Trung thần bất sự nhị quân



Sống trên đời, sự thất trung và sự phản bội là một thái độ tiêu cực, làm hạ thấp và giảm thiểu nhân vị cũng như tư cách của một người, nếu không nói là nhiều khi đương sự còn bị nghiêm trị, như trong trường hợp : sự phản bội và thất trung đó gây ra nguy hại nghiêm trọng cho phúc lợi chung của quốc gia, của đảng phái, của tập thể hay của xã hội.

Ngược lại, lòng trung tín là một nhân đức cao cả và trọng yếu bất khả khiếm khuyết trong tương quan xã hội, giữa một nhân vị với các nhân vị khác. Ðức trung tín làm nên anh hùng, vì nó biểu lộ đầy đủ bản lãnh và tư cách một nhân vị đã từng nỗ lực để đạt tới được đỉnh cao của đạo nhân, của đạo làm người. Người có được chữ tín, người có lòng trung thành là một người anh hùng; đúng như lời thánh hiền đã nói : « Thành giả thiên chi đạo giã; thành chi giả nhân chi đạo giã » - Ðức thành tín là cái đạo của trời; nhưng có được cái đức thành tín lại là đạo của người (sách Trung Dung). Nói cách khác, muốn có được lòng trung thành hay tín trung, người ta cần phải tự nỗ lực, dày công khổ luyện mới được.

Vì sự trung thành là một nhân đức xã hội thiết yếu bất khả khiếm khuyết như thế, nên nó đã được cả nhân loại nói chung và người Việt Nam nói riêng, rất trân trọng tuân giữ và bảo tồn. Sự tuân giữ và bảo tồn đó được cụ thể hóa bằng thái độ « Trung thần bất sự nhị quân - người bầy tôi trung tín không phục vụ hai quân vương », hay theo kiểu nói của Phúc Âm : Người đầy tớ tốt không được phép làm tôi hai chủ (x. Mt 6,24).

Dĩ nhiên, đức tính « trung thần bất sự nhị quân » đó không chỉ giới hạn qua thái độ và cách hành xử trong các tương quan trong cuộc sống, nhưng nó còn vượt qua cả biên giới sự sống và vươn qua đến sự chết. Nói cách khác, để thể hiện lòng trung tín đối với vua, với tổ quốc, người bầy tôi hay người công dân - nếu cần - còn phải sẵn sàng chấp nhận cả cái chết nữa.

Trên thực tế, sự trung thành hầu như tuyệt đối đó thường được thể hiện bằng hình thức bó buộc, đặc biệt dưới các chế độ quân chủ chuyên chế xưa kia hay trong các chế độ độc tài ngày nay. Thí dụ : dưới thời các vua Pha-ra-ông của Ai Cập, một khi có một vị vua băng hà, thì bà hoàng hậu và toàn bộ các cung phi tỳ thiếp cũng như các kẻ hầu cận của nhà vua đều phải chết theo, bị chôn sống trong kim tự tháp cùng với nhà vua, để bên kia thế giới họ vẫn tiếp tục hầu hạ ông ta. Và ngày nay, các chế độ độc tài cũng cưỡng ép những người dưới quyền phải tuyệt đối trung thành với chế độ. Thí dụ : Khi phải ra trận, những người lính chỉ còn một lựa chọn duy nhất là chiến thắng kẻ thù của chế độ hay là chết, chứ không được phép lùi bước hay bỏ chạy, dù rằng đó chỉ là một trận đánh hoàn toàn tuyệt vọng và thí mạng; nếu không, họ sẽ bị chính cấp chỉ huy của họ bắn bỏ tại chỗ. Một bằng chứng cụ thể khác, là sau nhiều trận đánh người ta đã tìm thấy trong các chiếc xe thiết giáp hay xe bọc thép còn bốc khói, xác của những người bộ đội cháy đen cong keo khi chân còn bị xiềng chặt trong xe.

