XIN NHIỀU QUÁ LÀ MỘT GÁNH NẶNG?
Bản thân tôi đang phụ trách một địa bàn mục vụ khá lớn : gồm 3 huyện trọn và 4 xã của một huyện khác thuộc tỉnh Daklak. Vì thế bà con tín hữu tạm gọi là đa diện và nhiều xuất xứ. Trong đó có một số bà con di dân từ miền Bắc vào, vì sinh kế. Có lẽ do thói quen hay tập quán giao tiếp, tạm gọi là đạo đức của mình nên mỗi lần đến gặp tôi, linh mục quản xứ, để trình bày nhu cầu nào đó, bà con thường mào đầu bằng các câu : “Chúng con xin trông ơn cha” hay “xin cha thương ban”… Quả thật đã hơn một lần tôi không kìm được sự khó chịu nên đã buột miệng : “nếu anh chị em còn nói những câu như thế thì tôi không giải quyết chuyện gì cả”. Dĩ nhiên, sự thường sau cơn nắng nóng, trời lại dịu mát. Tôi cố dịu giọng giải thích : “giả như có một ai đó là lương dân hay bà con khác đạo ở đây, nghe thấy thì họ nghĩ ông cha này ra sao đây ? Ông ta chắc là khó tính, hà khắc hay là bủn xỉn, keo kiệt dữ lắm ?” Nếu không tại sao người ta cứ xin xỏ, cứ trông ơn miết vậy. Chuyện bà con lương dân, anh chị em khác đạo đến xin cho con cái theo đạo để kết hôn với người Công giáo ở cái xứ rộng lớn này quả không ít.
Từ dữ kiện đời thường trên, ta thử lần lên chuyện giữa ta với Thiên Chúa, giữa ta với những vị, những đấng bậc đang cầm quyền trong Hội Thánh cũng như ngoài xã hội.
Chuyện giữa ta với Thiên Chúa. Chúa Giêsu dạy ta là hãy cầu nguyện liên lỉ nhưng không thấy Người dạy ta là hãy liên lỉ mở miệng cầu xin. Cái gì cũng xin, hết xin Chúa ban ơn lành rồi lại xin Người tha thứ tội lỗi.
Không ai chối cãi chuyện cần phải cầu xin. Trong kinh “Lạy Cha”, lời kinh duy nhất mà Đức Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện thì chữ “xin” xuất hiện nhiều lần. Trong các kinh nguyện của các cử hành Phụng Vụ thì lời cầu xin không thể nói là ít được. Ta phải xin để ý thức rằng mọi sự là do ân sủng Chúa ban (tout est grâce ). “ Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công…” ( Tv 126 ). Tuy nhiên, nếu không để ý thì việc mãi miết cầu xin, thậm chí mãi miết cầu xin Chúa tha tội, xin Chúa ban ơn, đích thị là một lỗi lớn, có khi là tội lớn. Hễ cầu nguyện là cứ cầu xin thì vô tình ta có thể ta phạm hai tội lớn.
Tội thứ nhất : Làm biến dạng chân dung của Thiên Chúa ta thờ. Thay vì tôn thờ một Thiên Chúa là Cha nhân hậu, giàu lòng xót thương, chậm bất bình và rất mực khoan dung thì ta đã vẽ trong tâm trí mình một vị thần hà khắc, chờ con người sai lỗi để trừng phạt và có khi phạt cả con cháu đến ba bốn đời. Thay vì tôn thờ một Thiên Chúa là người cha trên các người cha vốn biết con cái mình cần những gì và sẵn sàng ban phát điều tốt nhất thì ta đã hình dung Chúa như một vị thần keo kiệt bủn xỉn hay như một ông chủ gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát.
