữ của 09 dòng tu: dòng Anh Em Hèn Mọn, dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ, dòng Thánh Phaolô, dòng MTG Chợ Quán, dòng MTG Gò Vấp, dòng MTG Đà Lạt, dòng MTG Thủ Thiêm, Tu hội Thiên Phúc, Tu hội Nhập thể-Tận hiến-Truyền giáo. Các tu sĩ phục vụ tại bệnh viện Nhân Ái với các công tác sau:

1. Chăm sóc điều trị: 08 (y sĩ, điều dưỡng, lương y)
2. Tư vấn tâm lý: 01
3. Thiện nguyện: 01
4. Bệnh viện cử đi học chuyên tu bác sĩ: 02

Sinh hoạt của cộng đoàn Mai Linh phong phú và đa dạng. Phong phú bởi sự góp mặt của nhiều tu sĩ thuộc nhiều linh đạo khác nhau, cùng sống tinh thần hiệp thông và phục vụ bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối tại bệnh viện Nhân Ái. Đa dạng vì ngoài công việc chuyên môn tại bệnh viện, cộng đoàn còn tham gia các công tác mục vụ, tông đồ và xã hội ngoài bệnh viện theo sự nhất trí chung của cộng đoàn như: dạy giáo lý thiếu nhi và dự tòng, tập hát ca đoàn, dạy chữ cho trẻ em thất học, hỗ trợ học bổng, giúp vốn cho người nghèo…

Cộng đoàn được bệnh viện sắp xếp chỗ ở riêng biệt với nhân viên, phù hợp đời sống tu trì và sinh hoạt riêng của cộng đoàn. Thời gian đầu, có vài giáo dân sinh hoạt chung nhưng từ năm 2006, giáo dân chỉ tham gia đời sống thiêng liêng với cộng đoàn.

III. BỆNH NHÂN AIDS TẠI BỆNH VIỆN NHÂN ÁI

Từ ngày 02-12-2005, các tu sĩ chính thức làm việc tại Khu D cùng với nhân viên y tế của Trung tâm. Bệnh nhân là những bệnh nặng từ trạm xá Trung tâm chuyển sang. Trung bình khoảng 30 bệnh nhân, cao điểm lên đến 90. Khi việc chăm sóc vượt quá khả năng, Trung tâm chuyển bệnh nhân về Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức hoặc bệnh viện chuyên khoa.

Sau khi chuyển giao chức năng sang bệnh viện, Trung tâm còn 57 bệnh nhân và 06 người THNCĐ tình nguyện ở lại làm việc tại Trung tâm (các em này là học viên hỗ trợ y tế tại Khu Chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS). Theo nguyện vọng của các em và đề nghị của gia đình, tháng 09/2006 Ban Mục vụ Chăm sóc Người có HIV/AIDS Giáo phận TP.HCM đồng ý bảo lãnh 06 em về THNCĐ tại địa phương, làm việc tại nhóm Bạn giúp bạncủa Ban Mục vụ.

Từ ngày thành lập bệnh viện đến nay tình hình bệnh nhân như sau:

Bệnh nhân đầu kỳ: 57
- Chuyển viện: 19 (tử vong có giấy báo: 12)
- Trốn viện: 07
- Di lý: 01
- Gia đình bảo lãnh về chăm sóc: 05
- THNCĐ về địa phương: 08
- THNCĐ làm việc tại bệnh viện: 01
- Nhập viện: 01
Bệnh nhân hiện nay: 17

* Đối tượng tiếp nhận gồm:

Theo Quyết định 123/2007/QĐ-UBND của UBND TP.HCM, Bệnh viện Nhân Ái tiếp nhận và điều trị bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối, từ 16 tuổi trở lên. Gồm:

1. Người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng.
2. Người sau cai nghiện tại các cơ sở giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện theo Nghị quyết số 16/2003/NQ-QH 11.
3. Người đang cư trú tại các cơ sở bảo trợ xã hội.
4. Người sống lang thang không nơi nương tựa.
5. Bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối từ các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ thuộc TP.HCM.
6. Người đang cư trú tại TP.HCM, gia đình không đủ khả năng chăm sóc tại nhà và tự nguyện vào điều trị.

* Thủ tục nhập viện:

- Đơn xin điều trị tại bệnh viện Nhân Ái do người bệnh ký.
- Hồ sơ sức khoẻ; Biên bản Giám định của hội đồng giám định kết luận bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối.
- Văn bản đề nghị cho bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Nhân Ái của giám đốc cơ sở.
- Quyết định chuyển sang điều trị tại bệnh viện Nhân Ái của:
+ UBND thành phố/ UBND quận, huyện (đối tượng 1);
+ Giám đốc Sở Lao động Thương binh - Xã hội (đối tượng 2,3,4) hoặc Chỉ huy trưởng Lực lượng Thanh niên xung phong (đối tượng 2);
+ Cục trưởng Cục quản lý trại giam/ Trưởng Công an cấp huyện (đối tượng 5);
+ Cơ sở Y tế công lập hoặc tư nhân (đối tượng 6).

* Bệnh nhân nhập viện trên tinh thần tự nguyện và phải cam kết tuân thủ các quy định của bệnh viện.
* Bệnh nhân được hoàn toàn miễn phí về chăm sóc, điều trị, giường bệnh và các chăm sóc hỗ trợ khác.
* Bệnh nhân được xuất viện theo yêu cầu của gia đình và không được tái nhập viện trừ trường hợp bệnh viện cho xuất viện.

IV. CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA TU SĨ TẠI BỆNH VIỆN NHÂN ÁI

1. Chăm sóc và điều trị bệnh nhân
Các tu sĩ ký hợp đồng lao động theo sự phân công của bệnh viện như sau:
- Phòng Kế hoạch - Nghiệp vụ: 01 tư vấn viên.
- Khoa Nội tổng hợp: 01 lương y.
- Khoa Lao: 02 y sĩ.
- Khoa Săn sóc Đặc biệt: 01 y sĩ, 02 điều dưỡng TC, 02 điều dưỡng SC.

2. Chăm sóc hỗ trợ tâm lý - xã hội cho bệnh nhân

Bệnh viện có 2 nhân viên làm công tác tư vấn (1 tu sĩ, 1 NV nữ) nhưng mỗi nữ tu trong cộng đoàn đều là tư vấn viên đối với từng bệnh nhân.

