Trong bài viết cho hãng tin AFP, ký giả Nguyễn Thăng Long ghi nhận rằng nền kinh tế Việt Nam đã đạt được các chỉ tiêu trong nhiều khu vực vào năm 2002 lần đầu tiên sau cuộc khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và việc này đã khiến các quan sát viên địa phương và nước ngoài tỏ vẻ lạc quan một cách thận trọng về các triển vọng tương lai.
Theo các con số thống kê chính thức, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2002 được ghi nhận là 7%, so với 6,7% của năm trước. Năm 1997, tỷ lệ đó là 5,5% trong thời kỳ mà các lân bang Á Châu chịu ảnh hưởng toàn bộ của cuộc khủng hoảng trong vùng.
Các nhà kinh tế Việt Nam được hãng AFP phỏng vấn nói rằng nhờ thành tích này mà Việt Nam được xếp hạng thứ nhì về tăng trưởng kinh tế ở châu Á, chỉ đứng sau có Trung Quốc.
Theo đánh giá của bà Phạm Chi Lan, phó chủ tịch phòng Thương Mại và Công Nghệ Việt Nam, thì một số khu vực quan trọng đã ghi nhận mức tăng trưởng nhanh hơn. Tuy nhiên, trị giá đầu tư nước ngoài lại sụt 50% và đó là khu vực gây thất vọng nhiều nhất trong năm 2002.
Công nghệ du lịch trước đây chưa khai thác đúng mức đã đạt được thành tích đáng kể với số du khách nước ngoài tăng 12,8%. Hiệp định thương mại Việt Mỹ bắt đầu có hiệu lực vào cuối năm 2001 cũng giúp cho công cuộc mua bán giữa hai nước cựu thù tăng 60% .
Theo công ty tham vấn về rủi ro kinh tế và chính trị có cơ sở tại Hong Kong, Việt Nam đang trở thành một cái đích được ưa chuộng cho công cuộc kinh doanh trong vùng châu Á Thái Bình Dương, vì có ít nguy cơ bị tấn công khủng bố của các tổ chức như al-Qaida.
Mặc dầu vậy, môi trường kinh doanh, nhất là hệ thống pháp lý, tuy có những thay đổi bề mặt, vẫn là một rào cản cho đầu tư nước ngoài. Nhiều cơ sở kinh doanh đổ xô vào Việt Nam sau khi Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994 đã thất vọng rút ra.(VOA)