Tội thứ hai : Tự biến mình thành người nô lệ chứ không phải là con cái. Ở trong nhà Cha mà ta cứ hành xử như mình là người làm thuê hay là người nô lệ. Phải xin nhiều thì mới được nhậm lời thì ta vô tình hay hữu ý quên rằng của Cha cũng là của con. Trong Đức Kitô, chúng ta đã được thừa hưởng gia tài Chúa hứa ban thế mà ta làm như mình không được chút quyền nào cả. Cứ mãi cầu xin Chúa tha thứ thì ta quên rằng Chúa đã tha cho ta ngay cả khi ta còn là tội nhân. Quên điều này thì ta cũng dễ quên rằng Chúa đã ban cho ta cái quyền được hưởng tình thương tha thứ của Chúa bằng cách tha thứ cho anh em, bằng cách đem những cái bên trong ra mà phân phát, bằng cách khoan dung, quảng đại, không xét đoán tha nhân … Khi biến mình thành nô lệ hay là người làm thuê thì ta vừa bỏ quên quyền lợi của mình vừa xao lãng nghĩa vụ của mình. Một trong những nghĩa vụ của người con trong gia đình là phải làm rạng rỡ gia phong. Đây chính là việc làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Là con cái trong nhà, chúng ta còn có nghĩa vụ yêu thương, đùm bọc anh chị em của mình.
Chuyện giữa ta với Hội Thánh, với xã hội, với quê hương, đất nước : Xin nhiều qua, cái gì cũng xin thì ta đang có lỗi với Đấng thiết lập Hội Thánh, với tiên tổ, những vị đã có công dựng xây quê hương, đất nước.
Tội thứ nhất : Cái gì cũng xin thì ta vô tình làm biến dạng những vị điều hành, lãnh đạo Hội Thánh, lãnh đạo quê huơng đất nước thành những ông chủ chứ không còn là đầy tớ của đoàn chiên, của nhân dân. Xin nhiều quá thì chúng ta rất có thể làm cho những người vốn là đầy tớ nhân dân trở thành độc đoán, độc quyền và có thể thành độc tài, độc ác vì lợi, vì danh. Xin nhiều quá thì chúng ta có thể vô tình biến những mục tử nhân lành phải sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì đoàn chiên thành những kẻ chăn thuê, chỉ biết lấy sữa, xén lông các con chiên béo mập mà bỏ rơi các con chiên bệnh hoạn tật nguyền. Chắc chắn một xã hội, một đất nước với những vị lãnh đạo, điều hành đất nước như thế thì sẽ làm cho quốc gia trì trệ, chậm phát triển và dĩ nhiên đời sống người dân sẽ lầm than, khổ cực. Tuơng tự như thế, một Hội Thánh với những mục tử giả hiệu thì đoàn chiên sẽ tan tác.
Tội thứ hai : Cung cách hành xử kiểu cái gì cũng xin sẽ làm ta quên mất mình là một công dân, là một thành viên của xã hội này, đất nước này. Nếu cái gì cũng xin thì ta đã quên mất mình là một phần tử trong đoàn dân Chúa, đã được Đức Kitô thông chia các chức vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả của Người.
Là thành viên của một xã hội, là công dân của một quốc gia, là phần tử của Hội Thánh, chúng ta vừa có những quyền lợi căn bản hợp pháp vừa có những nghĩa vụ chính đáng, tất yếu của một công dân, của một người con cái Chúa trong lòng Hội Thánh mẹ. Đã là quyền lợi chính đáng, đã là nghĩa vụ phải đạo thì ta phải hành xử cách tự do và tự nguyện. Và do đó không thể có chuyện xin xỏ hay xin – cho ở đây. Nhiều quốc gia trên thế giới và ngay cả đất nước chúng ta cũng đang nỗ lực hoàn thiện cơ cấu pháp luật để bãi bỏ dần cơ chế xin – cho.