Về chuyên môn, người tu sĩ trong vai trò tư vấn viên có cơ hội tiếp cận với bệnh nhân, hiểu rõ hoàn cảnh của các em và giúp đỡ cách hiệu quả hơn:

- Có tiếng nói với bệnh viện trong những gì liên quan đến quyền lợi của bệnh nhân như: phép thưởng, giấy tờ hồi gia, chế độ ăn uống, liên lạc gia đình, thăm gặp, gửi tiền.
- Là cầu nối giữa bệnh nhân và gia đình để kéo sự quan tâm của gia đình cũng như giúp bệnh nhân cảm thông với hoàn cảnh gia đình và chấp nhận cuộc sống.

- Trả lời những thắc mắc của bệnh nhân về quyền lợi của họ.
- Giải toả bức xúc và những bất ổn tâm lý của bệnh nhân.

3. Chăm sóc hỗ trợ đời sống tinh thần

Cụ thể bằng những sinh hoạt sau:
- Tổ chức thư viện với nhiều loại sách, báo, truyện để bệnh nhân giải trí, thêm kiến thức.
- Cộng đoàn sinh hoạt và vui chơi với bệnh nhân các dịp lễ, Tết.
- Gần gũi để chia sẻ niềm vui hoặc nỗi buồn của bệnh nhân, về gia đình và người thân.
- Nói chuyện, tìm cái tốt để khen ngợi và khuyến khích bệnh nhân vươn lên.

4. Chăm sóc hỗ trợ đời sống tâm linh

- Tạo mọi điều kiện cho bệnh nhân có đạo và không có đạo tham dự thánh lễ Chúa Nhật tại cộng đoàn, nhắc nhở xưng tội, sống tốt, đọc kinh riêng…
- Cộng đoàn phân công mỗi thành viên nhận cầu nguyện riêng và đồng hành với từng bệnh nhân.
- Cộng đoàn cùng cầu nguyện với bệnh nhân và tìm những hình thức phù hợp để nâng đỡ đời sống tâm linh: rước kiệu, hát thánh ca, viếng đài Đức Mẹ.
- Xây đài Đức Mẹ tại khoa điều trị. Cả cộng đoàn cùng đọc kinh tối chung với bệnh nhân mỗi tuần/lần.
- Quan tâm hơn những bệnh nhân có đạo và bệnh nhân mới theo đạo.
- Trong giao tiếp trò chuyện, tìm cách nói về Chúa và giúp các em nhận ra tình yêu thương của Chúa trong cuộc đời các em.

5. Chăm sóc dinh dưỡng

Ngoài các bữa ăn (10.000đ/ngày) và thuốc men của bệnh viện cung cấp, cộng đoàn vẫn hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân. Từ khi có Khu D, cộng đoàn nhận công tác nấu ăn cho bệnh nhân do các thành viên luân phiên. Những bệnh nhân yếu được chăm sóc đặc biệt hơn. Khi chuyển sang làm chuyên môn y tế, cộng đoàn vẫn tiếp tục giúp đỡ bệnh nhân bằng nhiều cách: bồi dưỡng riêng cho bệnh nhân đau nặng; hằng tuần bồi dưỡng cho bệnh nhân trái cây, ăn thêm vào buổi tối; các dịp lễ nấu cho bệnh nhân ăn theo yêu cầu.

6. Lao động trị liệu

Từ buổi đầu, cộng đoàn đã tổ chức cho bệnh nhân làm hàng thủ công mỹ nghệ từ hạt cườm do một soeur thiện nguyện đảm trách, tạo ra các sản phẩm: ông Noel, móc chìa khoá hình con thú, chuỗi hạt, giỏ xách, búp bê… Công việc này tạo cho các em niềm vui, thu nhập và giải quyết thời gian rảnh rỗi nhàm chán. Tại khoa điều trị, phòng làm hạt cườm được gọi là ‘trung tâm nghe nhìn” của bệnh viện vì tất cả mọi chuyện vui, buồn, phê bình, khen ngợi và cả việc xả stress đều được bệnh nhân bộc lộ tại đây. Cùng làm việc với bệnh nhân là cơ hội để tu sĩ gần gũi với bệnh nhân hơn.

7. Hỗ trợ cho người tái hoà nhập cộng đồng tại bệnh viện

Hiện nay có 3 người THNCĐ làm việc tại bệnh viện, cộng đoàn dành mối quan tâm đặc biệt cho các nhân viên mới này. Trước hết họ vẫn còn trong sự quản lý của bệnh viện, kế đến chưa được sự trân trọng của các nhân viên khác nhất là người cũ. Mối thân tình của các tu sĩ giúp họ tìm thấy niềm vui, sự nâng đỡ, đáng tin cậy nên hay tìm đến chia sẻ, trò chuyện và tự nguyện tham dự các nghi lễ phụng vụ. Đồng thời cộng đoàn cũng có thể khuyến khích, nhắc nhở, sửa sai và giúp họ vượt thắng những khó khăn trong môi trường này.

8. Liên đới với nhân viên

Toàn bệnh viện có 174 nhân viên, ngoài cộng đoàn tu sĩ chỉ có 8 nhân viên Công giáo. Tu sĩ vẫn được các nhân viên nể trọng vì tuổi tác và chân tu. Dầu vậy, anh chị em tu sĩ luôn sống hoà mình, gần gũi, thân thiện với nhân viên đặc biệt tại các khoa, phòng cùng làm việc. Sự liên đới thể hiện qua việc cùng hợp tác trong công việc, chia sẻ trách nhiệm, cùng lao động và tham gia các phong trào của bệnh viện.

Với nhân viên Công giáo, cộng đoàn mời gọi tham dự thánh lễ Chúa Nhật, tổ chức cầu nguyện, mừng lễ bổn mạng và động viên họ sống chứng tá cho Chúa Kitô giữa các nhân viên khác.

V. THÀNH QUẢ VÀ VẤN ĐỀ

1. Bất kỳ tu sĩ nào đến phục vụ bệnh nhân AIDS tại nơi này đều có chung cảm nghiệm: một hồng ân cho bản thân vì được cơ hội hiện diện, làm việc và sống chứng tá giữa môi trường rất đặc thù này; một kinh nghiệm đặc biệt về đời sống cộng đoàn phong phú và đa dạng; bản thân được lớn lên rất nhiều trong đời sống nhân bản, thiêng liêng và tinh thần phục vụ.

