Muốn theo Chúa hãy từ bỏ chính mình (x. Mt 16, 24tt)

1. Có lẽ ai trong chúng ta ai cũng thuộc lòng yêu cầu nầy của Tân ứơc: Ai muốn theo Thầy hãy từ bỏ mình vác Thập giá mà theo Thầy. Muốn trở thành môn đệ Chúa chỉ cần thực hiện hai hành vi: “từ bỏ” và “vác lấy”. Hai động từ nầy đã dệt lên con đường cứu độ, như thánh Phaolô đã nói: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ mọi vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (2 Pl 6 – 7). Vâng, Đức Giêsu Kitô đã “trút bỏ” vinh quang trên Thiên quốc, để “mặc lấy” thân phận nô lệ của con ngừơi, để sống với con ngừơi. Chính việc “trút bỏ” và “mặc lấy” của Đức Kitô đã làm nên Thập gía. Và qua Thập giá nầy Đức Kitô đã hiến tế đời mình thành của lễ cứu chuộc muôn dân. Và đây là con đường duy nhất cho những ai muốn cất bứơc theo chân Thầy Chí thánh: con đừơng yêu thương. Thập giá là con đừơng yêu thương. Vác Thập giá chính là thể hiện giới luật yêu thương: các con hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương các con. Tình yêu nầy đã được Đức Giáo hòang Bênêđictô XVI. diễn tả trong thông điệp Deus caritas est. Đây là một tình yêu hòan tòan chứa đựng yếu tố “eros” (tình ái) say mê mãnh liệt và yếu tố agape (bác ái) hiến thân trọn vẹn cho con ngừơi, luôn hiện diện với con ngừơi (x. Deus caritas est, số 7). Và như vậy “tình yêu mãnh liệt của Thiên Chúa đối với dân Người – đối với nhân lọai – cũng đồng thời là tình yêu tha thứ. Tình yêu nầy cao cả đến độ Thiên Chúa chống lại chính mình, tình yêu của Người chống lại công lý của Người. Ngừơi Kitô hữu nhìn thấy mầu nhiệm Thập gía đang ẩn tàng trong đó: Thiên Chúa yêu thương con ngừơi đến độ trở thành con ngừơi, chạy theo họ đến độ đi vào cõi chết và với cách thức nầy đã giao hòa công lý với tình yêu” (Deus caritas est, số 10). Bứơc theo Chúa, chính là bước vào con đương yêu thương bằng chình việc từ bỏ chính mình và vác lấy Thập gía.

2. Từ bỏ không là một sự đánh mất chính mình như nhiều ngừơi nghĩ tưởng, vì đánh mất chính mình là vong thân. Tin mừng nhằm đến hòan thiện hóa con ngừơi chứ không bao giờ chủ trương vong thân. Hành vi vong thân luôn ngược lại với Tin mừng. Từ bỏ mình chính là bứơc vào con đường tự hủy của Đức Kitô mà các nhà thần học gọi là kenosis. Đó là hành vi yêu thương. Thật vậy, vì yêu thương, Chúa Kitô đã từ bỏ “địa vị ngang hàng với Thiên Chúa “để trở thành một con ngừơi trần thế như mọi người. Người tự hủy để chu tất chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Dĩ nhiên hành vi tự hủy của Đức Kitô không nằm trong phạm trù lọai trừ làm cho mất đi, tan biến đi. Người vẫn là Thiên Chúa, nhưng là một Thiên Chúa làm người, một Thiên Chúa ở giữa con ngừơi. Bản tính Thiên Chúa là tình yêu, như thánh Gioan đã khẳng định (1 Ga 4, 8 ). Khi nói đến tình yêu luôn phải nghĩ đến sự trao ban, đó chính là bản chất đích thật của tình yêu. Có thể nói tình yêu đích thật là tình yêu chia sẻ. Thật vậy, Thánh Augustinô trong tác phẩm De trinitate đã trình bày sự chia sẻ nấy trong nội tại của Thiên Chúa: « hãy coi, đó là Ba : người đang yêu, kẻ được yêu và tình yêu » (De Trin. VIII 8). « một ngôi vị, Đấng nhiệm hiệp với một Đấng hiện hữu khác phát xuất bởi Người bằng tình yêu, một ngôi vị, Đấng nhiệm hiệp với một Đấng làm cho mình hiện hữu bằng tình yêu, và một ngôi vị là chính tình yêu » (De Tri. VI. 5). Nhà thần học Richard de Victor cũng nói về sự chia sẻ của tình yêu trong nội tại Thiên Chúa : Cha trao ban tất cả những gì mình có cho Con, có nghĩ là trao ban cả bản tính của mình, do đó thần tính của Đấng được yêu giống như Đấng yêu thương, không thua kém. (Richard St Victor, De Trin. III 7). Công trình tạo dựng cũng chính là hành vi chia sẻ của tình yêu Thiên Chúa cho nhân lọai. Thế nhưng Richard de Victor trình bày: tình yêu Thiên Chúa dành cho con người thì trọn hảo, nhưng con người không thể nào đón nhận tất cả tình yêu của Thiên Chúa, ngay cả sự dồi dào Thần tính của Thiên Chúa, vì sự giới hạn của thụ tạo, nên con con người không thể có Thần tính ngang hàng Thiên Chúa, hay nói cách khác không có bản tính Thiên Chúa. (Richard St Victor, De Trin. III 7).