Ngày nay nước nhà ta đang chuyển dần các thủ tục xin xỏ qua hình thức đăng ký. Đây là một nét tiến bộ, nhưng cũng là một quy luật tất yếu để người dân phát huy vai trò làm chủ, để không chỉ minh nhiên hành xử các quyền lợi căn bản mà còn tích cực thực thi các nghĩa vụ chính đáng của mình. Bộ Giáo Luật 1983 đã quy định rõ những quyền lợi và nghĩa vụ của người tín hữu, của tín hữu hàng giáo dân từ điều 208 đến 231. Chẳng hạn điều 213 : “ Các tín hữu có quyền được lãnh nhận từ các Chủ chăn sự hỗ trợ nhờ các của cải thiêng liêng của Hội Thánh, nhất là Lời Chúa và các Bí tích” hoặc điều 222.2 “ Các tín hữu có bổn phận cổ võ công bằng xã hội cũng như dùng tài sản riêng tư để giúp đỡ những người nghèo, theo lệnh truyền của Thiên Chúa”…
Để kết thúc những chia sẽ, xin khẳng định rằng không thể không xin. Với Thiên Chúa, khi ta cầu xin là ta nhìn nhận mọi sự đều là hồng ân. Mọi sự ta đang có và nhất là sự “ta là” tức là sự hiện hữu của ta cũng như mọi vật mọi loài đều do bởi quyền năng và tình thương của Chúa. Ngay cả đối với những tập thể xã hội hay với Hội thánh thì chuyện xin vẫn còn đó. Điều này nói lên sự cần thiết, sự phụ thuộc của ta đối với Hội Thánh, đối với xã hội, vì không ai là một hòn đảo. Tuy nhiên, không thể và không được phép hành xử kiểu cái gì cũng xin. Cần phải thận trọng. Thậm chí ngay cả việc thánh thiêng như “ xin Chúa chúc lành cho anh chị em”, dù tự nó là tốt đẹp, nhưng diều làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn đó là hãy biến con người của mình, cuộc đời của mình thành mối chúc lành cho tha nhân như xưa Giavê hứa với Abraham : “Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành…Nhờ người, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” ( St 12,2-3 ).
(Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột)
Bản thân tôi đang phụ trách một địa bàn mục vụ khá lớn : gồm 3 huyện trọn và 4 xã của một huyện khác thuộc tỉnh Daklak. Vì thế bà con tín hữu tạm gọi là đa diện và nhiều xuất xứ. Trong đó có một số bà con di dân từ miền Bắc vào, vì sinh kế. Có lẽ do thói quen hay tập quán giao tiếp, tạm gọi là đạo đức của mình nên mỗi lần đến gặp tôi, linh mục quản xứ, để trình bày nhu cầu nào đó, bà con thường mào đầu bằng các câu : “Chúng con xin trông ơn cha” hay “xin cha thương ban”… Quả thật đã hơn một lần tôi không kìm được sự khó chịu nên đã buột miệng : “nếu anh chị em còn nói những câu như thế thì tôi không giải quyết chuyện gì cả”. Dĩ nhiên, sự thường sau cơn nắng nóng, trời lại dịu mát. Tôi cố dịu giọng giải thích : “giả như có một ai đó là lương dân hay bà con khác đạo ở đây, nghe thấy thì họ nghĩ ông cha này ra sao đây ? Ông ta chắc là khó tính, hà khắc hay là bủn xỉn, keo kiệt dữ lắm ?” Nếu không tại sao người ta cứ xin xỏ, cứ trông ơn miết vậy. Chuyện bà con lương dân, anh chị em khác đạo đến xin cho con cái theo đạo để kết hôn với người Công giáo ở cái xứ rộng lớn này quả không ít.
Từ dữ kiện đời thường trên, ta thử lần lên chuyện giữa ta với Thiên Chúa, giữa ta với những vị, những đấng bậc đang cầm quyền trong Hội Thánh cũng như ngoài xã hội.
