Hiện tượng di cư trí não



Trong một con người, phần trí não là phần thân thể đóng vai trò chủ chốt, vai trò quan trọng nhất, bằng các suy tư, bằng các phán đoán và quyết định, mà theo lý thuyết « biện chứng duy vật » của ông, Karl Marx cho đó là phần vật chất đẻ ra tinh thần. Còn theo ngôn ngữ quân sự, người ta gọi trí não là « bộ tổng tham mưu », hay theo ngôn ngữ của điện toán, người ta có thể gọi là « phần mềm » của con người; trong khi đó ngôn ngữ bình dân gọi là « đầu tàu » của cả thân thể.

Vâng, trí não giữ vai trò chỉ huy và điều khiển mọi hoạt động của thân xác. Tất cả mọi va chạm, đụng độ về sinh học với ngoại vật và từ ngoại vật, đều được các hệ thống thần kinh giăng chằng chịt trên mọi phần thân thể điện báo trực tiếp về não bộ, được não bộ phân tích và ra lệnh cần phải phản ứng như thế nào, và tất cả đều xảy ra chớp nhoáng trong tíc tắc, nhanh đến nỗi người ta gọi là phản xạ tự nhiên, nghĩa là không cần phải suy nghĩ nữa. Cũng vậy, những phản ứng từ phía trong thân thể phát ra ngoài, mà chúng ta gọi là lời nói, hành động hay cử chỉ, đều do não bộ sắp đặt và ấn định. Do đó trí não tốt thì các sinh hoạt của thân thể cũng sẽ chính xác và nhanh gọn, còn trí não yếu kém thì các sinh hoạt của thân thể cũng lệch lạc và chậm chạp.

Ðiều đó muốn nói rằng phần trí não hay não bộ nơi con người không đồng đều, không giống nhau. Mỗi người mỗi khác. Kẻ ít người nhiều. Người ta gọi sự chênh lệch hay khác biệt đó là mức độ tài năng, là khả năng trí tuệ hay « chất xám » bẩm sinh nơi mỗi người. Ai có nhiều chất xám thì thông minh trổi vượt mà người ta gọi là những thành phần ưu tú; ai có chất xám vừa, thì thuộc loại trung bình; còn ai có quá ít thì thuộc loài dốt nát và thua kém. Và nếu xã hội là do nhiều cá nhân hợp lại, thì mọi sinh hoạt, mọi thăng tiến, mọi tiến bộ của xã hội cũng tùy thuộc vào sự đóng góp của các não bộ và nhất là chất xám của các não bộ cá nhân trong xã hội. Trong thực tế, nếu một quốc gia càng có nhiều, càng thu tập được nhiều « chất xám », nghĩa là nhiều thành phần ưu tú, thông minh, có nhiều suy tư sáng tạo và khám phá mới mẻ trong mọi lãnh vực, thì quốc gia đó càng giàu mạnh, càng văn minh tiến bộ. Sự văn minh tiến bộ và giàu mạnh của một dân tộc không nhất thiết tùy thuộc vào số lượng dân chúng đông hay ít, mà tùy thuộc vào phẩm chất của trí não người dân.

Tuy nhiên, như nhà văn hào thời danh người Ðức, Christian Morgenstern (1871-1914), đã nói : « Tư tưởng con người cũng giống như những đứa trẻ và những con chó, chỉ thích tự do rong chơi giữa cảnh thiên nhiên khoáng đạt ». Ðúng vậy, tư tưởng, óc khám phá và sáng tạo của con người không chấp nhận sự gò bó dưới bất cứ hình thức nào. Vì thế, chúng ta cần phải săn sóc chiều chuộng và tạo điều kiện thuận lợi cho nó phát triển, chứ không phải bắt nó chiều chuộng theo kế hoạch và khuôn khổ cứng nhắc do chúng ta tạo ra, nếu không, tư tưởng chỉ sản xuất ra được những sản phẩm méo mó, gò ép, chứ không phải những sản phẩm có tính cách mỹ thuật và nhất là thiếu tính cách nhân bản, vô giá trị.

Chẳng những thế, những hoàn cảnh bất thuận lợi về kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh, v.v… còn gây ra một hiện tượng đáng sợ là việc di cư trí não.