Lòng trung thành đến chấp nhận cái chết cũng còn được thể hiện do sự nhồi sọ và các chiêu bài lừa gạt của bọn sát nhân có mưu đồ đen tối, như trong các trường hợp các kẻ được gọi là « cảm tử quân » tự sát Hồi Giáo hiện nay. Vâng, qua các cuộc khảo cung những tên « cảm tử quân » bị bắt sau các cuộc tự sát bằng bom mìn tự động bất thành, người ta biết được rằng bọn khủng bố quốc tế đã lợi dụng những tín đồ Hồi Giáo quá khích, thường thuộc thành phần nghèo đói và vô học thức, vào các thủ đoạn chính trị bỉ ổi bằng các hành động khủng bố đẫm máu của chúng, như nhồi sọ cho những kẻ này tư tưởng tự sát giết người là tử đạo, là chết cho chúa Allah, Ðấng đang chờ họ trên thiên đàng để thưởng công cho họ, nào xe hơi nhà lầu, nào đủ thứ dinh thự nguy nga, nào vô số vợ đẹp và cả một cuộc sống sung sướng hạnh phúc với tiền dư bạc thừa, v.v… ! Và một sự thật khác trong các cuộc được gọi là « tự sát » như thế, là những cảm tử quân bị gạt gẫm đó chỉ mang đầy bom mìn tự động trên mình hay chở đầy trên xe tới các mục tiêu đã được chỉ định, còn việc bấm nút cho bom mìn nổ là do bọn chủ mưu điều khiển ở nhà.

Trong khi đó, lòng trung thành là một nhân đức anh hùng chân thật chỉ khi nó thực sự được thể hiện một cách hoàn toàn tự nguyện. Trong suốt lịch sử Việt Nam đã xảy ra biết bao nhiêu tấm gương về lòng trung thành đó. Thí dụ : Khi một anh quân bị cướp ngôi hay bị tiếm vị, nhiều vị trung thần đã thà rủ áo từ quan và về quê sống cảnh thanh bạch, để tỏ lòng trung thành với vị quân vương của mình, chứ không chịu xu thời cộng tác với bọn gian thần để vinh thân phi gia. Ở đây chúng ta phải ghi danh cách riêng một Lê Lai đã tự nguyện sẵn sàng hy sinh, chấp nhận cái chết, hầu vị anh quân của mình là Lê Lợi có điều kiện thoát thân, hoặc một Trần Bình Trọng, đã tỏ ra khinh bỉ bọn giặc Tàu xâm lăng đang tìm mọi cách mua chuộc ông bằng đủ mọi thứ vinh hoa phú quý, và dõng dạc tuyên bố : « Thà làm quỷ phương Nam còn hơn làm vua đất Bắc ! »

Ðặc biệt nhất đối với những người Việt Nam Công Giáo chúng ta, là gương anh hùng bất khuất của trên 300.000 Kitô hữu Việt Nam, các bậc tổ tiên tử đạo đầy dũng cảm của chúng ta. Cái đặc biệt ở đây, là các bậc tổ tiên anh hùng xưa kia của chúng ta không phải là những vị danh tướng như Lê Lai hay Trần Bình Trọng trong sử đời, nhưng chỉ là những người dân dã bình thường, thuộc đủ mọi thành phần xã hội. Nhưng điểm khác biệt nơi các ngài là đức tin vàng đá, tình yêu sắt son và lòng trung thành bất đổi thay đối với Thiên Chúa cũng như đối với Giáo Hội của Người, một đức tin và một lòng trung thành kiên cường và mạnh mẽ đến nỗi không có gì có thể làm lay chuyển được. Họ thà chịu đương đầu với mọi cực hình, bị tra tấn và hành hạ dã man, bị voi dày, bị phanh thân xẻo thịt, bị gươm chém đầu rơi, chứ không chịu chối từ Thiên Chúa và phản bội lại Giáo Hội.

