HUẾ - Chiều thứ ba, ngày 26/3/2008, lúc 14g30, linh mục giảng phòng huớng dẫn và chia sẻ đề tài: “Cây lau bị dập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, Người chẳng nở tắt đi” (Mt 12,20).
Khi đã đến thời buổi, và Nước Thiên Chúa đã gần (x.Mc 1,4), Thiên Chúa đã sai con mình tới, sinh ra làm con một người phụ nữ (x.Gl 4,4), để cứu độ chúng ta, thì Người đã không cứu chúng ta bằng phép mầu, để biến thế gian này phút chốc trở thành thiên đàng. Người cũng không coi những đau khổ, lao đao của chúng ta là ảo ảnh, huyền hoặc.
Ca dao Việt Nam nói:
Yêu nhau, vạn sự chẳng nề
Một trăm chỗ lệch, cũng kê cho bằng.
Giữa Thiên Chúa với chúng ta, đúng là có một trăm chỗ lệch. Mà vì yêu thương, Thiên Chúa đã muốn nên giống anh em về mọi sự (Dt 2,17). trừ sự tội. Đức Kitô cảm thông với nỗi yếu hèn của ta vì Người có thể chạnh thương những kẻ u mê lầm lạc, vì chính Người cũng lâm phải yếu đuối tư bề (x.Dt 5,2).
Vào sáng thứ tư, ngày 27/2/2008, linh mục giảng phòng hướng dẫn tiếp đề tài hôm qua: “cây lau bị dập, Người không đành bẻ gãy, …”
Chúa Giêsu đã sinh ra trong chuồng bò, đầu đường xó chợ, và chết treo nhục hình thập giá. Từ nay, không còn có con người nào bất hạnh tới đâu, xấu số tới đâu, mà Người không tìm cho bằng được, để dồng hành, để nâng đỡ, để gánh lấy tội thế gian. Người là Đấng chăn chiên lành, lặn suối trèo non để đi tìm chỉ một con chiên lạc. Người là bà nghèo mất một đồng bạc thì phải quét dọn gầm giường gầm tủ, moi móc để tìm lại cho kỳ được (x. Lc 15).
Vì lẽ đó, “ Người đã chết vì mọi người, để ai sống thì đừng còn sống cho mình nữa, nhưng là cho Đấng đã chết và phục sinh vì mình” (x. 2Cr 5,15). “Nhờ Thanh tẩy, ta đã được mai táng làm một với Người trong sự chết, để như Đức Kitô, nhờ bởi vinh quang của Cha, đã phục sinh từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới” (Rm 6,4). “Cho nên ai ở trong Đức Kitô, kẻ ấy là tạo thành mới” (2Cr 5,17), là trời mới đất mới.
Từ những mạc khải trên đây, ta ngộ ra rằng linh mục của Chúa Kitô phải là người gần gũi với người khác, đặc biệt là với những người nghèo khó, bất hạnh, lầm lạc, tội lỗi.
Linh mục không thể quan liêu, xa cách với dân thường, dân nghèo. Bởi linh mục không phải là một công chức hành chánh, mà là đồ đệ của Đức Kitô, đồ đệ lòng thương xót của Chúa, vì gặp và đón nhận Đức Kitô, là đã nhìn thấy một Tạo Thành mới, một “Trời Mới Đất Mới”, tâm cảnh mới ấy trở nên cái tâm, cái trí, cái hồn, và nên động lực cho mọi lời nói và việc làm của linh mục. Chính tâm cảnh mới ấy giúp ta tìm được những lời nói, những cử chỉ, những thâí độ khiến cho người khác cũng nhìn thấy Trới Mới Đất Mới như ta.
Thánh lễ đồng tế lúc 10g., cầu cho các giám mục và linh mục đã qua đời. Trong Thánh lễ nầy, Linh mục Stanislaô Nguyễn Đức Vệ, Hạt trưởng Hạt Thành phố Huế, suy niệm bài sau đây.