1. Nguyên nhân di cư trí não

Ðúng vậy, những hoàn cảnh bất thuận lợi về xã hội, kinh tế, an ninh hay chính trị là nguyên nhân gây ra hiện tượng di cư trí não. Nhìn vào lịch sử các quốc gia trên thế giới, chúng ta thấy rằng hiện tượng tai hại đó đối với các quốc gia liên hệ đã được chứng minh một cách rõ ràng và cụ thể.

Ở Ðức quốc, vào năm 1933 khi chế độ quân phiệt Ðức Quốc Xã do Adolf Hitler lên mắm chính quyền, chủ trương kỳ thị và thù địch dân tộc, đặc biệt đối với dân Do-thái, thì hàng trăm ngàn người đã bỏ nước ra đi tỵ nạn tại cá nước, đa số là tại Hoa Kỳ. Trong số hàng trăm ngàn người bỏ nước ra đi đó, có cả hàng ngàn người trí thức, các nhà khoa học, những bộ não ưu tú của dân tộc Ðức, như nhà vật lý nổi danh Albert Einstein (1879-1955)(1), nhà ngoại giao Henry Kissinger(2), v.v… Hay vào các năm 1917 tại Nga, 1949 tại Trung Hoa, 1958 tại Cuba, khi đảng cộng sản cướp chính quyền tại các nước đó, hàng triệu người dân Nga, Tàu và Cuba đã lo sợ bỏ trốn khỏi nước từng loạt và mang theo hàng trăm ngàn bộ não ưu tú đi tìm nơi chốn trú ẩn an toàn tại Hoa Kỳ.

Riêng tại Việt Nam, thật đáng tiếc là làn sóng di cư trí não đó cũng đã không tránh được. Cuộc chính biến 1975 là một trong các nguyên nhân đã gây ra hiện tượng di cư trí não lớn lao nhất trong lịch sử của dân tộc Việt. Ngày nay đã trên 30 năm trôi qua, tuy xét về mặt lịch sử thì chưa phải là một thời gian dài đủ để có thể có được một cái nhìn toàn diện và chính xác về mọi lãnh vực và mọi khía cạnh của biến cố. Tương tự như đối với một đời người, ba mươi tuổi chưa phải là tuổi « nhi bất hoặc » hay « tri thiên mệnh », tức tuổi không phạm sai lầm nữa và biết được ý trời, như tuổi bốn mươi và năm mươi, nhưng cũng là loại tuổi « tam thập nhi lập », tuổi đứng đắn đủ và có thể tự lập được. Cũng vậy, ba mươi năm sau cuộc chính biến 75 là một thời gian khá đủ để chúng ta có thể bình tâm và khách quan nhìn lại được phần nào những ưu khuyết điểm của biến cố.

Ðúng vậy, ngày nay với cái nhìn tổng quát và khách quan, chúng ta có thể nói được rằng cuộc chính biến đó đã không mang lại cho người Việt Nam chúng ta sự chiến thắng về mặt chính trị, ngoại giao và nhất về mặt kinh tế. Nếu một nước Ðức đã bị chiến tranh tàn phá tới 85 %, và chỉ 40 năm sau, họ đã xóa bỏ hoàn toàn được mọi vết tích tàn phá của chiến tranh và đã trở thành một cường quốc kinh tế, thì Việt Nam chúng ta mãi đến ngày nay, cả hơn ba mươi năm sau, vẫn đang phải cố gượng đứng dậy và chập chững từng bước trên con đường phát triển kinh tế. Ðó chính là hậu quả ba mươi năm cấm vận của Mỹ và dưới ảnh hưởng của Mỹ, bị cả thế giới cô lập.

Nhưng sự thiệt hại kinh tế to lớn nhất của Việt Nam chúng ta vẫn là làng sóng di tản của gần ba triệu người đi ra nước ngoài, kéo theo cả hàng trăm ngàn nhà trí thức về mọi lãnh vực : Kỷ sư, bác sĩ, giáo sư, v.v…, tạo ra hiện tượng di cư trí não khỏi đất nước; còn số sót lại trong nuớc lại bị vùi dập và hao mòn đi, vì không được xử dụng tới. Ðó là một sự thiệt hại kinh tế và khoa học quá to lớn, khiến cho sự tiến bộ của đất nước phải chậm lại và dậm chân tại chỗ trong suốt mấy thập niên vừa qua.