Vâng, các bậc tổ tiên tử đạo anh hùng của chúng ta đã ý thức được một cách đầy đủ và sâu sắc đức tính « trung thần bất sự nhị quân » đối với Thiên Chúa và Mẹ Giáo Hội, đến nỗi các ngài thà chịu đau thương, chứ không thà chịu phản Chúa và Giáo Hội dưới bất cứ hình thức nào. Ðối với các ngài chỉ có một lựa chọn duy nhất là yêu mến và phụng sự Thiên Chúa và Giáo Hội hay là chết mà thôi.

Dĩ nhiên, tình yêu và lòng trung thành tuyệt đối của các ngài đối với Thiên Chúa và Giáo Hội như thế, không hề là hệ quả của một thái độ cực đoan hay quá khích, bị nhồi sọ hay được điều khiển bởi bản năng tự nhiên, nhưng là do sự xác tín và sự nhận thức đầy đủ về chân lý khách quan của Thiên Chúa Tạo Hóa, nguồn mọi sự sống chân thật luôn trào dâng qua Giáo Hội của Người như máng thông chảy không ngừng xuống cho con người chúng ta nguồn sống chân thật đó. Các ngài ra đi hy sinh chịu chết một cách sáng suốt, đầy vui mừng và thanh thản, chứ không hận thù hay căm tức, vì các ngài biết rằng hy sinh thể xác này và chịu chết cho Thiên Chúa như thế, không phải để được bù đắp bằng những phần thưởng vật chất, nhưng là vì tình yêu cũng như lòng trung thành tuyệt đối của các ngài đối với Thiên Chúa và Mẹ Giáo Hội, đồng thời được sống một cuộc sống chân thật và bất tử bên Thiên Chúa.

Như vậy, tình yêu và lòng trung thành của chúng ta đối với Thiên Chúa và Giáo Hội không còn là một tác động riêng rẽ của cuộc sống, nhưng là chính cuộc sống đó, vì chính Thiên Chúa là sự sống, như Người đã quả quyết : « Ta là sự sống », và sự sống đó luôn lưu chuyển dồi dào trong lòng Giáo Hội qua kho tàng các Bí tích. Hay nói cách khác, sự thất tín và sự phản bội lại Thiên Chúa và Mẹ Giáo Hội là hành động tự đánh mất sự sống của chính mình một sự tự sát khờ dại.

Nếu lòng trung thành của mỗi người tín hữu đối với Giáo Hội nói chung, nhất thiết phải mang tính chất bền vững và mạnh mẽ như thế, thì lòng trung thành của hàng giáo sĩ - những người cán bộ của Giáo Hội - đối với Giáo Hội càng phải sâu xa, tuyệt căn và đầy tính chất ràng buộc biết chừng nào. Người ta có thể nói rằng « trung thần bất sự nhị quân » đối với Giáo Hội của các vị Linh mục là con đường một chiều, đã được xác định rõ rệt trong chính Bí tích Thánh Hiến của các ngài, đó là : Yêu mến và phục vụ Mẹ Giáo Hội, Hiền Thê của Ðức Kitô, một cách triệt để mà thôi. Màu áo chùng thâm các ngài khoác trên mình là biểu hiệu của sự chết cho tất cả những gì không thuộc về Thiên Chúa và Giáo Hội: chết cho trần gian, chết cho tiền bạc, danh vọng và mọi mời mọc đời này, chết cho cả chính danh dự, vinh quang và mọi quyền lợi riêng tư cá nhân mình và sau cùng là chết cả cho chính mình, để hầu có thể chỉ sống cho Thiên Chúa, cho sứ mệnh đã được giao phó là tìm vinh Danh Thiên Chúa - ad majorem Gloriam Dei - và phụng sự một mình Giáo Hội của Người mà thôi. Sứ vụ đó còn được ghi rõ ràng trong bộ Giáo Luật, mà mỗi vị Linh mục đều đã hơn một lần đã đọc và học hỏi qua

Dĩ nhiên, nói một cách khách quan, những tín hữu – giáo dân cũng như giáo sĩ - có chủ đích tấn công và phá hoại Giáo Hội với ác ý, luôn luôn thuộc thành phần thiểu số. Còn đại đa số mọi tín hữu đều muốn thành tâm phục vụ Giáo Hội. Nhưng về phương diện cách thức và phương pháp phục vụ Giáo Hội lại mang đầy tính cách chủ quan, không đồng đều và không giống nhau. Mỗi người, mỗi nhóm có những cách thức khác nhau, nhiều khi còn mâu thuẩn và chống đối lẫn nhau. Nghĩa là mục đích, tức phục vụ Giáo Hội, là một; nhưng phương tiện, tức cách thực phục vụ Giáo Hội, lại khác nhau.