2. Nguồn sống và sức mạnh của người tu sĩ là Chúa Giêsu Thánh Thể và đời sống cầu nguyện. Sự nâng đỡ là tình hiệp nhất yêu thương trong cộng đoàn. Nỗ lực của người tu sĩ là sự trưởng thành của cá nhân. Người tu sĩ luôn ý thức và sống như thế để có thể hiện diện và phục vụ bệnh nhân trong môi trường rất đặc thù này.

3. Cộng đoàn là nơi người tu sĩ tìm được sự chia sẻ và nâng đỡ, cùng thao thức và cùng tìm những cách thích hợp và tốt nhất để phục vụ hiệu quả. Cộng đoàn cũng trải qua những bước thăng trầm xảy ra từ sự khác biệt giữa các thành viên. Dầu vậy, mỗi biến cố vui buồn đều đem lại cho cá nhân sự trưởng thành và sự vững mạnh của cộng đoàn.

4. Bệnh nhân AIDS là mối quan tâm hàng đầu của tu sĩ. Nhưng trong quá trình phục vụ tu sĩ gặp khá nhiều khó khăn. Bệnh nhân với tâm lý bất ổn và phức tạp, không còn ý nghĩa cuộc sống, không có động lực vươn lên, không tìm được sự nâng đỡ từ gia đình, không được tự do sống theo sở thích, không hợp tác trong điều trị, chỉ biết đòi hỏi người khác, không chấp nhận bản thân… khiến cho người phục vụ cảm thấy căng thẳng, bất lực, đầy ưu tư vì không thấy chút kết quả nào từ phía bệnh nhân.

5. Cơ chế bệnh viện với các thủ tục hành chánh rườm rà, cách làm việc quan liêu, không đúng giờ, ít quan tâm quyền lợi bệnh nhân… khiến cho người tu sĩ vốn quen nếp sống nghiêm túc, phục vụ hết mình… sự khó chịu vì phải chấp nhận thói thường như thế. Những lúc ấy, người tu sĩ lại có cơ hội ý thức mình không thể thay đổi cơ chế nhưng sự hiện diện, cung cách làm việc và sự mềm mỏng trong đối thoại cũng có ảnh hưởng ít nhiều đối với bệnh viện.

6. Cùng làm việc chung với nhân viên nhưng chỉ có số ít nhân viên nhiệt tình, có tinh thần phục vụ, đa số chỉ làm hết giờ, ít tinh thần trách nhiệm. Nhân viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm làm việc lại ít chịu học hỏi, không tận tuỵ trong chăm sóc bệnh nhân… điều này cũng làm cho tu sĩ gặp khó khăn vì không có sự cộng tác tích cực của đồng nghiệp.

Tuy khó khăn còn đó, thách thức xảy ra mỗi ngày nhưng mỗi tu sĩ của cộng đoàn Mai Linh vẫn dành hết khả năng, tâm tình và nhiệt huyết cho công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân AIDS tại bệnh viện. Họ hiện diện và làm việc như một công chức Nhà nước với tâm tình của người môn đệ Chúa Kitô chăm sóc các chi thể đau yếu của Người.

BÀI CHIA SẺ CHỊ VINH - NHÓM TIẾNG VỌNG

Chị Nguyễn Thị Vinh, Trưởng Nhóm Tiếng Vọng, chia sẻ những hoạt động của nhóm.

A- THÀNH LẬP:

Bắt đầu thành lập vào cuối năm 1998, tại nhà thờ Chúa Cứu Thế, qua khoá tập huấn về HIV của Bác sĩ Nguyễn Đăng Phấn.
Năm 1999, nhóm chuyển về Nhà thờ Đa Minh để sinh hoạt. Sau một vài năm làm việc, nhóm đã tập hợp được 15 anh chị em nòng cốt.

B- HOẠT ĐỘNG:

Gồm 2 giai đoạn:

a)- Giai ñoạn 1, töø naêm 1999 ñeán heát naêm 2005:

Anh chị em trong nhóm làm việc trong những ngành nghề khác nhau, đa số còn trẻ, là các sinh viên chưa ra trường hoặc mới ra trường chưa kiếm được việc làm, những người nội trợ, y tá trong bệnh viện, các tu sinh, những thương nhân, và cả những người đang mang trong mình virut HIV nhưng có chung một lý tưởng cùng nhau góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân HIV/AIDS.

Sau khi tham dự nhiều buổi tập huấn về cách phòng chống lây bệnh, các khoá tư vấn, tham vấn và các kỹ năng chăm sóc những người bị nhiễm HIV/AIDS do Unicef của Anh quốc, Esther của Phaùp,UBPC AIDS thành phố và của Toà Tổng Giám mục Sài Gòn tổ chức. Nhóm đã mạnh dạn lên đường đi tìm để gặp gỡ, giúp đỡ, hỗ trợ và chăm sóc an ủi các bệnh nhân tại nhà hoặc trong các bệnh viện, nơi vỉa hè, các công viên, bờ kênh… Những bệnh nhân vô gia cư được chuyển về Trung tâm Mai Hoà để được chăm sóc chu đáo và tận tình của các nữ tu. Những bệnh nhân quá nghèo, đơn độc nhóm cũng lo cho họ được cỗ áo quan khâm liệm để họ ra đi được bình an.

Năm 2004, nhóm đã thuê một căn nhà ở quận Bình Tân để đưa những bệnh nhân vô gia cư, không thân nhân nhưng còn chịu sự quản lý từ các trường trại, chưa được hồi gia hoặc chưa mãn hạn tù vì thế không thể chuyển lên Trung tâm Mai Hoà về chăm sóc và nuôi dưỡng. Tuy nhiên, nhóm chỉ hoạt động được một năm, hết kinh phí nên không thể duy trì, đành phải giải thể.