Vì thế, giá các nhà lãnh đạo Bắc Việt lúc bấy giờ chọn con đường thống nhất đất nước kiểu ôn hòa(3), chứ không dùng sức mạnh quân sự như đã làm, thì có lẽ chẳng những đã không gây thêm chết chóc vô ích cho bao người dân lành ở cả hai miền Bắc-Nam vào những ngày tháng ngắn ngủi cuối của cuộc chiến, mà sự bỏ quê cha đất tổ ra đi của hàng triệu người, trong số đó đã có tới hàng ngàn người đã phải chôn mình dưới đáy biển hay bị rơi vào tay bọn hải tặc tàn bạo, không bị Mỹ cấm vận, không bị thế giới cô lập, cũng như sự di cư trí não đã không xảy ra, và qua đó, đất nước đã không bị thiệt hại quá nặng nề về lãnh vực kinh tế như thế. Bởi vì, sau khi hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27.01.1973 giữa ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger và ông Lê Ðức Thọ, trưởng phái đoàn Việt Nam (4), trong đó được cam kết quân đội Mỹ sẽ rút ra khỏi Việt Nam, thì con đường thống nhất đất nước chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi.

Nhưng khi đề cập đến vấn đề thiệt hại về kinh tế do làn sóng di tản của hàng triệu người Viêt Nam ra nước ngoài nói chung và sự di cư trí não nói riêng như thế, chắc hẳn sẽ có người lý luận hay ít là nghĩ thầm rằng, trong cuộc di tản đầy hỗn loạn và đau thương buổi đầu, cũng chứa đựng một cái may mắn. Cụ thể, vì nhờ có cuộc « xuất ngoại » bất đắc dĩ vào năm 1975, mà ngày nay chúng ta có được một cộng đồng Việt Kiều hùng mạnh trong mọi lãnh vực : từ kinh tế, chính trị đến văn hóa; con em chúng ta đang trên đường gặt hái được những thành quả rất đáng tự hào và hãnh diện trong việc học hành tại các trường đại học và cao đẳng hay trong các trường huấn nghiệp chuyên môn quốc tế, v.v… Thành thật mà nói, đó là những lý luận và tư duy có cơ sở. Tuy nhiên, không phải là câu trả lời duy nhất và hoàn toàn đúng cho vấn đề. Vâng, vấn đề gửi người đi du học hay tu nghiệp hay làm ăn ở nước ngoài không chỉ nhờ có cuộc di tản bất đắc dĩ năm 1975 mới hiện thực được. Tất cả đều nằm trong tầm tay và trong sự quyết định của nhà nước mà thôi. Ví dụ : như hiện nay nhà nước đã mở cửa hội nhập quốc tế, dành nhiều dễ dãi cho vấn đề du họ và nhất là chủ trương gửi người đi lao động ở nước ngoài. Ðó là chưa nói đến cái ưu điểm trong việc tuyển chọn du học sinh ưu tú hay thành phần lao động chuyên môn và gửi ra nước ngoài, chứ không để người dân tự ý ra đi ồ ạt vô tổ chức, vì như thế chúng ta sẽ đạt được kết quả mong đợi chắc chắn hơn, và đồng thời ngăn chặn được những thành phần thiếu khả năng hay bất hảo, có thể làm hại đến danh dự dân tộc ở ngoại quốc.

Nhưng nếu đã đề cập tới hiện tượng di cư trí não, đương nhiên phải có những địa điểm với môi trường thích hợp, có thể thu hút và tiếp nhận làn sóng di cư như thế. Ở đây chúng ta thử đưa ra một ví dụ tiêu biểu :

2. Hoa Kỳ, nơi tiếp nhận làn sóng di cư trí não

Nếu người ta gọi Hoa Kỳ là một miền đất hội tụ mọi đối kháng, mọi mâu thuẫn, mọi khác biệt, v.v…, không phải là không đúng. Và sự khác biệt đó không chỉ giới hạn trong phạm vi nhân văn - tức dân tộc Mỹ là một hỗn hợp các sắc dân, là Hiệp Chủng Quốc - nhưng sự khác biệt đó còn nằm trong các lãnh vực khác nữa, như : khí hậu, môi trường, cảnh vật, các khoáng sản thiên nhiên, cũng như đường lối chính trị và các chính sách của nhà nước Hoa kỳ.