Chuyện giữa ta với Thiên Chúa. Chúa Giêsu dạy ta là hãy cầu nguyện liên lỉ nhưng không thấy Người dạy ta là hãy liên lỉ mở miệng cầu xin. Cái gì cũng xin, hết xin Chúa ban ơn lành rồi lại xin Người tha thứ tội lỗi.
Không ai chối cãi chuyện cần phải cầu xin. Trong kinh “Lạy Cha”, lời kinh duy nhất mà Đức Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện thì chữ “xin” xuất hiện nhiều lần. Trong các kinh nguyện của các cử hành Phụng Vụ thì lời cầu xin không thể nói là ít được. Ta phải xin để ý thức rằng mọi sự là do ân sủng Chúa ban (tout est grâce ). “ Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công…” ( Tv 126 ). Tuy nhiên, nếu không để ý thì việc mãi miết cầu xin, thậm chí mãi miết cầu xin Chúa tha tội, xin Chúa ban ơn, đích thị là một lỗi lớn, có khi là tội lớn. Hễ cầu nguyện là cứ cầu xin thì vô tình ta có thể ta phạm hai tội lớn.
Tội thứ nhất : Làm biến dạng chân dung của Thiên Chúa ta thờ. Thay vì tôn thờ một Thiên Chúa là Cha nhân hậu, giàu lòng xót thương, chậm bất bình và rất mực khoan dung thì ta đã vẽ trong tâm trí mình một vị thần hà khắc, chờ con người sai lỗi để trừng phạt và có khi phạt cả con cháu đến ba bốn đời. Thay vì tôn thờ một Thiên Chúa là người cha trên các người cha vốn biết con cái mình cần những gì và sẵn sàng ban phát điều tốt nhất thì ta đã hình dung Chúa như một vị thần keo kiệt bủn xỉn hay như một ông chủ gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát.
Tội thứ hai : Tự biến mình thành người nô lệ chứ không phải là con cái. Ở trong nhà Cha mà ta cứ hành xử như mình là người làm thuê hay là người nô lệ. Phải xin nhiều thì mới được nhậm lời thì ta vô tình hay hữu ý quên rằng của Cha cũng là của con. Trong Đức Kitô, chúng ta đã được thừa hưởng gia tài Chúa hứa ban thế mà ta làm như mình không được chút quyền nào cả. Cứ mãi cầu xin Chúa tha thứ thì ta quên rằng Chúa đã tha cho ta ngay cả khi ta còn là tội nhân. Quên điều này thì ta cũng dễ quên rằng Chúa đã ban cho ta cái quyền được hưởng tình thương tha thứ của Chúa bằng cách tha thứ cho anh em, bằng cách đem những cái bên trong ra mà phân phát, bằng cách khoan dung, quảng đại, không xét đoán tha nhân … Khi biến mình thành nô lệ hay là người làm thuê thì ta vừa bỏ quên quyền lợi của mình vừa xao lãng nghĩa vụ của mình. Một trong những nghĩa vụ của người con trong gia đình là phải làm rạng rỡ gia phong. Đây chính là việc làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Là con cái trong nhà, chúng ta còn có nghĩa vụ yêu thương, đùm bọc anh chị em của mình.
Chuyện giữa ta với Hội Thánh, với xã hội, với quê hương, đất nước : Xin nhiều qua, cái gì cũng xin thì ta đang có lỗi với Đấng thiết lập Hội Thánh, với tiên tổ, những vị đã có công dựng xây quê hương, đất nước.