Năm 2005, nhóm chuyển về nhà riêng của mình để tiện việc chăm sóc cho các bệnh nhân.

b)- Giai đoạn 2, từ tháng 1-2006 đến nay:

Số bệnh nhân càng ngày càng đông nên từ ngày 02-1-2006, được sự giúp đỡ của cha Lê Quốc Thăng, Chánh xứ Phú Trung và hội đồng giáo xứ, nhóm đã có được một phòng khám khang trang, rộng rãi, nằm sâu trong khuôn viên nhà thờ, rất yên tĩnh cho bệnh nhân yên tâm điều trị bệnh.

Nhóm đã được hỗ trợ rất nhiều về mặt tinh thần của Ban Mục vụ HIV/AIDS của Toà Tổng Giám mục TP.HCM, đây cũng là niềm an ủi và khích lệ cho toàn thể anh chị em thiện nguyện có thêm tinh thần nhiệt huyết để tiếp tục dấn bước trên con đường phục vụ.

Qua 2 năm, Phòng khám Phú Trung có được:

- 2 bác sĩ: Linh mục bác sĩ Nguyễn Viết Chung, thuộc tu hội Truyền Giáo do Thánh Vincent de Paul sáng lập, cha vừa là bác sĩ chăm sóc cho bệnh nhân AIDS vừa là cha linh hướng của Nhóm Tiếng Vọng. Bác sĩ Phao lô Đỗ Văn Vinh, nguyên bác sĩ khoa cấp cứu BV Nguyễn Tri Phương, đã về hưu.

- 2 y tá và 11 tình nguyện viên.

- Tiếp đón 902 bệnh nhân. Trung bình một tháng có khoảng 1.200 lượt người tới xin tư vấn và khám bệnh, được phát thuốc và điều trị các bệnh cơ hội hoàn toàn miễn phí.
Sau gần 9 năm hoạt động, nhóm Tiếng Vọng đã giúp đỡ và chăm sóc được khoảng 2.500 bệnh nhân HIV/AIDS, trong đó khoảng 2/3 đã về với Chúa được bình an.

C- KINH PHÍ:

Vào những năm đầu hoạt động, số lượng bệnh nhân tương đối ít, các thành viên trong nhóm tự góp tiền túi để trang trải chi phí xăng nhớt đi lại, hỗ trợ thực phẩm cho những bệnh nhân nghèo, mua sữa cho các em bé bị nhiễm HIV/AIDS, hỗ trợ một phần tiền viện phí hoặc ma chay.

Vào những năm sau này số lượng bệnh nhân càng đông, nhóm không đủ kinh phí để hoạt động, linh mục bác sĩ Nguyễn Viết Chung đã phải huy động nguồn hỗ trợ tài chính từ các nhà hảo tâm, nhưng nguồn hỗ trợ này không được đều, lúc có, lúc không. Cha chánh xứ Phú Trung hỗ trợ giúp nhóm mỗi tháng được 1/3 đến 1/4 kinh phí hoạt động trong tháng.

D- ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ:

Qua gần 9 năm chăm sóc các bệnh nhân AIDS, chúng tôi ước ao mở được một cơ sở để tạo việc làm cho những bệnh nhân đã được hồi phục, tuỳ khả năng và sức khoẻ của mỗi người, để họ tìm lại được giá trị của cuộc sống, để họ cảm thấy mình còn là người hữu ích cho chính bản thân và gia đình.

Để ngăn chặn đại dịch HIV, cần quan tâm đến hạnh phúc của gia đình, 80% số bệnh nhân mà nhóm chăm sóc đều không có một gia đình yên ấm, tuổi đời còn rất trẻ, từ 17 đến 28 chiếm tỉ lệ 70%; 60% là dân nhập cư hoặc sinh sống tại vùng ven đô thị, trình độ dân trí rất thấp, có 10% không biết chữ.

Trước khi kết hôn, các đôi tân hôn nên xét nghiệm HIV.

BÀI CHIA SẺ CỦA Sr. HƯƠNG về MÁI ẤM MAI TÂM

- Mái ấm Mai Tâm hiện có 34 trẻ nội trú và 23 bà mẹ đang sống tại Mái ấm Mai Tâm (MAMT)
- MAMT có chương trình chăm sóc hỗ trợ cho các trẻ ảnh hưởng hoặc nhiễm HIV tại gia đình gồm: 67 trẻ ngoại trú – 11 bà mẹ ngoại trú.
- Tạo được việc làm cho những người có HIV để giúp họ sống tự lập như shop hoa, nhà may tại MAMT và nhà may tại Gò Vấp.
- Những thuận lợi và khó khăn sẽ được bàn đến trong phần thảo luận tiếp theo
BÀI CHIA SẺ CỦA Sr. THUÝ, Chuyên viên tư vấn tâm lý, hỗ trợ cho các em từ các trường, trung tâm cai nghiện trở về

Sr. Thuý, Chuyên viên tư vấn tâm lý, trình bày những việc cần làm và những khó khăn sẽ gặp phải trong việc giúp các em hồi gia và tái hoà nhập cộng đồng.

- Phía gia đình thờ ơ không tiếp nhận.
- Phía bản thân thì các em khó kiếm việc làm, khó tiếp cận của mọi người.
- Sự tiếp nhận và tình yêu thương của gia đình dành cho các em là rất quan trọng.
- Tạo công ăn việc làm qua việc: gửi các em đến các phòng khám, mái ấm, shop hoa…
- Bản thân: các em phải có ý chí, tự tin, để chứng minh cho gia đình và mọi người biết mình thay đổi.
- Tập trung vào việc khắc phục khó khăn bằng cách tư vấn nhóm, tư vấn cá nhân giúp các em có cơ hội lắng nghe, chia sẻ vấn đề tìm giải pháp giải quyết vấn đề xã hội, tâm lý, nhận ra giá trị cuộc sống, cách đối phó vấn đề, xây dựng nền tảng yêu thương, tăng niềm tin.
- Giáo dục bài học nhân bản, kỹ năng sống…

BÀI CHIA SẺ CỦA Sr. ĐIỀN (có bài-HUẾ)

Gặp gỡ người nhiễm HIV trong cái nhìn là người bạn. Tiếp nhận các người bệnh HIV từ 2 phòng khám của dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế. Từ 1996 sự tham gia của các tôn giáo tại Huế trong công tác phòng ngừa đại dịch HIV/AIDS.