Và tuy đây không phải đề tài chúng ta muốn đưa ra bàn luận ở đây, nhưng chúng tôi xin đề cập cách tổng quát, để chúng ta có thể hiểu được chủ đề của bài này hơn.

Trước hết, một đàng : nếu xét về lãnh vực chính trị và ngoại giao, Hoa kỳ không thể là một người bạn trung tín, là một đồng minh đáng tin tưởng được, nếu không muốn nói là lật lọng và phản bội (5). Vì đối với Hoa Kỳ, một khi quyền lợi kinh tế của họ bị đe dọa hay không tồn tại nữa, là họ sẽ không ngần ngại rút lui và bỏ mặc đồng minh một mình. Ví dụ điển hình : Năm 1954 họ đã bỏ rơi đồng minh Pháp ở bán đảo Ðông Dương, đặc biệt tại Ðiện Biên Phủ, khiến người Pháp căm tức suốt đời; và năm 1975, bỏ rơi đồng minh Miền Nam Việt Nam, một sự phản bội mà người dân Miền Nam VN không bao giờ tha thứ. Ở đây, người ta có thể nêu lên một vài nghi vấn : Phải chăng người Mỹ đã thua trận ở Việt Nam như dư luận quốc tế vẫn quan niệm ? Phải chăng mục đích cuộc chiến VN là Mỹ muốn nhắm tiêu diệt chế độ Bắc Việt hay chỉ để tiêu hủy hàng triệu tấn khí giới đạn dược nguy hiểm còn tồn đọng của họ từ thế chiến II ? Phải chăng cuộc chiến tranh Việt Nam chỉ thực sự chấm dứt vào năm 1975, chứ không phải đã chấm dứt trước đó ba năm tại Bắc Kinh, và thực sự bằng xe tăng và súng đạn của bộ đội Bắc Việt, chứ không phải bằng cái bắt tay và bằng nụ cười giữa Richard Nixon và Mao trạch Ðông tại Bắc Kinh vào năm 1972? Phải chăng Miền Nam Việt Nam thực sự là đồng minh sống chết của Mỹ hay chỉ là « con tốt » trên bàn cờ chính trị rộng lớn của Mỹ ? Phải chăng trong chiến lược tổng thể của Mỹ, cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam chỉ có giá trị như một cuốn phim « Hollywood về chiến tranh » đắt giá mà thôi, chứ không hơn không kém ?

Hy vọng rằng sau này, các nhà chuyên môn và sử gia chân chính sẽ tìm ra được những câu trả lời đúng đắn. Nhưng trong mọi trường hợp, đất nước Việt Nam luôn là một nạn nhân vô tội và đáng thương, bị thua thiệt và mất mát quá nhiều về người cũng như về môi trường thiên nhiên do các bom đạn hóa chất gây ra, và còn kéo dài trong nhiều thế hệ nữa !

Ngoài ra, đường lối dùng chiến tranh để giải quyết các vấn đề bất đồng quốc tế của Hoa Kỳ đã bị chính Tòa Thánh Vatican cực lực phản đối và chỉ trích (6), vì chiến tranh là một sự ác, mà « sự ác thì không bao giờ là con đường dẫn tới sự thiện »(7). Do đó, « chiến tranh không bao giờ đem lại hạnh phúc cho cộng đồng nhân loại »(8).

Thế nhưng đàng khác, nếu xét về phương diện khoa học, kinh tế, nghệ thuật, văn học, thì Hoa kỳ lại là một miền đất « dụng võ » thực sự. Họ luôn niềm nở mở rộng cửa biên giới đón tiếp và trọng dụng tất cả mọi bộ não ưu tú, mọi nhân tài lỗi lạc của nhân lại, chứ không phân biệt màu da, sắc dân hay tôn giáo. Ðó là điều rất hiếm xảy ra tại các nước Âu Châu, đặc biệt tại các nước Tây Âu, như : Ðức, Pháp, Thụy Sỹ, Ý, v.v…

Ðể hiểu được não trạng kỳ thị chủng tộc ở Âu Châu như thế nào, một nữ tiến sĩ hóa học người Việt Nam đã sinh sống và làm việc tại Ðức từ trên 40 năm nay, khi nói chuyện với tôi đã đưa ra một cách so sánh rất đơn giản như sau : Khi làm việc với người Ðức, nếu chúng ta được công nhận là giỏi hơn họ, thì chúng ta thực sự thuộc « loại siêu »; còn nếu chúng ta chỉ giỏi hơn họ, thì chúng ta được coi là bằng họ; nhưng nếu chúng ta giỏi bằng họ, thì chúng ta sẽ luôn luôn bị coi là kém thua họ.