Bởi vậy, có nhiều kẻ đã đâm sau lưng Giáo Hội, nhục mạ Giáo Hội và tự mình « “nối giáo cho giặc” gây thiệt hại nặng nề cho Giáo Hội, nhưng vẫn cứ tưởng là mình phục vụ Giáo Hội. Ðúng như lời Ðức Kitô đã nói: Họ là những kẻ ra tay giết hại các con là môn đệ của Thầy, nhưng cứ tưởng là làm một việc tôn thờ Thiên Chúa; và họ làm như thế là vì họ không hề biết Chúa Cha cũng chẳng biết Thầy là ai cả (x. Ga 16,2-3) !

Vậy, ở đây chúng ta miễn đề cập tới những người có ác ý phá đổ Giáo Hội như thế. Chúng ta không phải lo ngại trước họ, vì họ đang đưa chút khả năng thụ tạo mỏng manh đọ sức với quyền năng của Ðấng Tối Cao. Chúng ta hãy để Thiên Chúa xử sự với họ theo phán quyết công minh của Người.

Trái lại, chúng ta chỉ muốn nghĩ đến những tín hữu, những người anh em của chúng ta, có thiện ý muốn phục vụ Giáo Hội, nhưng đã và đang phục vụ Giáo Hội một cách sai lầm: thay vì phục Giáo Hội, thì họ đã vô tình gây đau thương và làm thiệt hại cho Giáo Hội không nhỏ. Chúng ta hãy cầu nguyện cho họ

Ở đây một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để chúng ta biết mình đang phụng sự Thiên Chúa và Giáo Hội một cách thành tâm và chính đáng, chứ không phụng sự một cách sai lầm và rồi gây ra đau thương cho Giáo Hội ?

Câu trả lời thiết tưởng không phức tạp và khó khăn lắm. Ðó chính là một sự phụng sự trong lòng Giáo Hội và cùng với Giáo Hội. Và để biết mình phụng sự Thiên Chúa và Mẹ Giáo Hội ngay trong lòng Giáo Hội và cùng với Giáo Hội hay không, là thái độ phụng sự của chúng ta có khách quan, có khiêm tốn, có tôn trọng và tuân phục quyền bính Giáo Hội qua các luật lệ, qua các giáo huấn cũng như qua sự hướng dẫn dìu dắt của Hàng Giáo Phẩm của Giáo Hội hay không !

Trong Giáo Hội, một dấu chỉ để đánh giá và để phân biệt một thái độ hay một quan điểm sống có khách quan, có thành tâm và nhất là có phát xuất từ Thiên Chúa hay không, đó là hãy nhận định xem chủ thể các thái độ hay quan điểm đó có khiêm tốn và có biết tuân phục đối với quyền Giáo huấn của Giáo Hội, một quyền bính đã được chính Thiên Chúa chuẩn y (x. Mt 18,18; Ga 20,22-23) hay không !

Trong cuộc sống trên cõi đời này, nhất là trong thời đại hỗn loạn ngày nay, khi «vàng thau lẫn lộn », khi trào lưu tục hóa đang chi phối toàn diện thế giới, khi các giá trị đạo đức chân chính đang bị phá sản và con người như đang đứng trước ngã ba đường, mất hết mọi định hướng, thì chỉ còn một lựa chọn duy nhất để khỏi lạc đường là trung thành với đức tin vào Thiên Chúa và bước theo sự hướng dẫn ngôn ngoan của Mẹ Giáo Hội. Lịch sử Kitô giáo đã chứng mình cho thấy điều đó là một chân lý minh nhiên!