II- CÁC CÂU HỎI THẢO LUẬN NHÓM

Câu 1: Liệt kê các thành quả và những vấn đề mà nhóm đã và đang gặp phải khi hỗ trợ và

chăm sóc người có HIV/AIDS.
Câu 2: Phân tích các nguyên nhân dẫn đến thành quả.
Câu 3: Định hướng phát triển.

Nhóm 1: NHÓM CÁC MÁI ẤM, NHÀ CỎ

1- Thành quả và vấn đề

1.1- Thành quả:
• Giải quyết được chỗ ở cho những người bị kỳ thị và những người không có chỗ ở (chủ yếu bà mẹ và trẻ em).
• Đưa họ vào chương trình được tiếp cận với thuốc điều trị.
• Bé và mẹ được theo dõi và khám điều trị tại nhà.
• Bé được giáo dục, chăm sóc, tham gia vào những sinh hoạt xã hội.
• Tập huấn những kỹ năng sống và tạo công ăn việc làm.
• Tạo được chỗ ở cho những người vô gia cư, không phân biệt nam nữ.
• Chăm sóc đời sống tâm linh và cái chết an bình.
• Được theo dõi tuân thủ điều trị tốt.
• Có đức tin làm nền tảng hướng dẫn hành động cụ thể và thực tế.
• Tình thương bác ái Kitô giáo.
• Làm việc có phương pháp và tổ chức.
• Cộng tác của bệnh nhân và gia đình.
• Sự hỗ trợ của các thành phần dân Chúa: dòng tu, giáo dân, giáo quyền…

1.2- Vấn đề:

• Nỗi ám ảnh về cái chết do HIV/AIDS vẫn còn làm cho họ sợ hãi.
• Tác dụng phụ của thuốc gây ra nhiều stress cho bệnh nhân.
• Vấn đề kỳ thị vẫn còn tồn tại rất nặng nề, nhiều em không có việc làm, không được đi học.
• Chuyên chở người bệnh đến các trung tâm điều trị khó khăn.
• Xung đột cá tính khi sống chung.
• Khó quản lý, đặc biệt với các em đã bị nhiễm.

2- Nguyên nhân

• Đối tượng đến có những phức tạp: tâm sinh lý, bệnh lý phức tạp.
• Số lượng đông quá tải.
• Tình nguyện viên phục vụ chưa được đào tạo chính quy, đồng bộ.
• Tính bị động: nhu cầu đến trước mà khả năng đáp ứng đến sau.
• Mái ấm là nơi tập trung của nhiều thành phần từ nhiều vùng khác nhau, gây ra những xung đột trong nội bộ.

3- Định hướng

3.1- Tại mái ấm:
• Nâng cao năng lực của người quản lý, đồng hành.
• Nâng cao nhận thức cho người có HIV: tập huấn, giáo dục nhận thức và tham vấn, sinh hoạt mái ấm.

3.2- Hoà nhập với cộng đồng:
• Cho trẻ được đến trường.
• Hướng nghiệp.
• Tái hồi gia.
• Nhà tự lập.

3.3- Phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS

• Phối hợp với bệnh viện Hùng Vương để phòng lây nhiễm từ mẹ sang con.
• Thiết lập nhóm giáo dục viên đồng đẳng, nhóm hỗ trợ chăm sóc.

ĐỀ XUẤT: Đưa lời cầu nguyện cho bệnh nhân HIV/AIDS và thân nhân của họ vào lời nguyện giáo dân trong thánh lễ.

Nhóm 2: NHÓM PHÒNG PHÁM – OPC VÀ CHUYỂN GỞI

Những khó khăn và định hướng
* HIV ở Thanh Hoá: - Chưa có phòng khám HIV riêng.

- Chưa biết gõ cửa ở đâu. Do đó, Thanh Hoá muốn thành lập được 1 phòng khám HIV.
- Cần trang bị nhân sự, kiến thức chuyên môn, và thành lập đội ngũ tình nguyện viên để làm công tác này.

- Tập huấn và nâng cao kỹ năng vãng gia, chăm sóc, kỹ năng giao tiếp.
• HIV ở Long Xuyên: - Dự định mở 1 phòng khám tại Toà Giám Mục, 1 cơ sở xã hội tại dòng Chúa Quan Phòng – Cù Lao Giêng.
• HIV /AIDS ở Long Xuyên rất nhiều và chính quyền đang quan tâm, nắm đầy đủ số liệu. Nhưng họ bỏ ngõ về mãng chăm sóc.
• Chúng tôi rất muốn làm công tác này một cách độc lập, ít gặp khó khăn với chính quyền địa phương.
• Kiến thức cơ bản và chuyên môn về HIV/AIDS vẫn còn thiếu: Long Xuyên cần trang bị nhiều về kiến thức và truyền thông để lôi kéo nhân sự.
• HIV ở Huế: Đang hình thành mạng lưới hoạt động liên dòng trong công tác phòng ngừa và chăm sóc hỗ trợ người có HIV. Trong dịp tĩnh tâm các linh mục vừa qua, ban điều phối dự án HIV/AIDS của giáo phận đã được phép đến nói chuyện với các linh mục. Ngoài ra, các linh mục cũng đang quan tâm nên có sự dễ dàng trong công tác truyền thông về HIV/AIDS tại các giáo xứ.

Nhóm 3: NHÓM HỒI GIA VÀ TỰ LẬP

1- Thành quả và vấn đề
1.1- Thành quả:
- Một số em không tái nghiện trở lại.
- Giúp cho các em một số kỹ năng sống.
- Thay đổi hành vi.

1.2- Vấn đề:

- Tham vấn: Hỗ trợ tâm lý, tâm linh, tạo được niềm tin.
- Có mối tương quan tốt từ gia đình, bạn tốt. Cần sự nâng đỡ của gia đình…
- Tạo công ăn việc làm cho các em.
- Ý thức được động cơ để duy trì cuộc sống lành mạnh.
- Liên kết nhiều nhóm, chính tấm gương của người đồng hành, tình người.
2- Vấn đề và nguyên nhân

2.1 - Vấn đề
- Tái nghiện trở lại.
- Vấn đề hoà nhập cộng đồng.
- Thất vọng.
- Không vượt qua được chính mình.

2.2- Nguyên nhân

- Gia đình: Gia đình chưa tin tưởng.
- Xã hội: Không tìm được việc làm, kỳ thị, phân biệt đối xử.
- Bản thân: mặc cảm, thiếu tự tin, khó tạo niềm tin cho người khác, tự kỳ thị, bị nhiễm HIV, bị người yêu bỏ, không chấp nhận được bản thân.

3- Định hướng

- Giáo dục cho các em nhận thức bản thân: chấp nhận sự thật về chính mình, ý thức
giá trị bản thân, có trách nhiệm trên việc mình làm, khơi dậy tiềm năng nơi các em.
- Hỗ trợ tâm lý xã hội cho người hồi gia và gia đình.
- Dùng thuốc thay thế.
- Tạo mạng lưới liên kết để dễ dàng hỗ trợ các em.
- Đào tạo thêm nhân sự và đồng đẳng để hỗ trợ các em.

Nhóm 4: ĐỀ TÀI: NHÓM VÃNG GIA/ RA ĐI BÌNH AN

1- Thành quả:

* Niềm vui được giúp đỡ vật chất và tinh thần: thông cảm, yêu thương, không bị kỳ thị.
* Biết nhu cầu để hỗ trợ.
* Giảm kỳ thị: Nối kết tình thân gia đình, hàng xóm, tác động sự chăm sóc của gia đình.
* Tâm linh: nhiều người tin và xin chịu bí tích Thanh Tẩy.
* Dễ tiếp cận nhờ sự phối hợp với những tình nguyện viên.
* Từ giã cuộc đời với sự bao bọc của gia đình.

1.1- Góc độ xã hội
- Tạo được một môi trường xã hội thu nhỏ cho anh chị em có HIV/AIDS sống và cống hiến.

- Tham gia vào công tác truyền thông bằng chính tấm gương của những người có HIV: giúp giới trẻ nhận thức được những nguy cơ lây bệnh và tác hại của nó để có lối sống lành mạnh hơn. Việc truyền thông này cũng tạo năng lực cho người bệnh và giúp họ tự tin, vui sống vì thấy mình còn có ích cho xã hội.
- Qua truyền thông nhiều gia đình hiểu biết về cách lây lan và sẵn sàng đón nhận con em mình về hoà nhập với cộng đồng khi sức khoẻ khả quan hơn.
- Giúp người bệnh và gia đình hoà giải với nhau. Nhờ đó người bệnh sống thật sự bình an và thanh thản những ngày cuối đời.

1.2- Về góc độ sức khoẻ cộng đồng

- Giảm bớt lây nhiễm.
- Giảm bớt gánh nặng chăm sóc cho những gia đình quá nghèo.
- Tái hoà nhập xã hội: Một số anh chị em sau khi trở về với đời sống cộng đồng vẫn giữ liên lạc với trung tâm như trong gia đình và đến tham dự những ngày lễ lớn.
- Xây dựng môi trường cho cán bộ y tế và những người dấn thân học tập và rèn luyện.

1.3- Về phương diện tinh thần

- Tâm sinh l‎ý ổn định: Chấp nhận căn bệnh, hết hận thù người gây nên bệnh, hoà giải với gia đình, tinh thần phấn khởi.
- Người bệnh tìm được niềm tin nhờ cảm nhận được tình thương của con người và Thiên Chúa. Hầu hết các anh chị em đều xin nhận bí tích Thanh Tẩy trước khi qua đời.

1.4- Về giáo dục
Giáo dục về nhân bản, làm các công tác vệ sinh, phụ bếp, giặt quần áo, biết giúp đỡ, có tinh thần trách nhiệm, phụ chăm lo cho những người bệnh nặng hơn. Trẻ em được giáo dục như những trẻ em bình thường khác.
1.5- Tạo mạng lưới: Tạo mạng lưới với các tổ chức xã hội, các nhóm thiện nguyện cộng đồng để chăm sóc liên tục cho người bệnh tại nhà. Qua việc chăm sóc này, gia đình và cộng đồng ý thức và hiểu biết hơn để không còn sợ hãi lây nhiễm mà phân biệt đối xử, và chính họ sau đó sẽ chăm sóc và hỗ trợ tâm lý xã hội cho người bệnh vì gia đình là môi trường tốt nhất để chăm sóc cho người bệnh AIDS, giai đoạn cuối.

1.5- Tập huấn

Các khoá tập huấn hỗ trợ tâm l‎‎ý cho nhân viên và các nhóm thiện nguyện để phòng ngừa trầm cảm. Sự gặp gỡ giữa những người chăm sóc cho người có HIV/AIDS để chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau và cùng nhau tìm kiếm những phương thức làm việc có tính cách sáng tạo và hiệu quả hơn hầu đem lại hạnh phúc và lợi ích nhiều hơn cho người bệnh.
Thành quả lớn nhất là người bệnh nhận ra giá trị bản thân, chấp nhận sống với căn bệnh, lao động tuỳ theo khả năng và sức khoẻ, chuẩn bị sự chết với tâm hồn an bình và thanh thản trong niềm tin vào tình thương của con người và Thiên Chúa.

2- Nguyên nhân để có được những thành quả:
Đức tin, đời sống cầu nguyện, sự hỗ trợ tinh thần vật chất của các ân nhân, sự cộng tác giữa các nhóm, hội đoàn.

1- Vấn đề:

- Sự che giấu của bệnh nhân và thân nhân vì sợ bị kỳ thị.
- Không đáp ứng được hết những nhu cầu của bệnh nhân về vật chất, dinh dưỡng, thuốc men…
- Hà Nội và các tỉnh xa: quyền được điều trị chưa được tôn trọng.
- Thiếu nhân sự và tình nguyện viên chưa được huấn luyện đầy đủ.
- Thiếu kinh phí cho các tình nguyện viên làm việc.

2- Nguyên nhân:
- Thiếu sự quan tâm và hiểu biết của cộng đồng.
- Bệnh nhân đòi hỏi quyền lợi.
- Bệnh nhân chưa nhận ra giá trị bản thân (kiến thức thấp kém, lười biếng, tự kỳ thị).
- Nhu cầu được yêu thương.
- Sự nhiệt tình, yêu thương, kiên trì và can đảm dấn thân phục vụ của các thiện nguyện viên.

3- Những khó khăn
3.1- Gia đình xã hội chưa nhìn nhận đúng về đại dịch HIV/AIDS cũng như người mắc bệnh AIDS.
3.2- Tái hoà nhập cộng đồng nhưng họ cần có công ăn việc làm và môi trường sống tốt. Làm thế nào để họ ‎ý thức được hậu quả của sự lây nhiễm cho người khác?
3.3- Tâm lý đa số người bệnh AIDS rất phức tạp, nhất là những người nghiện ma tuý, chăm sóc họ vào giai đoạn cuối là một công việc rất khó khăn. Tiếp cận thường xuyên với cái chết khiến tâm l‎ý người chăm sóc cũng bị ảnh hưởng.
3.4- Các cháu nhiễm hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV chưa được hưởng quyền lợi được giáo dục như các trẻ em khác.
3.5- Chưa có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương trong việc chăm sóc người bệnh tại nhà vì kỳ thị, vì “khu phố văn hoá” thì không thể có bệnh nhân HIV/AIDS.
5- Định h ướng

Đẩy mạnh truyền thông, kêu mời và đào tạo tình nguyện viên, hướng đến niềm tin vào Thiên Chúa.

Nhóm 5: ĐỀ TÀI: NHÓM NHẬN THỨC VỀ HIV CỦA GIÁO HỘI VÀ SỰ HỖ TRỢ CỦA GIÁO HỘI ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG VỚI NGƯỜI CÓ HIV

1- Thành quả
- Các giám mục đều nhận thức được vấn đề HIV/AIDS, muốn làm cái gì đó.
- Đa số các cha cũng quan tâm.
- Lác đác đã có những điểm riêng lẻ phát triển những chương trình HIV/AIDS đặc biệt là về vấn đề truyền thông.
- TP.HCM, có sự tự phát từ ý thức của giáo dân, có lời mời gọi và sự ủng hộ của Chủ Chăn, có nguồn năng lực lớn từ phía các dòng, các nhà chuyên môn.

- Có 1 Ban mục vụ chăm sóc.
- Chính trong khi làm trong lĩnh vực AIDS các tình nguyện viên lại tìm được Chúa, tìm được sự hỗ trợ và quan phòng của Chúa.
- Sự nhận biết Chúa là nguồn động viên cho tình nguyện viên: hơn 1.000 người trở lại đạo khi được chăm sóc.

- Họ cảm thấy họ được nâng đỡ.
2- Vấn đề

+ Từ các giáo phận: Chưa có một chương trình hành động cụ thể.
+ Các Đức cha còn quá nhiều việc phải giải quyết, quan tâm nhưng không biết bắt đầu từ đâu.
+ Hiểu biết về HIV/AIDS còn giới hạn.
+ Không có nhân lực.
+ Không có mạng lưới kết hợp.
* Khó khăn: Thiếu sự liên kết
Thiếu thông tin
Thiếu chuyên viên

3- Định Hướng
- Tập huấn cho linh mục/ giám mục.
- Nghiên cứu vấn đề HIV trong xứ của mình.
- Xây dựng mạng lưới.
- Mời những nhóm có kinh nghiệm để giúp nâng cao năng lực, truyền thông.
- Xin NGOs giúp với một dự án truyền thông.
- Xây dựng nguồn nhân lực địa phương.
- Nên bắt đầu từ truyền thông.

Nhóm 6: TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC VỀ HIV/AIDS

1- Khó khăn

- Chưa được quan tâm và ủng hộ từ phía các cấp lãnh đạo Giáo Hội và chính quyền.
- Thiếu nhân sự, chuyên môn, phương tiện, tài chính, tài liệu truyền thông.
- Chưa có điều kiện cho những dịp giao lưu chia sẻ kinh nghiệm.
- Mạng lưới truyền thông giáo dục chưa rộng.
- Đối tượng đa dạng.
- Xã hội không quan tâm về HIV/AIDS.
- Những cái nhìn sai về HIV/AIDS: mại dâm, ma tuý à phân biệt đối xử.
- Người có HIV chưa mạnh dạn tham gia vào hoạt động truyền thông.

* Muốn phòng ngừa lây lan HIV/AIDS thì cần đẩy mạnh truyền thông giáo dục? Đúng nhưng chưa đủ: Ngoài việc truyền thông kiến thức HIV/AIDS cần phải giáo dục giới tính, kỹ năng sống, giáo dục nhân bản. “Muốn chiến thắng HIV/AIDS thật sự và có trách nhiệm, cần cổ vũ sự phòng bệnh qua việc tôn trọng giá trị thánh thiêng của sự sống, đào tạo con người hiểu đúng về tình dục, đức khiết tịnh và lòng chung thuỷ trong hôn nhân” (Bài phát biểu của ĐTC Gioan Phaolô II trong buổi tiếp đón tân đại sứ nước Hà Lan, bà Monique Partricia Antornette, ngày 22-1-2005).

2- Phương pháp truyền thông giáo dục

Truyền thông rộng rãi (nói chuyện/thuyết trình cho trên 100 người nghe) hay thông qua phương tiện truyền thanh, truyền hình sẽ giúp giảm lây nhiễm HIV? Đúng nhưng chưa đủ: Truyền thông giáo dục phải nhắm đến thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi thông qua phương pháp giáo dục chủ động có sự tham gia của người học như trò chơi, thảo luận nhóm, sắm vai, phân tích tình huống, động não…

2.1- Trò chơi hành vi: mục đích nhận biết các hành vi nguy cơ.

Mỗi người sẽ nhận được một số hình ảnh, tương đương với một hành vi. Mỗi người sẽ chia sẻ hành vi đó là hành vi an toàn, không an toàn, hay hành vi phụ thuộc (có điều kiện mới lây HIV).

2.2- Trò chơi Lây nhiễm: mục đích nhằm thấy tốc độ lây lan HIV và những cảm xúc của người có HIV/AIDS.

Mỗi người sẽ nhận những tấm thẻ để đi làm quen và đổi thẻ cho nhau, sẽ có thẻ mang dấu HIV.