Cũng vì thế, người Việt Nam tuy đã định cư lâu đời tại các nước Âu Châu, nhưng ít có ai leo lên được địa vị cao trong các lãnh vực của xã hội : từ chính trị, kinh tế cho đến tôn giáo.

Trong khi đó ở Hoa Kỳ lại hoàn toàn khác hẳn. Mọi nhân tài luôn được trọng dụng, chứ không phân biệt chủng tộc, màu da, chính kiến hay tôn giáo. Ðó là lý do cắt nghĩa tại sao vào năm 1945, khi đồng minh tứ cường - Mỹ, Anh, Pháp, Liên Sô - chiếm được Ðức thì việc đầu tiên của người Mỹ là đi tìm kiếm các nhà bác học của Ðức và mời về cộng tác, ví dụ như nhà vật lý lỗi lạc Wernher von Braun (1912-1977)(9), từ một cộng sự viên đắc lực của Ðức Quốc Xã trong việc chế tạo bom V2, đã trở thành nhà bác học về không gian của Hoa Kỳ. Và ngày nay, hàng năm người Mỹ vẫn tiếp tục đi chiêu mộ các sinh viên xuất sắc ở các đại học Âu Châu để giúp đỡ tài chính và mời về Mỹ làm việc. Từ hơn thập niên nay, vì nền kinh tế trong nước bị khủng hoảng và khó tìm ra được việc làm hay việc làm thích hợp, nên nhiều bác sĩ và kỷ sư xuất sắc người Ðức đã sang Mỹ lập nghiệp.

Ðặc biệt nhất là người Việt Nam chúng ta, tuy là một sắc dân tương đối nhập cư vào Mỹ muộn nhất, nhưng lại có thể nói là một sắc dân được đánh giá thành công nhất(10). Thật vậy, chỉ ba mươi năm sau khi vào định cư tại Hoa kỳ, người Việt Nam đã chẳng những có mặt mà còn chiếm được những địa vị then chốt trong tất cả mọi lãnh vực xã hội của cường quốc bậc nhất thế giới này : từ kinh tế, xã hội, khoa học, chính trị và cả những chức bậc cao nhất trong tôn giáo. Chính trong Nội Các hiện nay của chính phủ Tổng thống Georg W. Bush hay quốc hội Mỹ đều có sự hiện diện của người Mỹ gốc Việt.

Tất cả những kết quả tích cực đó đều nhờ vào nền tự do và dân chủ đích thực của Hoa Kỳ, một quốc gia luôn biết mở cửa, hội nhập quốc tế và hoàn cầu hoá thực sự. Và đó chính là « cái khôn ngoan » hơn người của người Mỹ. Do đó, người dân của họ luôn giàu có và đất nước họ luôn hùng mạnh. Phải chăng trong lãnh vực này chúng ta không thể làm được như người Mỹ ?

Nhưng muốn đạt được mục đích đó, thì điều chúng ta phải làm và cũng là điều nhà nước Việt Nam đang làm là kêu gọi sự đóng góp của hàng ngũ Kiều Bào ưu tú khắp thế giới vào công trình kiến thiết đất nước, nghĩa là :

3. Vấn đề hồi hương trí não

Ðúng vậy, nhà nước Việt Nam cần phải « hồi hương » được những bộ não ưu tú của những người mang cùng dòng máu con lạc cháu rồng đang tản mát khắp mọi miền trên thế giới. Chúng tôi xin nhắc lại là chúng tôi chỉ nói : « hồi hương trí não », chứ chúng tôi không nói « hồi hương Kiều Bào ». Nói cách khác, nhà nước cần phải thu phục và lôi cuốn được sự đóng góp của những Kiều Bào đang sinh sống ở ngoại quốc, trong đó phần trổi vượt và đông đảo đều tập trung tại Hoa Kỳ. Và sự cộng tác đó không nhất thiết đòi hỏi các đương sự phải rời bỏ nước sở tại để trở về Việt Nam sinh sống. Sự cộng tác và sự cư trú không nhất thiết phải song song với nhau.

Một khi nhà nước Việt Nam thành công trong việc « hồi hương trí não », thì đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam sẽ có được nhiều lợi điểm và may mắn hơn trong việc chạy đua trên con đường phát triển, tiến bộ và giàu mạnh với các quốc gia trên thế giới. Và trong công cuộc hồi hương các trí não, thu phục sự cộng tác của các Kiều Bào ưu tú này, nhà nước Việt Nam đang có được rất nhiều điểm thuận lợi. Một trong các điểm thuận lợi đó là hiện nay chỉ có một nhà nước Việt Nam thống nhất và duy nhất, chứ không còn sự cạnh tranh thứ hai như thời Nam Bắc còn phân tranh. Thêm vào đó, tất cả Kiều Bào - không phân biệt chính kiến, tôn giáo hay tuổi tác, và dù họ đang mang quốc tịch nước nào đi nữa - cũng đều yêu mến quê hương Việt Nam và mong muốn cho quê hương mình được giàu mạnh và văn minh tiến bộ.

Tuy nhiên, tất cả những thành quả đầy hứa hẹn đó còn tùy thuộc vào các chính sách và thái độ của nhà nước Việt Nam hiện nay, liệu họ nắm bắt và lợi dụng được các lợi điểm đang nằm trong tầm tay, tức liệu họ có thật sự mở cửa và mở cửa toàn diện hay chỉ giới hạn trong một lãnh vực nào đó, như : kinh tế hay ngoại giao mà thôi. Bởi vì, khi sống và làm việc ở ngoại quốc, tất cả Kiều Bào đều sống và làm việc trong một xã hội dân chủ và tự do thực sự, trong một xã hội mà mọi yếu tố hay lãnh vực, như : Chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật, các quyền con người, v.v… đều gắn bó là liên hệ mật thiết với nhau. Do đó, để hiện thực được việc hồi hương trí não một cách có hiệu quả cụ thể, hay nói cách khác, để thu hút, lôi cuốn và giữ chân được sự cộng tác của các Kiều Bào, nhất là những Kiều Bào ưu tú, thì chỉ có tuyên truyền khéo léo trên các phương tiện truyền thông mà thôi là chưa đủ, nhưng trước hết nhà nước còn cần phải có chính sách mở cửa và thông thoáng cần thiết thực sự trong mọi lãnh vực.

_____________

1. Bertelsmann, Das Neue Universal Lexikon, nhà xuất bản Wissen Media, Gütersloh/München 2006, tr. 227.

2. Bertelsmann, sách đã trích, tr. 485

3. xem : Lm Nguyễn Hữu Thy, « Kinh nghiệm thống nhất đất nước kiểu Ðức », www.vietcatholic.net

4. Bertelsmann, sách đã trích, „Vietnamkrieg“, tr. 997-998

5. Nguyễn Văn Chức, Việt Nam Chính Sử, lpha 1992, tr.545-567; Eileen J. Hammer, Bàn Tay Hoa Kỳ - Cái Chết Ông Diệm, bản dịch của Vũ Văn Ninh và Trần Ngọc Dung, nhà xuất bản Thế Giới 1992.

6. xem: Ðức Gioan Phaolô, „Thư gửi Tổng thống Georg Bush“, trong: Lương Tâm Nhân Loại, bản dịch của Lm Nguyễn Hữu Thy, Trier 2005, tr. 222

7. Ðức Gioan Phaolô II, „Diễn văn đọc tại Ayacucho/Pêru“, trong: Lương Tâm Nhân Loại, tr. 202-206.

8. Ðức Gioan Phalô II, Sứ điệp hòa bình thế giới, trong: „Lương Tâm Nhân Loại“, tr. 206-216.

9. Bertelsmann, „Wernher von Braun“, trong sách đã trích, tr. 128.

10. xem Thiên Ân, Hiện nay tại Hoa Kỳ có 1,5 triệu người Việt Nam, www.vietcatholic. net