Tội thứ nhất : Cái gì cũng xin thì ta vô tình làm biến dạng những vị điều hành, lãnh đạo Hội Thánh, lãnh đạo quê huơng đất nước thành những ông chủ chứ không còn là đầy tớ của đoàn chiên, của nhân dân. Xin nhiều quá thì chúng ta rất có thể làm cho những người vốn là đầy tớ nhân dân trở thành độc đoán, độc quyền và có thể thành độc tài, độc ác vì lợi, vì danh. Xin nhiều quá thì chúng ta có thể vô tình biến những mục tử nhân lành phải sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì đoàn chiên thành những kẻ chăn thuê, chỉ biết lấy sữa, xén lông các con chiên béo mập mà bỏ rơi các con chiên bệnh hoạn tật nguyền. Chắc chắn một xã hội, một đất nước với những vị lãnh đạo, điều hành đất nước như thế thì sẽ làm cho quốc gia trì trệ, chậm phát triển và dĩ nhiên đời sống người dân sẽ lầm than, khổ cực. Tuơng tự như thế, một Hội Thánh với những mục tử giả hiệu thì đoàn chiên sẽ tan tác.
Tội thứ hai : Cung cách hành xử kiểu cái gì cũng xin sẽ làm ta quên mất mình là một công dân, là một thành viên của xã hội này, đất nước này. Nếu cái gì cũng xin thì ta đã quên mất mình là một phần tử trong đoàn dân Chúa, đã được Đức Kitô thông chia các chức vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả của Người.
Là thành viên của một xã hội, là công dân của một quốc gia, là phần tử của Hội Thánh, chúng ta vừa có những quyền lợi căn bản hợp pháp vừa có những nghĩa vụ chính đáng, tất yếu của một công dân, của một người con cái Chúa trong lòng Hội Thánh mẹ. Đã là quyền lợi chính đáng, đã là nghĩa vụ phải đạo thì ta phải hành xử cách tự do và tự nguyện. Và do đó không thể có chuyện xin xỏ hay xin – cho ở đây. Nhiều quốc gia trên thế giới và ngay cả đất nước chúng ta cũng đang nỗ lực hoàn thiện cơ cấu pháp luật để bãi bỏ dần cơ chế xin – cho.
Ngày nay nước nhà ta đang chuyển dần các thủ tục xin xỏ qua hình thức đăng ký. Đây là một nét tiến bộ, nhưng cũng là một quy luật tất yếu để người dân phát huy vai trò làm chủ, để không chỉ minh nhiên hành xử các quyền lợi căn bản mà còn tích cực thực thi các nghĩa vụ chính đáng của mình. Bộ Giáo Luật 1983 đã quy định rõ những quyền lợi và nghĩa vụ của người tín hữu, của tín hữu hàng giáo dân từ điều 208 đến 231. Chẳng hạn điều 213 : “ Các tín hữu có quyền được lãnh nhận từ các Chủ chăn sự hỗ trợ nhờ các của cải thiêng liêng của Hội Thánh, nhất là Lời Chúa và các Bí tích” hoặc điều 222.2 “ Các tín hữu có bổn phận cổ võ công bằng xã hội cũng như dùng tài sản riêng tư để giúp đỡ những người nghèo, theo lệnh truyền của Thiên Chúa”…
Để kết thúc những chia sẽ, xin khẳng định rằng không thể không xin. Với Thiên Chúa, khi ta cầu xin là ta nhìn nhận mọi sự đều là hồng ân. Mọi sự ta đang có và nhất là sự “ta là” tức là sự hiện hữu của ta cũng như mọi vật mọi loài đều do bởi quyền năng và tình thương của Chúa. Ngay cả đối với những tập thể xã hội hay với Hội thánh thì chuyện xin vẫn còn đó. Điều này nói lên sự cần thiết, sự phụ thuộc của ta đối với Hội Thánh, đối với xã hội, vì không ai là một hòn đảo. Tuy nhiên, không thể và không được phép hành xử kiểu cái gì cũng xin. Cần phải thận trọng. Thậm chí ngay cả việc thánh thiêng như “ xin Chúa chúc lành cho anh chị em”, dù tự nó là tốt đẹp, nhưng diều làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn đó là hãy biến con người của mình, cuộc đời của mình thành mối chúc lành cho tha nhân như xưa Giavê hứa với Abraham : “Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành…Nhờ người, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” ( St 12,2-3 ).
(Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột)