HÀ NỘI - Phóng viên thường trú của BBC tại Hà Nội Clare Arthurs đã phỏng vấn Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Raymond Burghardt.
Arthurs: Thưa ông Đại Sứ, lập trường của Việt Nam trong vấn đề Iraq ảnh hưởng tới quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ như thế nào?
Burghardt: Việt Nam có lập trường trong một số vấn đề quốc tế không giống với lập trường của Hoa Kỳ. Vấn đề Iraq không phải là lần đầu tiên và có lẽ sẽ không phải là lần cuối cùng. Nhưng đây không phải là chuyện có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ giữa hai nước.
Việt Nam không phải là một thành viên của Hội Đồng Bảo An, và Việt Nam không phải là một trong số những quốc gia mà chúng tôi có nhiều trao đổi về vấn đề Iraq.
Tôi xin nói thành thật thế này, tôi không nghĩ là Washington để tâm đến những tuyên bố Việt Nam đưa ra vào lúc này về cuộc chiến ở Iraq
Quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là một quan hệ mới mẻ. Chúng tôi chỉ có quan hệ ngoại giao chưa tới 8 năm.
Ở giai đoạn hiện nay, chúng tôi tập trung chính vào những điều như liên hệ kinh tế, hay các chương trình trao đổi giáo dục. Và những điều đó đang tiếp tục.
Arthurs: Nhưng thưa ông Đại Sứ, Hà Nội đã đặc biệt nói đến hành động gây hấn của Hoa Kỳ. Họ nhắc đến kinh nghiệm chiến tranh Việt Nam. Hẳn những lời nói mạnh mẽ về cuộc chiến và về điều mà họ gọi là chủ nghĩa bành truớng đế quốc của Hoa Kỳ là những điều mà chắc Washington cảm thấy khó nghe?
Burghardt: Tôi xin nói thành thật thế này, tôi không nghĩ là Washington để tâm đến những tuyên bố Việt Nam đưa ra vào lúc này về cuộc chiến ở Iraq. Và tôi không nghĩ là những gì tôi nói ở đây làm cho các nhân vật trong chính phủ Việt Nam ngạc nhiên. Những gì họ nói quả là bực mình, nhưng cũng chẳng có gì là đáng ngạc nhiên.
Đó là những luận điệu thông thường của Việt Nam về nhiều chuyện. Tôi nghĩ nếu chúng ta so sánh với những tuyên bố về những chuyện khác, họ có khả năng đưa ra những tuyên bố nặng nề hơn nhiều. Thành ra tôi sẽ không phản ứng quá mức trước luận điệu đó.
Tôi nghĩ điều quan trọng hơn là chú tâm vào quan hệ về lâu về dài, và tôi cũng đã nghe các viên chức Việt Nam nói như vậy.
Arthurs: Tức là họ cũng biết quan hệ lâu dài có thể ảnh hưởng vì những chuyện như thế này?
Burghardt: Những quan chức mà tôi nói chuyện luôn cố trấn an tôi rằng chuyện Iraq không ảnh hưởng đến quan hệ lâu dài giữa hai nước.
Arthurs: Ông xem đây như là một chuyện như bao chuyện khác, nhưng đâu thể nói như vậy, bởi vì những tuyên bố của Việt Nam về cuộc chiến ở Iraq, rồi thì Hoa Kỳ khuyến cáo công dân của các đừng đi Việt Nam vì sợ bệnh viêm phổi cấp tính, và tranh tụng về cá ba sa... Chẳng phải đó là những vấn đề cốt lõi của sự khác biệt giữa Việt Nam và Hoa Kỳ hay sao?
Burghardt: Bà đã gom vào nhiều vấn đề không có liên quan gì với nhau.
Arthurs: Vâng, tôi gom chúng lại, và đành rằng đó là những chuyện riêng biệt, nhưng chúng cho thấy lập trường của hai bên, cho thấy sự khác nhau cơ bản về cách nhìn, cách giải quyết vấn đề.
Làm sao các ông vượt qua những dị biệt đó để xây dựng quan hệ giữa hai nước?
Burghardt: Chúng ta phải giải quyết từng vấn đề một. Về vấn đề viêm phổi cấp tính SARS, khuyến cáo về du hành của Hoa Kỳ vào lúc này cũng chẳng khác gì khuyến cáo của các quốc gia khác. Thực ra tôi thấy một số nước còn ra khuyến cáo còn mạnh hơn của chúng tôi nữa, thành đó không phải là một vấn đề.
Còn về vấn đề cá ba sa, tất cả mọi nhân vật trong Bộ Thương Mại Việt Nam đều biết là việc buôn bán cá ba sa chỉ là một phần rất nhỏ trong mậu dịch song phương của hai nước.
Tôi nghĩ thật ra kinh nghiệm điều đình trong chuyện này sẽ giúp ích nhiều cho Việt Nam sau này. Tôi cũng nghĩ người ta có khuynh hướng coi vấn đề mậu dịch là một vấn đề chính trị. Đó có lẽ là một điều nên vượt qua trong thái độ đối với vấn đề mậu dịch.
Tôi nghĩ là Việt Nam nay có đủ thì giờ để nghiên cứu kỹ phán quyết đó, và để hiểu là có những điều Việt Nam được lợi theo luật mậu dịch của Hoa Kỳ khi được coi như là một nền kinh tế không phải là kinh tế thị trường
Nhưng tôi tin chắc là rồi khi Việt Nam hội nhập nhiều hơn với cộng đồng quốc tế, họ sẽ tiếp tục gặp những vấn đề tương tự, không phải chỉ với Hoa Kỳ mà còn với Liên Hiệp Âu Châu hay với Canada. Đến lúc đó họ sẽ thấy đây chỉ là những vấn đề bình thường trong quan hệ mậu dịch.
Arthurs: Ông vừa nói đến vấn đề cá ba sa, người Mỹ quan niệm thế nào về chuyện là Việt Nam có một nền kinh tế thị trường hay không?
Burghardt: Trong việc giải quyết các trường hợp bán phá giá, mà đó chính là trường hợp của vụ cá ba sa, thì có một số những tiêu chuẩn được xác định rất kỹ để xem một nền kinh tế có phải là kinh tế thị trường hay không. Đã có một phán quyết theo những tiêu chuẩn đó, và trong trường hợp này Việt Nam không phải là một nền kinh tế thị trường.
Hầu hết các nhà kinh tế sẽ đồng ý là Việt Nam chỉ mới ở nửa đường đến một nền kinh tế thị trường thật sự, tức là kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi. Tôi nghĩ là Việt Nam nay có đủ thì giờ để nghiên cứu kỹ phán quyết đó, và để hiểu là có những điều Việt Nam được lợi theo luật mậu dịch của Hoa Kỳ khi được coi như là một nền kinh tế không phải là kinh tế thị trường.
Arthurs: Với tư cách là đại sứ, vai trò của ông trong việc điều đình những chuyện này là gì? Công việc của ông khó khăn quá phải không?
Burghardt: Đại sứ là một nhà thương thuyết, là một người vận động cho quốc gia của mình, và cũng là nhà quản lý tất cả các nhân viên làm việc trong sứ quán. Đại sứ cũng là cầu nối giữa sứ quán và bộ nội vụ ở Washington.
Vai trò của tôi cũng giống như vai trò của bất kỳ đại sứ Mỹ nào tại bất kỳ nơi nào trên thế giới. Trong trường hợp của Việt Nam tôi nghĩ có những nét đặc thù vì như tôi đã nói, đây là quan hệ còn non trẻ, bảy tám năm không phải là một thời gian dài, quan hệ ở cấp đại sứ thật ra chỉ mới có năm năm rưỡi.
Điều đó có nghĩa là hai nước vẫn đang còn phải tìm hiểu nhau, tìm hiểu xem bên kia làm việc như thế nào. Vì vậy hai bên, ở cấp bộ nội vụ và hành chính phải tiếp tục giải thích và hướng dẫn cho nhau.
Arthurs: Cuộc chiến Việt Nam ảnh hưởng thế nào đến quan hệ hai nước?
Burghardt: Quan hệ Mỹ Việt bắt đầu từ đầu thập niên 90, thậm chí từ trước khi có quan hệ chính thức, để giải quyết những vấn đề còn tồn đọng từ sau cuộc chiến, thí dụ như vấn đề quân nhân Mỹ mất tích, các dự án phát triển nhân đạo để tạo dựng lại niềm tin cho hai bên, và những công việc này sẽ được tiếp tục.
Nhưng dĩ nhiên phía Việt Nam vẫn còn những nghi ngại trong một số bộ phận, đó cũng là dễ hiểu thí dụ như trong quân đội, trong các lực lượng an ninh, và có lẽ cả trong bộ máy tuyên truyền. Phía Mỹ cũng có những nghi ngại vì lý do lịch sử.
Chúng tôi sẽ không xem một người là khủng bố chỉ vì người đó có quan điểm chính trị ngược lại quan điểm của một chính phủ nào đó
Thành thật mà nói ở Mỹ có những nhóm vận động, những tổ chức vận động quan tâm đến quan hệ với Việt Nam và họ có nhiều vấn đề xuất phát từ những năm tháng của chiến tranh, họ có quan điểm rất mạnh về những vấn đề đó và tìm cách gây ảnh hưởng trong quan hệ Việt Mỹ.
Tôi nói đến chủ yếu là các tổ chức trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, một số nhóm này phản đối việc tái lập quan hệ và vẫn tỏ ra thù nghịch với chính phủ Việt Nam hiện tại.
Arthurs: Hà Nội gọi những nhóm như người Thượng hay một trong các nhân vật lãnh đạo của họ, ông Kok Ksor là những kẻ khủng bố, và chỉ trích Hoa Kỳ là dung dưỡng những kẻ âm mưu chống phá Việt Nam. Chuyện này ảnh hưởng đến quan hệ hai nước thế nào?
Burghardt: Đã có hai trường hợp người Mỹ gốc Việt sử dụng các phương tiện bạo động để phá hoại tòa đại sứ của Việt Nam. Chúng tôi đã có phản ứng, từ cho dẫn độ đến bắt giữ, chúng tôi đã làm tất cả những gì luật pháp cho phép.
Đã có những người dùng phương cách bạo động cho mục đích chính trị. Nhưng nếu nếu họ dùng phương cách hoà bình thì sẽ được chúng tôi bảo vệ.
Chúng tôi sẽ không xem một người là khủng bố chỉ vì người đó có quan điểm chính trị ngược lại quan điểm của một chính phủ nào đó. Có những tiêu chuẩn chung để đi đến kết luận là có phải khủng bố hay không, và sử dụng những hình thức bạo động rõ ràng là khủng bố.
Arthurs: Theo chỗ ông đại sứ biết thì có bằng chứng gì để nói rằng có những người Việt lưu vong đã xúi giục bạo động chống chính phủ ở Tây Nguyên hay không? Nếu có bằng chứng thì chính phủ Hoa Kỳ đã làm gì?
Burghardt: Tôi nghĩ người Thượng ở Mỹ chắc chắn có liên lạc với ở Việt Nam, qua điện thoại. Nhưng tôi không biết có trường hợp nào người ta bị xúi giục để có hành động vũ lực. Có thể họ cũng tìm cách gieo tư tưởng ly khai, nhưng đó không phải là xúi dục người khác có hành động bạo động.
Arthurs: Các tài liệu về nhân quyền được đưa lên trang web của chính phủ Hoa Kỳ, có người bất đồng chính kiến đem ra dịch và thế là họ bị bắt giam. Ông đại sứ có nghĩ chuyện này ảnh hưởng đến quan hệ với Hà Nội hay không?
Burghardt: Chúng tôi đưa những tài liệu về nhân quyền lên trang web của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để cho ai bất kỳ ở đâu trên thế giới cũng có thể vào xem. Dân chúng ở Việt Nam cũng có thể vào trang web của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.
Những tài liệu đó nói lên quan điểm của Hoa Kỳ và của nhiều nước khác nữa, ngay cả của Liên Hiệp Quốc về vấn đề nhân quyền. Chúng tôi không có gì phải xin lỗi khi đưa những tài liệu đó lên trang web của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hết cả.
Arthurs: Chính phủ của ông đại sứ đã làm gì để giúp những người bất đồng chính kiến đang bị giam giữ, hay là làm gì đó để cho những người bất đồng chính kiến nói chung không bị làm khó dễ nữa?
Tôi nghĩ làm sao cho khối ASEAN vững mạnh là một trong những mục tiêu của Hoa Kỳ và chúng tôi hy vọng Việt Nam có thể là một đối tác trong chuyện này
Burghardt: Tôi biết có hai hay ba trường hợp được phóng thích sớm, hay được cho phép đi Mỹ. Tình hình có vẻ được cải thiện nhờ sự can thiệp của chúng tôi.
Arthurs: Trường hợp mới đây nhất là diễn viên Đơn Dương, ông ấy có được cho phép qua Mỹ hay không, thưa ông đại sứ?
Burghardt: Tôi không muốn đề cập đến đơn xin visa của một cá nhân.
Arthurs: Căng thẳng về vấn đề biên giới giữa Việt Nam với Campuchia và Trung Quốc, tôi đang nghĩ đến hiệp định biên giới với Trung Quốc gần đây. Hoa Kỳ có quan tâm theo dõi chuyện này không?
Burghardt: Chúng tôi, tòa đại sứ của chúng tôi khắp nơi trên thế giới luôn luôn theo dõi và phân tích cẩn thận quan hệ giữa các nước. Quan hệ giữa Trung Quốc và các nước ở Đông nam Á, trong đó có Việt Nam là một đề tài hấp dẫn. Chính bản thân tôi theo dõi chuyện này từ nhiều năm nay.
Tôi nghĩ việc Trung Quốc hành xử như thế nào với các nước ở Đông Nam Á luôn luôn là một đề tài quan trọng, và Việt Nam giải quyết thế nào với nước anh em khổng lồ phương Bắc luôn luôn là đề tài hấp dẫn.
Arthurs: Lúc này đi đâu cũng nghe người ta bàn tán đến triển vọng phát triển của Trung Quốc, yếu tố này ảnh hưởng thế nào đến quan hệ Việt Mỹ?
Burghardt: Tôi nghĩ Việt Nam thường nhìn thế giới với quan điểm cán cân quyền lực và đó là một điểm thú vị khi tôi nghe người Việt nói như vậy. Điều đó có thể ảnh hưởng đến lập trường của Việt Nam khi quan hệ với Hoa Kỳ.
Nhưng tôi nghĩ ở Mỹ lối suy nghĩ đó không còn được thịnh hành như vài năm trước, nhưng quan niệm đó vẫn còn.
Tôi nghĩ làm sao cho khối ASEAN vững mạnh là một trong những mục tiêu của Hoa Kỳ và chúng tôi hy vọng Việt Nam có thể là một đối tác trong chuyện này. Chúng tôi hy vọng Trung Quốc giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ hay ở biển Đông với những nước ở Đông nam Á một cách hòa hoãn và tôn trọng họ.
Chúng tôi biết đây là những vấn đề quan trọng trong vùng và chúng tôi thảo luận cẩn thận với các nước bạn của chúng tôi ở Đông nam Á.
Thật tuyệt vời khi quay trở lại để xem đất nước này thay đổi như thế nào, thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn, để nhìn thấy Việt Nam trong hòa bình, để nhìn thấy Việt Nam bắt đầu phát triển một cách thật đáng kể
Đại sứ Raymond Burghardt
Arthurs: Tôi muốn hỏi ông đại sứ một câu có tính cách riêng tư một tí, cuộc sống của ông ở Việt Nam ra sao? ông nghĩ gì về Việt Nam?
Burghardt: Tôi trở lại Việt Nam tháng 12 năm 2001. Hồi chiến tranh tôi phục vụ ở Việt Nam trong hai năm 1971-1973. Năm 1992 tôi có quay lại Việt Nam một lần, chỉ ngắn ngủi thôi. Nhưng trong suốt 19 năm trời tôi không có liên hệ trực tiếp gì với Việt Nam hết cả.
Vì vậy thật tuyệt vời khi quay trở lại để xem đất nước này thay đổi như thế nào, thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn, để nhìn thấy Việt Nam trong hòa bình, để nhìn thấy Việt Nam bắt đầu phát triển một cách thật đáng kể.
Và thật may mắn khi quay trở lại một nơi mà cá tính của con người không thay đổi, người Việt vẫn rất khôi hài, họ vẫn có thể nhìn thấy sự lạc quan trong cuộc sống và, họ vẫn thân thiện. Tôi bây giờ có thể đi lại nhiều nơi hơn là trước đây.
Arthurs: Ông biết nói tiếng Việt, nó cũng giúp ông khám phá Việt Nam nhiều hơn phải không?
Burghardt: Tôi nói tiếng Việt lưu loát khi tôi rời Việt Nam năm 1973, nhưng khi quay lại vào năm 2001, tôi quên cũng nhiều, nhưng tôi đang nhớ lại và bây giờ tôi nói tiếng Việt hàng ngày. Thật là thú vị khi có thể nói được tiếng địa phương, đã vậy có khi tôi còn tình cờ gặp được những người tôi quen trước đây, đặc biệt là ở miền Nam.
Thật kỳ lạ khi tôi đến gặp lại những người từng quan hệ trong thập niên 70, có khi văn phòng của họ cũng y hệt như ngày xưa, gặp nhau thậm chí còn nối lại được câu chuyện bỏ dở năm xưa, cứ như tôi chỉ mới rời khỏi nơi đó ba hôm chứ không phải đã mươi năm rồi. Tôi trải qua nhiều chuyện cảm động lắm.
Tôi muốn thấy chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là hổ trợ cho Việt Nam, giúp Việt Nam hội nhập vào hệ thống kinh tế toàn cầu
Đại sứ Raymond Burghardt
Arthurs: Ông muốn làm được gì trong nhiệm kỳ đại sứ ở Việt Nam?
Burghardt: Tôi muốn thấy chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là hỗ trợ cho Việt Nam, giúp Việt Nam hội nhập vào hệ thống kinh tế toàn cầu.
Chúng tôi bỏ ra nhiều công sức và tiền của để làm chuyện đó, giúp Việt Nam thực thi Hiệp Định Thương Mại song phương, giúp Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới.
Trong lúc làm như vậy Việt Nam sẽ có dịp tiếp cận với những trào lưu và các mối liên hệ trên thế giới, qua đó giúp cho người dân Việt Nam trở thành những thành viên đúng nghĩa và đầy đủ ý nghĩa của cộng đồng thế giới. Về lâu về dài điều đó sẽ giúp quyết định một xã hội sẽ như thế nào.
Bên dưới mục tiêu chung đó, tôi sẽ đưa vào nhiều chương trình trao đổi mang tính giáo dục, thật ra các chương trình đó ở Việt Nam là qui mô nhất so với bất kỳ nơi nào khác trên thế giới khi nói đến cam kết của chính phủ Hoa Kỳ.
Tôi cũng muốn nói thêm rằng một trong những mục tiêu khác của tôi là bình thường hóa hơn nữa quan hệ với Việt Nam. Ý tôi muốn nói đến việc nới rộng các quan hệ hợp tác, bao gồm cả quân sự lẫn các cơ quan thi hành pháp luật.
Hiện tại thì hai nước đã có những quan hệ cơ bản nhưng chúng tôi muốn trong tương lai phải được phát triển hơn nữa, tương tự như quan hệ chúng tôi có với các nước láng giềng của Việt Nam ở Đông nam Á. (BBC)
Arthurs: Thưa ông Đại Sứ, lập trường của Việt Nam trong vấn đề Iraq ảnh hưởng tới quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ như thế nào?
Burghardt: Việt Nam có lập trường trong một số vấn đề quốc tế không giống với lập trường của Hoa Kỳ. Vấn đề Iraq không phải là lần đầu tiên và có lẽ sẽ không phải là lần cuối cùng. Nhưng đây không phải là chuyện có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ giữa hai nước.
Việt Nam không phải là một thành viên của Hội Đồng Bảo An, và Việt Nam không phải là một trong số những quốc gia mà chúng tôi có nhiều trao đổi về vấn đề Iraq.
Tôi xin nói thành thật thế này, tôi không nghĩ là Washington để tâm đến những tuyên bố Việt Nam đưa ra vào lúc này về cuộc chiến ở Iraq
Quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là một quan hệ mới mẻ. Chúng tôi chỉ có quan hệ ngoại giao chưa tới 8 năm.
Ở giai đoạn hiện nay, chúng tôi tập trung chính vào những điều như liên hệ kinh tế, hay các chương trình trao đổi giáo dục. Và những điều đó đang tiếp tục.
Arthurs: Nhưng thưa ông Đại Sứ, Hà Nội đã đặc biệt nói đến hành động gây hấn của Hoa Kỳ. Họ nhắc đến kinh nghiệm chiến tranh Việt Nam. Hẳn những lời nói mạnh mẽ về cuộc chiến và về điều mà họ gọi là chủ nghĩa bành truớng đế quốc của Hoa Kỳ là những điều mà chắc Washington cảm thấy khó nghe?
Burghardt: Tôi xin nói thành thật thế này, tôi không nghĩ là Washington để tâm đến những tuyên bố Việt Nam đưa ra vào lúc này về cuộc chiến ở Iraq. Và tôi không nghĩ là những gì tôi nói ở đây làm cho các nhân vật trong chính phủ Việt Nam ngạc nhiên. Những gì họ nói quả là bực mình, nhưng cũng chẳng có gì là đáng ngạc nhiên.
Đó là những luận điệu thông thường của Việt Nam về nhiều chuyện. Tôi nghĩ nếu chúng ta so sánh với những tuyên bố về những chuyện khác, họ có khả năng đưa ra những tuyên bố nặng nề hơn nhiều. Thành ra tôi sẽ không phản ứng quá mức trước luận điệu đó.
Tôi nghĩ điều quan trọng hơn là chú tâm vào quan hệ về lâu về dài, và tôi cũng đã nghe các viên chức Việt Nam nói như vậy.
Arthurs: Tức là họ cũng biết quan hệ lâu dài có thể ảnh hưởng vì những chuyện như thế này?
Burghardt: Những quan chức mà tôi nói chuyện luôn cố trấn an tôi rằng chuyện Iraq không ảnh hưởng đến quan hệ lâu dài giữa hai nước.
Arthurs: Ông xem đây như là một chuyện như bao chuyện khác, nhưng đâu thể nói như vậy, bởi vì những tuyên bố của Việt Nam về cuộc chiến ở Iraq, rồi thì Hoa Kỳ khuyến cáo công dân của các đừng đi Việt Nam vì sợ bệnh viêm phổi cấp tính, và tranh tụng về cá ba sa... Chẳng phải đó là những vấn đề cốt lõi của sự khác biệt giữa Việt Nam và Hoa Kỳ hay sao?
Burghardt: Bà đã gom vào nhiều vấn đề không có liên quan gì với nhau.
Arthurs: Vâng, tôi gom chúng lại, và đành rằng đó là những chuyện riêng biệt, nhưng chúng cho thấy lập trường của hai bên, cho thấy sự khác nhau cơ bản về cách nhìn, cách giải quyết vấn đề.
Làm sao các ông vượt qua những dị biệt đó để xây dựng quan hệ giữa hai nước?
Burghardt: Chúng ta phải giải quyết từng vấn đề một. Về vấn đề viêm phổi cấp tính SARS, khuyến cáo về du hành của Hoa Kỳ vào lúc này cũng chẳng khác gì khuyến cáo của các quốc gia khác. Thực ra tôi thấy một số nước còn ra khuyến cáo còn mạnh hơn của chúng tôi nữa, thành đó không phải là một vấn đề.
Còn về vấn đề cá ba sa, tất cả mọi nhân vật trong Bộ Thương Mại Việt Nam đều biết là việc buôn bán cá ba sa chỉ là một phần rất nhỏ trong mậu dịch song phương của hai nước.
Tôi nghĩ thật ra kinh nghiệm điều đình trong chuyện này sẽ giúp ích nhiều cho Việt Nam sau này. Tôi cũng nghĩ người ta có khuynh hướng coi vấn đề mậu dịch là một vấn đề chính trị. Đó có lẽ là một điều nên vượt qua trong thái độ đối với vấn đề mậu dịch.
Tôi nghĩ là Việt Nam nay có đủ thì giờ để nghiên cứu kỹ phán quyết đó, và để hiểu là có những điều Việt Nam được lợi theo luật mậu dịch của Hoa Kỳ khi được coi như là một nền kinh tế không phải là kinh tế thị trường
Nhưng tôi tin chắc là rồi khi Việt Nam hội nhập nhiều hơn với cộng đồng quốc tế, họ sẽ tiếp tục gặp những vấn đề tương tự, không phải chỉ với Hoa Kỳ mà còn với Liên Hiệp Âu Châu hay với Canada. Đến lúc đó họ sẽ thấy đây chỉ là những vấn đề bình thường trong quan hệ mậu dịch.
Arthurs: Ông vừa nói đến vấn đề cá ba sa, người Mỹ quan niệm thế nào về chuyện là Việt Nam có một nền kinh tế thị trường hay không?
Burghardt: Trong việc giải quyết các trường hợp bán phá giá, mà đó chính là trường hợp của vụ cá ba sa, thì có một số những tiêu chuẩn được xác định rất kỹ để xem một nền kinh tế có phải là kinh tế thị trường hay không. Đã có một phán quyết theo những tiêu chuẩn đó, và trong trường hợp này Việt Nam không phải là một nền kinh tế thị trường.
Hầu hết các nhà kinh tế sẽ đồng ý là Việt Nam chỉ mới ở nửa đường đến một nền kinh tế thị trường thật sự, tức là kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi. Tôi nghĩ là Việt Nam nay có đủ thì giờ để nghiên cứu kỹ phán quyết đó, và để hiểu là có những điều Việt Nam được lợi theo luật mậu dịch của Hoa Kỳ khi được coi như là một nền kinh tế không phải là kinh tế thị trường.
Arthurs: Với tư cách là đại sứ, vai trò của ông trong việc điều đình những chuyện này là gì? Công việc của ông khó khăn quá phải không?
Burghardt: Đại sứ là một nhà thương thuyết, là một người vận động cho quốc gia của mình, và cũng là nhà quản lý tất cả các nhân viên làm việc trong sứ quán. Đại sứ cũng là cầu nối giữa sứ quán và bộ nội vụ ở Washington.
Vai trò của tôi cũng giống như vai trò của bất kỳ đại sứ Mỹ nào tại bất kỳ nơi nào trên thế giới. Trong trường hợp của Việt Nam tôi nghĩ có những nét đặc thù vì như tôi đã nói, đây là quan hệ còn non trẻ, bảy tám năm không phải là một thời gian dài, quan hệ ở cấp đại sứ thật ra chỉ mới có năm năm rưỡi.
Điều đó có nghĩa là hai nước vẫn đang còn phải tìm hiểu nhau, tìm hiểu xem bên kia làm việc như thế nào. Vì vậy hai bên, ở cấp bộ nội vụ và hành chính phải tiếp tục giải thích và hướng dẫn cho nhau.
Arthurs: Cuộc chiến Việt Nam ảnh hưởng thế nào đến quan hệ hai nước?
Burghardt: Quan hệ Mỹ Việt bắt đầu từ đầu thập niên 90, thậm chí từ trước khi có quan hệ chính thức, để giải quyết những vấn đề còn tồn đọng từ sau cuộc chiến, thí dụ như vấn đề quân nhân Mỹ mất tích, các dự án phát triển nhân đạo để tạo dựng lại niềm tin cho hai bên, và những công việc này sẽ được tiếp tục.
Nhưng dĩ nhiên phía Việt Nam vẫn còn những nghi ngại trong một số bộ phận, đó cũng là dễ hiểu thí dụ như trong quân đội, trong các lực lượng an ninh, và có lẽ cả trong bộ máy tuyên truyền. Phía Mỹ cũng có những nghi ngại vì lý do lịch sử.
Chúng tôi sẽ không xem một người là khủng bố chỉ vì người đó có quan điểm chính trị ngược lại quan điểm của một chính phủ nào đó
Thành thật mà nói ở Mỹ có những nhóm vận động, những tổ chức vận động quan tâm đến quan hệ với Việt Nam và họ có nhiều vấn đề xuất phát từ những năm tháng của chiến tranh, họ có quan điểm rất mạnh về những vấn đề đó và tìm cách gây ảnh hưởng trong quan hệ Việt Mỹ.
Tôi nói đến chủ yếu là các tổ chức trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, một số nhóm này phản đối việc tái lập quan hệ và vẫn tỏ ra thù nghịch với chính phủ Việt Nam hiện tại.
Arthurs: Hà Nội gọi những nhóm như người Thượng hay một trong các nhân vật lãnh đạo của họ, ông Kok Ksor là những kẻ khủng bố, và chỉ trích Hoa Kỳ là dung dưỡng những kẻ âm mưu chống phá Việt Nam. Chuyện này ảnh hưởng đến quan hệ hai nước thế nào?
Burghardt: Đã có hai trường hợp người Mỹ gốc Việt sử dụng các phương tiện bạo động để phá hoại tòa đại sứ của Việt Nam. Chúng tôi đã có phản ứng, từ cho dẫn độ đến bắt giữ, chúng tôi đã làm tất cả những gì luật pháp cho phép.
Đã có những người dùng phương cách bạo động cho mục đích chính trị. Nhưng nếu nếu họ dùng phương cách hoà bình thì sẽ được chúng tôi bảo vệ.
Chúng tôi sẽ không xem một người là khủng bố chỉ vì người đó có quan điểm chính trị ngược lại quan điểm của một chính phủ nào đó. Có những tiêu chuẩn chung để đi đến kết luận là có phải khủng bố hay không, và sử dụng những hình thức bạo động rõ ràng là khủng bố.
Arthurs: Theo chỗ ông đại sứ biết thì có bằng chứng gì để nói rằng có những người Việt lưu vong đã xúi giục bạo động chống chính phủ ở Tây Nguyên hay không? Nếu có bằng chứng thì chính phủ Hoa Kỳ đã làm gì?
Burghardt: Tôi nghĩ người Thượng ở Mỹ chắc chắn có liên lạc với ở Việt Nam, qua điện thoại. Nhưng tôi không biết có trường hợp nào người ta bị xúi giục để có hành động vũ lực. Có thể họ cũng tìm cách gieo tư tưởng ly khai, nhưng đó không phải là xúi dục người khác có hành động bạo động.
Arthurs: Các tài liệu về nhân quyền được đưa lên trang web của chính phủ Hoa Kỳ, có người bất đồng chính kiến đem ra dịch và thế là họ bị bắt giam. Ông đại sứ có nghĩ chuyện này ảnh hưởng đến quan hệ với Hà Nội hay không?
Burghardt: Chúng tôi đưa những tài liệu về nhân quyền lên trang web của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để cho ai bất kỳ ở đâu trên thế giới cũng có thể vào xem. Dân chúng ở Việt Nam cũng có thể vào trang web của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.
Những tài liệu đó nói lên quan điểm của Hoa Kỳ và của nhiều nước khác nữa, ngay cả của Liên Hiệp Quốc về vấn đề nhân quyền. Chúng tôi không có gì phải xin lỗi khi đưa những tài liệu đó lên trang web của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hết cả.
Arthurs: Chính phủ của ông đại sứ đã làm gì để giúp những người bất đồng chính kiến đang bị giam giữ, hay là làm gì đó để cho những người bất đồng chính kiến nói chung không bị làm khó dễ nữa?
Tôi nghĩ làm sao cho khối ASEAN vững mạnh là một trong những mục tiêu của Hoa Kỳ và chúng tôi hy vọng Việt Nam có thể là một đối tác trong chuyện này
Burghardt: Tôi biết có hai hay ba trường hợp được phóng thích sớm, hay được cho phép đi Mỹ. Tình hình có vẻ được cải thiện nhờ sự can thiệp của chúng tôi.
Arthurs: Trường hợp mới đây nhất là diễn viên Đơn Dương, ông ấy có được cho phép qua Mỹ hay không, thưa ông đại sứ?
Burghardt: Tôi không muốn đề cập đến đơn xin visa của một cá nhân.
Arthurs: Căng thẳng về vấn đề biên giới giữa Việt Nam với Campuchia và Trung Quốc, tôi đang nghĩ đến hiệp định biên giới với Trung Quốc gần đây. Hoa Kỳ có quan tâm theo dõi chuyện này không?
Burghardt: Chúng tôi, tòa đại sứ của chúng tôi khắp nơi trên thế giới luôn luôn theo dõi và phân tích cẩn thận quan hệ giữa các nước. Quan hệ giữa Trung Quốc và các nước ở Đông nam Á, trong đó có Việt Nam là một đề tài hấp dẫn. Chính bản thân tôi theo dõi chuyện này từ nhiều năm nay.
Tôi nghĩ việc Trung Quốc hành xử như thế nào với các nước ở Đông Nam Á luôn luôn là một đề tài quan trọng, và Việt Nam giải quyết thế nào với nước anh em khổng lồ phương Bắc luôn luôn là đề tài hấp dẫn.
Arthurs: Lúc này đi đâu cũng nghe người ta bàn tán đến triển vọng phát triển của Trung Quốc, yếu tố này ảnh hưởng thế nào đến quan hệ Việt Mỹ?
Burghardt: Tôi nghĩ Việt Nam thường nhìn thế giới với quan điểm cán cân quyền lực và đó là một điểm thú vị khi tôi nghe người Việt nói như vậy. Điều đó có thể ảnh hưởng đến lập trường của Việt Nam khi quan hệ với Hoa Kỳ.
Nhưng tôi nghĩ ở Mỹ lối suy nghĩ đó không còn được thịnh hành như vài năm trước, nhưng quan niệm đó vẫn còn.
Tôi nghĩ làm sao cho khối ASEAN vững mạnh là một trong những mục tiêu của Hoa Kỳ và chúng tôi hy vọng Việt Nam có thể là một đối tác trong chuyện này. Chúng tôi hy vọng Trung Quốc giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ hay ở biển Đông với những nước ở Đông nam Á một cách hòa hoãn và tôn trọng họ.
Chúng tôi biết đây là những vấn đề quan trọng trong vùng và chúng tôi thảo luận cẩn thận với các nước bạn của chúng tôi ở Đông nam Á.
Thật tuyệt vời khi quay trở lại để xem đất nước này thay đổi như thế nào, thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn, để nhìn thấy Việt Nam trong hòa bình, để nhìn thấy Việt Nam bắt đầu phát triển một cách thật đáng kể
Đại sứ Raymond Burghardt
Arthurs: Tôi muốn hỏi ông đại sứ một câu có tính cách riêng tư một tí, cuộc sống của ông ở Việt Nam ra sao? ông nghĩ gì về Việt Nam?
Burghardt: Tôi trở lại Việt Nam tháng 12 năm 2001. Hồi chiến tranh tôi phục vụ ở Việt Nam trong hai năm 1971-1973. Năm 1992 tôi có quay lại Việt Nam một lần, chỉ ngắn ngủi thôi. Nhưng trong suốt 19 năm trời tôi không có liên hệ trực tiếp gì với Việt Nam hết cả.
Vì vậy thật tuyệt vời khi quay trở lại để xem đất nước này thay đổi như thế nào, thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn, để nhìn thấy Việt Nam trong hòa bình, để nhìn thấy Việt Nam bắt đầu phát triển một cách thật đáng kể.
Và thật may mắn khi quay trở lại một nơi mà cá tính của con người không thay đổi, người Việt vẫn rất khôi hài, họ vẫn có thể nhìn thấy sự lạc quan trong cuộc sống và, họ vẫn thân thiện. Tôi bây giờ có thể đi lại nhiều nơi hơn là trước đây.
Arthurs: Ông biết nói tiếng Việt, nó cũng giúp ông khám phá Việt Nam nhiều hơn phải không?
Burghardt: Tôi nói tiếng Việt lưu loát khi tôi rời Việt Nam năm 1973, nhưng khi quay lại vào năm 2001, tôi quên cũng nhiều, nhưng tôi đang nhớ lại và bây giờ tôi nói tiếng Việt hàng ngày. Thật là thú vị khi có thể nói được tiếng địa phương, đã vậy có khi tôi còn tình cờ gặp được những người tôi quen trước đây, đặc biệt là ở miền Nam.
Thật kỳ lạ khi tôi đến gặp lại những người từng quan hệ trong thập niên 70, có khi văn phòng của họ cũng y hệt như ngày xưa, gặp nhau thậm chí còn nối lại được câu chuyện bỏ dở năm xưa, cứ như tôi chỉ mới rời khỏi nơi đó ba hôm chứ không phải đã mươi năm rồi. Tôi trải qua nhiều chuyện cảm động lắm.
Tôi muốn thấy chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là hổ trợ cho Việt Nam, giúp Việt Nam hội nhập vào hệ thống kinh tế toàn cầu
Đại sứ Raymond Burghardt
Arthurs: Ông muốn làm được gì trong nhiệm kỳ đại sứ ở Việt Nam?
Burghardt: Tôi muốn thấy chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là hỗ trợ cho Việt Nam, giúp Việt Nam hội nhập vào hệ thống kinh tế toàn cầu.
Chúng tôi bỏ ra nhiều công sức và tiền của để làm chuyện đó, giúp Việt Nam thực thi Hiệp Định Thương Mại song phương, giúp Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới.
Trong lúc làm như vậy Việt Nam sẽ có dịp tiếp cận với những trào lưu và các mối liên hệ trên thế giới, qua đó giúp cho người dân Việt Nam trở thành những thành viên đúng nghĩa và đầy đủ ý nghĩa của cộng đồng thế giới. Về lâu về dài điều đó sẽ giúp quyết định một xã hội sẽ như thế nào.
Bên dưới mục tiêu chung đó, tôi sẽ đưa vào nhiều chương trình trao đổi mang tính giáo dục, thật ra các chương trình đó ở Việt Nam là qui mô nhất so với bất kỳ nơi nào khác trên thế giới khi nói đến cam kết của chính phủ Hoa Kỳ.
Tôi cũng muốn nói thêm rằng một trong những mục tiêu khác của tôi là bình thường hóa hơn nữa quan hệ với Việt Nam. Ý tôi muốn nói đến việc nới rộng các quan hệ hợp tác, bao gồm cả quân sự lẫn các cơ quan thi hành pháp luật.
Hiện tại thì hai nước đã có những quan hệ cơ bản nhưng chúng tôi muốn trong tương lai phải được phát triển hơn nữa, tương tự như quan hệ chúng tôi có với các nước láng giềng của Việt Nam ở Đông nam Á. (BBC)