2.3- Trò chơi rao lôtô:
1- Quan hệ tình dục khi còn quá trẻ
2- sử dụng chung nhà vệ sinh
3- Phụ nữ nhiễm HIV mang thai có lây cho con
4- Cạo râu
5- Chăm sóc bệnh nhân AIDS
6- Cắt móng tay
7- Mặc chung quần áo với người nhiễm HIV
8- Quan hệ tình dục sau khi uống bia rượu
9- Muỗi chích người có HIV bay sang chích người khác
10- Bắt tay và ôm hôn người nhiễm HIV/AIDS
11- Hôn sâu
12- Sử dụng chung kim bơm – kim tiêm
13- Tắm chung bể bơi, ao hồ
14- Ăn uống chung với người có HIV
15- Quan hệ tình dục
16- Cho máu
17- Quan hệ tình dục với nhiều người
18- Xăm hình
19- Truyền máu
20- AIDS là tệ nạn xã hội
21- Tự kiềm chế không quan hệ tình dục
22- Châm cứu, giác lễ 23- Xỏ lỗ tai
24- Chung thuỷ một vợ một chồng
25- Ôm hôn

2.4- Trò chơi Tin tốt lành:
Mọi người di chuyển trong phòng, thăm hỏi nhau và chia sẻ những thông tin liên quan đến HIV/AIDS, sức khoẻ, ma tuý.

2.5- Trò chơi Sắm vai:
Đặt ra tình huống và sắm vai theo tình huống đó, giúp cho mọi người có kỹ năng xử lý vấn đề, giúp thay đổi nhận thức và hành vi rất hiệu quả.

2.6- Trò chơi múa rối:
Dùng rối để thể hiện những vấn đề của cuộc sống.

2.7- Trò chơi thi đố vui:
3- Đề xuất

- Ngoài truyền thông chúng ta phải quan tâm giáo dục giới tính
- Hội đồng Giám mục cần quan tâm nhiều hơn đến HIV/AIDS, tranh thủ sự đồng thuận của các cấp lãnh đạo Công giáo.
- Thành lập ban điều phối, ban nội dung, đào tạo.
- Mạnh dạn liên kết với các tổ chức, tôn giáo bạn.
- Thực hiện các bộ tài liệu truyền thông về HIV/AIDS.

Nhóm 7: CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ QUỐC GIA

1- Thuận lợi và cơ hội

- Các tổ chức phi chính phủ đã thấy sự công nhận mặc nhiên của chính quyền trong mạng lưới phòng chống HIV/AIDS của người Công giáo.
- Giáo Hội quan tâm và nhiều người Công giáo cũng quan tâm đến HIV, tổ chức UNAIDS quốc tế và người đứng đầu của tổ chức này tại Việt Nam cũng quan tâm, đó là một bằng chứng để chúng ta xin tài trợ. Và trong hội thảo này mở ra cho chúng ta việc mở rộng mạng lưới HIV đến nhiều Giáo phận hơn. Qua sự chia sẻ của hội thảo này thì có sự hỗ trợ cao trong các người làm việc, nhiều người có kinh nghiệm, kiến thức, chuyên môn cao.

+ Làm sao khuyến khích sự quan tâm về HIV trong Giáo Hội.
1- Vấn đề HIV và những gì liên quan đến HIV ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội. Việc lây lan HIV là do sự bất công và bất trung trong xã hội VN.
2- Trong quá khứ, sự tương quan giữa Giáo Hội và chính quyền Việt Nam như tảng băng, nhưng nay đã cởi mở hơn.

+ Những khó khăn đang đối diện:
1- Sự công nhận của Nhà nước chưa rõ ràng.
2- Quản lý dự án cũng rất quan trọng, nhân viên hoặc chuyên gia quản lý dự án, quản lý về y tế chưa nhiều.
3- HIV là vấn đề phức tạp và thay đổi liên tục, trong khi chúng ta cập nhập rất chậm và bị giới hạn.
4- Có một số chương trình thí điểm chúng ta làm thành công nhưng cần nhân rộng mẫu chương trình này ra nhiều nơi hơn.
5- Khó khăn tương quan giữa tổ chức quốc tế và chúng ta: đôi khi các tổ chức Phi chính phủ (NGOs) thấy HIV là mảng nổi và quan tâm nên đổ hết nguồn lực vào dẫn đến sự cạnh tranh vì những vấn đề khác không được quan tâm. Sự quan tâm về HIV mạnh hơn dẫn đến nảy sinh cạnh tranh về quyền lực.
6- Hiện nay vẫn còn thiếu sự nối kết cụ thể tổng quát về HIV giữa Giáo Hội và Nhà nước Việt Nam.
7- Nhiều khi tiền quỹ NGOs giúp chúng ta cũng từ nhiều tổ chức khác, mà họ đòi nhiều điều kiện trong khi chúng ta không đáp ứng được.
8- Khi nhiều chương trình thì có sự lặp lại dẫn đến sự cạnh tranh, mất đi tương quan tốt giữa các tổ chức với nhau, nên cần đối thoại và hợp tác rõ hơn.
9- Các tổ chức NGOs Công giáo thường muốn dự án lâu dài, do đó, nếu tổ chức nào có lên dự án ngắn thì rất khó được chấp nhận.

2- Kết luận và hướng tới:

1- chúng ta cần tập trung nâng cao năng lực từ mọi giới liên quan đến HIV.
2- Cần hợp tác để phát triển chính sách hoạt động về HIV, chăm sóc về mục vụ xã hội, giáo huấn và kinh nghiệm, giáo huấn của GH phù hợp với hoàn cảnh VN
3- Quỹ các tổ chức công giáo quốc tế không có nhiều để giải quyết hết mọi vấn đề chúng ta. Vì thế nên tìm cơ hội để hơp tác với các tổ chức khác, và với các tổ chức của nhà nước. Tôi thấy sự hợp tác giữa các tôn giáo với nhau thật đáng khích lệ. Ngoài ra, cần nới rộng mạng lưới hoạt động này tại cộng đồng, cần nâng cao đối thoại và chia sẻ mạng lưới HIV không giới hạn tại Việt Nam mà phải mở rộng ra thế giới, gọi là (CHAN).
4- Tập trung nhiều hơn chia sẻ suy tư về sứ mệnh mục vụ và biểu hiện khác nhau về Kitô giáo trong các khía cạnh khác nhau của xã hội.
5- Có nhiều cách chăm sóc người HIV, ví dụ như: chăm sóc trẻ HIV tập trung tại trung tâm, cách khác là để trẻ tại cộng đồng hoặc sau thời gian ở trung tâm đưa trẻ về cộng đồng, chúng ta cần lượng giá cách nào tốt nhất cho trẻ để thực hiện.