Do đó việc Đức Kitô tự hủy «địa vị ngang hàng với Thiên Chúa », nhằm diễn tả sự tận hiến trao tặng của tình yêu thuộc bản tính Thiên Chúa. Nói như Sigrid Undset : «Thiên Chúa đã có thể bắt lòai người phải đi theo con đường Người đã vạch ra, bắt họ phải vâng phục Ngừơi như những vì sao. Nhưng Thiên Chúa đã làm người, và Người đã để quyền năng vô biên của Người trước ngưỡng cửa thế giới lòai người. Thiên Chúa tòan năng điều khiển vũ trụ nay ra đi ăn xin giữa đám đông những tâm hồn nhân lọai, Ngừơi xin họ cho phép Người được cho, được chia sẻ những sự giàu sang huyền diệu của chính hữu thể Người. Trong đêm nay, Thiên Chúa đã bỏ Thiên Chúa, nhưng ngừơi không bỏ nhân lọai » (Sigrid Undset, Le biusson ardent, Paris 1948, trích trong tác phẩm “Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu thế” của Lm Thiện Cẩm, Tp Hồ Chí Minh 1997, tr. 91).

Ngôi hai rời « bỏ Thiên Chúa », nhưng không làm mất bản tính Thiên Chúa, Ngừơi vẫn là Thiên Chúa. Nếu tự hủy là làm mất chính mình, thì việc trao ban chẳng còn ý nghĩa. Bởi người ta không thể cho cái người ta không có. Tôi không thể trao tặng người khác chính mình, khi tôi không còn là tôi. Chúng ta cũng không thể đón nhận món qùa vô giá : Đức Giêsu Kitô, như là tình yêu Thiên Chúa, nếu Đức Kitô không còn là Thiên Chúa. Do đó yêu cầu của Tin Mừng về việc từ bỏ chính mình, chính là làm cho mình trở thành qùa tặng của tình yêu.

3. Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã dạy : “hãy yêu tha nhân như chính mình ” (Mc 12, 31). Như vậy rõ ràng, trứơc tiên Chúa Kitô đòi hỏi phải “yêu mình”, chúng ta phải nhận ra cái gía trị cao cả cuộc cuộc sống chúng ta, nhận ra cái phẩm giá mà Thiên Chúa ban tặng cho từng ngừơi chúng ta. Thánh kinh đã không nói đó sao: “Chúng ta hãy tạo dựng con ngừơi giống hình ảnh Chúng ta” (St 1, 26). Con người là họa ảnh của Thiên Chúa, không phải con người chung chung, nhưng là từng người trong chúng ta. Công đồng Vat. II trong nỗ lực tìm giải đáp cho vấn nạn: Con người là gì? đã đưa ra câu trả lời: “Con người đựơc tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, có khả năng nhận biết và yêu thương Đấng tạo dựng nên mình, được Ngài đặt làm chủ mọi tạo vật trên trái đất để cai trị và xử dụng chúng mà ngợi khen Thiên Chúa “ (GS 12). Như vậy “yêu mình” là phải làm sao nhận là mình ra ai, để từ đó hòan thiện chính bản thân mình như mình là. Như người thu thuế trong Tin Mừng: “Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 18, 13), như Phêrô nhớ lại lời Thầy mình nói: khi gà chưa kịp gáy thì ông chối thầy tới ba lần, ông liến ra ngoài, khóc lóc thảm thiết (x. Mt 26, 75), như tên trộm bị treo trên Thập gía: “chúng ta chịu như thế nầy là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông nầy có làm điều gì trái” (Lc 23,41). Qủa thật, vì tội đã len lỏi vào thế gian, len lỏi vào trong chính cuộc đời của chúng. Tội mang theo nhiều chiếc mặt nạ phủ kín đời chúng ta, để rồi nhiều khi chúng ta không còn nhận ra mình là ai, hoặc nhận ra mình một cách sai lạc, nhìn vào chiếc mặt nạ mà cứ ngỡ là mình. Từ bỏ chính mình là lột chiếc mặt nạ đó ra. Đó chính là chiếc mặt nạ của tính tự cao tự đại, những định kiến cá nhân, cuộc sống ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, những chiếc mặt nạ do tính đam mê xác thịt mang lại mà Thánh Phaolô đã chỉ ra: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy” (Gl 5, 19). Chính những chiếc mặt nạ đó là làm chúng ta vong thân, đánh mất chính phẩm gía đích thật của mình, đánh mất chính mình là họa ảnh của Thiên Chúa. Tội đã phá vỡ mối tương giao giữa Thiên Chúa và con người, và đồng thời phá vỡ mọi sự hòa hợp nơi chính bản thân cũng như đối với người khác. Nó “làm suy giảm chính con ngừơi và ngăn cản không cho con người đạt tới sự viên mãnh” (GS 13). Vì vậy từ bỏ cũng chính là hành vi chống lại tội để tím lại chính mình. Lọai bỏ những chiếc mặt nạ đang che đậy con ngừơi thật của mình. “Thiên chức của con người cốt ở việc nhận biết chính mình theo ý niệm về yếu tính của mình, theo khái niệm về tính chất hình ảnh Thiên Chúa của mình, nghĩa là theo tổng số đầy đủ các tài năng Thiên Chúa đã đặt vào bản thân mình, và ngay lập tức thể hiện chính mình trong qúa trình tự do” (Franz Anton Staudenmeier, Die christliche Dogmatik, Bd. III: System der christlichen Dogmatik, Freiburg/Br. 1948, tr. 490)

Đức Gioan Phaolô II đã chỉ con đường từ bỏ để tìm lại chính mình, đó là đặt tòan bộ cuộc sống của mình vào trong con ngừơi Đức Kitô: “Nói được là phải vào trong Chúa Kitô với tất cả thực hữu của mình, phải đồng thời thu nhận tất cả thực tại của Nhập Thể và Cứu Chuộc thì mới tìm lại được chính mình. Nếu con người để cho tiến trình đó thực hiện nơi mình cách sâu sắc, thì nó sẽ sinh hoa kết trái không những là sự tôn thờ Thiên Chúa mà thôi, mà còn là khám phá ra sự lạ lùng tuyệt diệu nơi chính bản thân mình. Con người phải có giá trị chừng nào trước mặt Đấng Tạo Hoá nếu đã ‘đáng được một Đấng Cứu Chuộc lớn lao dường ấy’, nếu ‘Thiên Chúa đã ban Con Một của Ngài, để cho mình, là người, ‘không phải hư đi, nhưng được sự sống đời đời’” (Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor hominis, số 10).

4. Vì vậy hành vi từ bỏ mà Tin Mừng yêu cầu chính là một cuộc hành trình thanh luyện để mình chính là mình, và từ đó mình trở nên qùa tặng mang đầy đủ ý nghĩa cho tha nhân. Thật vậy qùa tặng chính là sứ điệp mà ngừơi gởi tặng muốn nhắn tới người được trao tặng, nó diễn tả tất cả tâm tình của ngừơi trao tặng. Qùa tặng là hiện thân người trao tặng. Do đó việc từ bỏ chính mình là để làm qùa tặng diễn tả đúng về chính mình, một con ngừơi được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, có khả năng yêu thương, một con ngừởi khẳng định được phẩm giá và tài năng nơi mình để chịu trách nhiệm chấp nhận chính mình và để từ đó nhìn nhận đến phẩm giá của bất kỳ ngừơi nào.