Bài Tin Mừng hôm nay mang tựa đề “Đức Giêsu và Lề luật”.
Chính Chúa Giêsu nói: “Ta không đến để huỷ bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn”.
Kiện toàn ở đây, còn hơn cả việc giữ trọn Lề Luật bên ngoài như các vị lãnh đạo tôn giáo thường làm, nhưng là bổ khuyết và đưa đến hoàn hảo việc giữ đúng Lề luật bằng cách tái lập theo ý hướng và tinh thần đích thực của thánh ý Chúa. Trọng tâm của Luật Môisen nằm ở hai mặt của giới luật yêu thương, từ nơi đó các lề luật khác điều tìm được ý nghĩa và sức mạnh (x. Mt 22,40)
Ngài còn cho biết: “Cho dù trời đất có qua đi, thì một chấm một phẩy trong bộ luật cũng không bỏ sót, cho đến khi mọi sự hoàn thành”. Chấm phẩy này không phải hiểu như là những dấu để phân câu trong câu văn, mà phải hiểu đó là chữ nhỏ nhất trong mẫu tự Do-thái (chữ yôta) và những nét nhỏ như cái chấm để phân biệt chữ này với chữ khác. Chúa Giêsu dùng hình ảnh để nói lên tầm quan trọng của Lề Luật, vì đó là ý muốn của Thiên Chúa. Đã là ý muốn của Thiên Chúa, thì không có gì là nhỏ bé, tầm thường. Vì thế, không một chi tiết nào trong Lề Luật phải bị chê bỏ đi.
Như vậy, đối với Chúa Giêsu, kiện toàn luật sống của người kitô hữu không phải là giữ trọn lề luật cho được an tâm, mà là dấn thân cho đến tận cùng của tình yêu, như lời Phúc âm: “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Ngài đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), nghĩa là cho đến mức độ cuối cùng của lòng yêu mến. Đối với Đức Giêsu, cách sống lề luật một cách tốt đẹp, đó là đạt tới chóp đỉnh của tình yêu.
Chính vì thế, Chúa Giêsu luôn mời gọi người môn đệ của Ngài đạt đến những đòi hỏi vô giới hạn của tình yêu: ngày nào chúng ta sống tình yêu thương một cách mãnh liệt, thì không có gì là nhỏ bé cả. Đó chính là con đường thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu đã khai mở, vị thánh của con đường thơ bé thiêng liêng giúp đạt đến một cuộc sống được kiện toàn như lòng Chúa mong ước.
Tiểu sử thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu kể lại: “Tê-rê-sa thành Lisieux đã mong muốn có được và đáp ứng tất cả mọi ơn gọi, ơn gọi làm người chiến đấu, ơn gọi làm linh mục, làm tông đồ, làm tiến sĩ, làm vị tử đạo, với niềm mong ước hoàn thành tất cả những công trình anh hùng nhất …. Bỗng một ngày kia, khi đọc thư thứ 1 gởi Cô-rin-tô, Tê-rê-sa hiểu được rằng: “Mọi hồng ân hoàn hảo nhất chẳng là gì nếu không có Tình Yêu …. rằng đức ái là con đường tuyệt diệu dẫn đến Thiên Chúa một cách chắc chắn. Sau cùng, đây là câu trả lời làm cho Tê-rê-sa an tâm vững dạ: “Tôi hiểu rằng Tình yêu bao hàm tất cả mọi ơn gọi, rằng tình yêu là tất cả…. Bấy giờ trong sự hoan lạc cuồng nhiệt, tôi đã kêu lên: Ôi Giêsu, tình yêu của con… ơn gọi của con, cuối cùng, con đã tìm gặp được, ơn gọi của con chính là tình yêu! Phải, con đã tìm thấy chỗ đứng của con trong Hội thánh và chỗ đứng này, thân lạy Chúa, chính Chúa đã trao ban cho con…. Ở giữa lòng Hội thánh, con sẽ là tình yêu … như thế, con sẽ là tất cả…”
Con đường “thơ ấu thiêng liêng” đó luôn mời gọi chúng ta bước theo để yêu thương và phục vụ Chúa và anh chị em đồng loại, giữa lòng Hội thánh và trong mọi môi trường với lòng mến ngày càng lớn hơn. Amen.
Hội Thánh gồm những người được Thiên Chúa tập họp quanh Đức Giêsu Kitô
Chiều ngày thứ tư, 27/2/2008, linh mục giảng phòng chia sẽ đề tài “Hội Thánh gồm những người được Thiên Chúa tập họp quanh Đức Giêsu Kitô.”
“Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết và tuyên xưng Chúa đã phục sinh cho tới khi Chúa đến.”
Hội thánh trước tiên không phải là một tổ chức, hay một lực lượng nào trong xã hội. Hội thánh là những người được Thiên Chúa tập họp, chung quanh một Tin Mừng được công bố, Tin Mừng ấy là Đức Giêsu Kitô.
Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến là như thế: đến độ thí ban Con Một của Ngài, để phàm ai tin vào Người thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời (x. Ga 3,16).
“Thiên Chúa đã tỏ lòng yêu mến đối với chúng ta thế này: là Đức Giêsu Kitô đã chết vì ta, ngay lúc ta còn tội nhân” (Rm 5,8).
Vì Đức Giêsu đã mang ta vào trong mà chết, vì Người đã chết như thế, nên trong mọi nhà thờ của Hội thánh, chúng ta cử hành lễ giỗ của Đức Giêsu. Dân Chúa luôn giữ trong lòng niềm thâm cảm về Đức Giêsu là Đấng đã chết vì mình, và linh mục là người được cử ra để sáng chiều lo việc cúng giỗ.
Cũng như trong mọi lễ giỗ, chúng ta tưởng nhớ một người thân đã ra đi (Phụng vụ Lời Chúa), chúng ta dâng lời khấn nguyện (phụng vụ Tạ Ơn), chúng ta cùng ăn giỗ (rước lễ) trong tình gia đình hiệp nhất.
Nhưng khác với lễ giỗ, chúng ta không tưởng nhó một ai đó đã ngàn trùng xa cách. Chúa Giêsu không phải người của cõi âm, Chúa là Thái Dương. Chúa đến nói với ta lời bình an: “Thầy đây! Đừng sợ” (Ga 6,20).
“Thầy sẽ không bỏ anh em mồ côi, Thầy sẽ đến với anh em. Còn ít nữa, thế gian không còn thấy Thầy nhưng anh em thì thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sống” (Ga 14,18-19).
Thầy sẽ tái ngộ anh em, thì lòng anh em sẽ vui mầng và nỗi vui mừng của anh em không ai giật mất được (Ga 16,12).
Khi ấy và vì thế, Hội thánh loan báo niềm hy vọng cho con người và thế giới (x. Rm 8,24).
Qua ngày thứ năm, 28.02.2008, linh mục giảng phòng hướng dẫn và chia sẻ hai đề tài, đề tài thứ nhất về sứ vụ linh mục ngày nay, và đề tài thứ hai về Đức Mẹ.
Sứ vụ linh mục ngày nay
Sáng thứ năm, 28/2/2008, đề tài về sứ vụ linh mục ngày nay.
Hội thánh ở Việt Nam đang ở giữa một khối người, 93% chưa biết Chúa.
Đất nước và xã hội đang trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần, đặc biệt trong tầng lớp trẻ.
Đa số nhân dân là người nghèo, đang chật vật kiếm sống và khao khát sống.
Nhiều nạn nhân của tình trạng nghèo khổ bất công và tệ nạn xã hội.
Chính trong môi trường đó mà chúng ta được kêu gọi xây dựng linh đạo và nền văn minh tình thương và sự sống, đối đầu với nền văn minh sự chết.
Xã hội phát triển, kiến thức được nâng cao, người ta cũng có óc phê phán nhạy bén hơn, có thể “con chiên” không dễ bảo như trước.
Linh mục không chỉ cần kiến thức, cần biét cởi mở đối thoại, mà như lời các Đức Giáo Hoàng dạy, cần thi hành sứ vụ “chứng nhân”. Ngày nay, người ta trọng chứng nhân hơn thày dạy. Chính vì thế, bên cạnh những đòi hỏi nhân bản, cần về nguồn Lời Chúa, cần đón nhận Thần Khí cầu nguyện, cần một linh mục linh đạo có chiều sâu.
Mục vụ của chúng ta cũng nhằm biến các cộng đoàn của chúng ta thành cộng đoàn “chứng nhân”.
Chia sẻ đề tài về Đức Mẹ
Ban chiều ngày thứ năm, 28/2/2008, trong bài giảng cuối cùng, linh mục mục giảng phòng chia sẻ đề tài về Đức Mẹ như sau.
Đức Mẹ là mẫu gương và mẹ của linh mục. “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19).
Đức Mẹ là đấng ghi nhớ trong lòng Lời Chúa nói, việc Chúa làm, và suy đi nghĩ lại, trường kỳ, miên man, cho đến ngày giác ngộ.
Vì đã đứng ở đầu nguồn ơn cứu độ, được gội nhuần trong ơn cứu độ, Đức Mẹ trở nên Đấng hằng cứu giúp mọi người.
Đức Mẹ trong ánh sáng Phục sinh, hình ảnh của Hội thánh.
Nếu các ân huệ nơi Đức Mẹ lan toả ra khắp nơi, ta sẽ có Hội thánh.
Nếu tất cả các ân huệ của Hội thánh quy tụ nơi một người, ta sẽ có Đức Mẹ.
Khi đã đến thời buổi, và Nước Thiên Chúa đã gần (x.Mc 1,4), Thiên Chúa đã sai con mình tới, sinh ra làm con một người phụ nữ (x.Gl 4,4), để cứu độ chúng ta, thì Người đã không cứu chúng ta bằng phép mầu, để biến thế gian này phút chốc trở thành thiên đàng. Người cũng không coi những đau khổ, lao đao của chúng ta là ảo ảnh, huyền hoặc.
Ca dao Việt Nam nói:
Yêu nhau, vạn sự chẳng nề
Một trăm chỗ lệch, cũng kê cho bằng.
Giữa Thiên Chúa với chúng ta, đúng là có một trăm chỗ lệch. Mà vì yêu thương, Thiên Chúa đã muốn nên giống anh em về mọi sự (Dt 2,17). trừ sự tội. Đức Kitô cảm thông với nỗi yếu hèn của ta vì Người có thể chạnh thương những kẻ u mê lầm lạc, vì chính Người cũng lâm phải yếu đuối tư bề (x.Dt 5,2).
Vào sáng thứ tư, ngày 27/2/2008, linh mục giảng phòng hướng dẫn tiếp đề tài hôm qua: “cây lau bị dập, Người không đành bẻ gãy, …”
Chúa Giêsu đã sinh ra trong chuồng bò, đầu đường xó chợ, và chết treo nhục hình thập giá. Từ nay, không còn có con người nào bất hạnh tới đâu, xấu số tới đâu, mà Người không tìm cho bằng được, để dồng hành, để nâng đỡ, để gánh lấy tội thế gian. Người là Đấng chăn chiên lành, lặn suối trèo non để đi tìm chỉ một con chiên lạc. Người là bà nghèo mất một đồng bạc thì phải quét dọn gầm giường gầm tủ, moi móc để tìm lại cho kỳ được (x. Lc 15).
Vì lẽ đó, “ Người đã chết vì mọi người, để ai sống thì đừng còn sống cho mình nữa, nhưng là cho Đấng đã chết và phục sinh vì mình” (x. 2Cr 5,15). “Nhờ Thanh tẩy, ta đã được mai táng làm một với Người trong sự chết, để như Đức Kitô, nhờ bởi vinh quang của Cha, đã phục sinh từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới” (Rm 6,4). “Cho nên ai ở trong Đức Kitô, kẻ ấy là tạo thành mới” (2Cr 5,17), là trời mới đất mới.
Từ những mạc khải trên đây, ta ngộ ra rằng linh mục của Chúa Kitô phải là người gần gũi với người khác, đặc biệt là với những người nghèo khó, bất hạnh, lầm lạc, tội lỗi.
Linh mục không thể quan liêu, xa cách với dân thường, dân nghèo. Bởi linh mục không phải là một công chức hành chánh, mà là đồ đệ của Đức Kitô, đồ đệ lòng thương xót của Chúa, vì gặp và đón nhận Đức Kitô, là đã nhìn thấy một Tạo Thành mới, một “Trời Mới Đất Mới”, tâm cảnh mới ấy trở nên cái tâm, cái trí, cái hồn, và nên động lực cho mọi lời nói và việc làm của linh mục. Chính tâm cảnh mới ấy giúp ta tìm được những lời nói, những cử chỉ, những thâí độ khiến cho người khác cũng nhìn thấy Trới Mới Đất Mới như ta.
Thánh lễ đồng tế lúc 10g., cầu cho các giám mục và linh mục đã qua đời. Trong Thánh lễ nầy, Linh mục Stanislaô Nguyễn Đức Vệ, Hạt trưởng Hạt Thành phố Huế, suy niệm bài sau đây.
Bài Tin Mừng hôm nay mang tựa đề “Đức Giêsu và Lề luật”.
Chính Chúa Giêsu nói: “Ta không đến để huỷ bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn”.
Kiện toàn ở đây, còn hơn cả việc giữ trọn Lề Luật bên ngoài như các vị lãnh đạo tôn giáo thường làm, nhưng là bổ khuyết và đưa đến hoàn hảo việc giữ đúng Lề luật bằng cách tái lập theo ý hướng và tinh thần đích thực của thánh ý Chúa. Trọng tâm của Luật Môisen nằm ở hai mặt của giới luật yêu thương, từ nơi đó các lề luật khác điều tìm được ý nghĩa và sức mạnh (x. Mt 22,40)
Ngài còn cho biết: “Cho dù trời đất có qua đi, thì một chấm một phẩy trong bộ luật cũng không bỏ sót, cho đến khi mọi sự hoàn thành”. Chấm phẩy này không phải hiểu như là những dấu để phân câu trong câu văn, mà phải hiểu đó là chữ nhỏ nhất trong mẫu tự Do-thái (chữ yôta) và những nét nhỏ như cái chấm để phân biệt chữ này với chữ khác. Chúa Giêsu dùng hình ảnh để nói lên tầm quan trọng của Lề Luật, vì đó là ý muốn của Thiên Chúa. Đã là ý muốn của Thiên Chúa, thì không có gì là nhỏ bé, tầm thường. Vì thế, không một chi tiết nào trong Lề Luật phải bị chê bỏ đi.
Như vậy, đối với Chúa Giêsu, kiện toàn luật sống của người kitô hữu không phải là giữ trọn lề luật cho được an tâm, mà là dấn thân cho đến tận cùng của tình yêu, như lời Phúc âm: “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Ngài đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), nghĩa là cho đến mức độ cuối cùng của lòng yêu mến. Đối với Đức Giêsu, cách sống lề luật một cách tốt đẹp, đó là đạt tới chóp đỉnh của tình yêu.
Chính vì thế, Chúa Giêsu luôn mời gọi người môn đệ của Ngài đạt đến những đòi hỏi vô giới hạn của tình yêu: ngày nào chúng ta sống tình yêu thương một cách mãnh liệt, thì không có gì là nhỏ bé cả. Đó chính là con đường thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu đã khai mở, vị thánh của con đường thơ bé thiêng liêng giúp đạt đến một cuộc sống được kiện toàn như lòng Chúa mong ước.
Tiểu sử thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu kể lại: “Tê-rê-sa thành Lisieux đã mong muốn có được và đáp ứng tất cả mọi ơn gọi, ơn gọi làm người chiến đấu, ơn gọi làm linh mục, làm tông đồ, làm tiến sĩ, làm vị tử đạo, với niềm mong ước hoàn thành tất cả những công trình anh hùng nhất …. Bỗng một ngày kia, khi đọc thư thứ 1 gởi Cô-rin-tô, Tê-rê-sa hiểu được rằng: “Mọi hồng ân hoàn hảo nhất chẳng là gì nếu không có Tình Yêu …. rằng đức ái là con đường tuyệt diệu dẫn đến Thiên Chúa một cách chắc chắn. Sau cùng, đây là câu trả lời làm cho Tê-rê-sa an tâm vững dạ: “Tôi hiểu rằng Tình yêu bao hàm tất cả mọi ơn gọi, rằng tình yêu là tất cả…. Bấy giờ trong sự hoan lạc cuồng nhiệt, tôi đã kêu lên: Ôi Giêsu, tình yêu của con… ơn gọi của con, cuối cùng, con đã tìm gặp được, ơn gọi của con chính là tình yêu! Phải, con đã tìm thấy chỗ đứng của con trong Hội thánh và chỗ đứng này, thân lạy Chúa, chính Chúa đã trao ban cho con…. Ở giữa lòng Hội thánh, con sẽ là tình yêu … như thế, con sẽ là tất cả…”
Con đường “thơ ấu thiêng liêng” đó luôn mời gọi chúng ta bước theo để yêu thương và phục vụ Chúa và anh chị em đồng loại, giữa lòng Hội thánh và trong mọi môi trường với lòng mến ngày càng lớn hơn. Amen.
Hội Thánh gồm những người được Thiên Chúa tập họp quanh Đức Giêsu Kitô
Chiều ngày thứ tư, 27/2/2008, linh mục giảng phòng chia sẽ đề tài “Hội Thánh gồm những người được Thiên Chúa tập họp quanh Đức Giêsu Kitô.”
“Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết và tuyên xưng Chúa đã phục sinh cho tới khi Chúa đến.”
Hội thánh trước tiên không phải là một tổ chức, hay một lực lượng nào trong xã hội. Hội thánh là những người được Thiên Chúa tập họp, chung quanh một Tin Mừng được công bố, Tin Mừng ấy là Đức Giêsu Kitô.
Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến là như thế: đến độ thí ban Con Một của Ngài, để phàm ai tin vào Người thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời (x. Ga 3,16).
“Thiên Chúa đã tỏ lòng yêu mến đối với chúng ta thế này: là Đức Giêsu Kitô đã chết vì ta, ngay lúc ta còn tội nhân” (Rm 5,8).
Vì Đức Giêsu đã mang ta vào trong mà chết, vì Người đã chết như thế, nên trong mọi nhà thờ của Hội thánh, chúng ta cử hành lễ giỗ của Đức Giêsu. Dân Chúa luôn giữ trong lòng niềm thâm cảm về Đức Giêsu là Đấng đã chết vì mình, và linh mục là người được cử ra để sáng chiều lo việc cúng giỗ.
Cũng như trong mọi lễ giỗ, chúng ta tưởng nhớ một người thân đã ra đi (Phụng vụ Lời Chúa), chúng ta dâng lời khấn nguyện (phụng vụ Tạ Ơn), chúng ta cùng ăn giỗ (rước lễ) trong tình gia đình hiệp nhất.
Nhưng khác với lễ giỗ, chúng ta không tưởng nhó một ai đó đã ngàn trùng xa cách. Chúa Giêsu không phải người của cõi âm, Chúa là Thái Dương. Chúa đến nói với ta lời bình an: “Thầy đây! Đừng sợ” (Ga 6,20).
“Thầy sẽ không bỏ anh em mồ côi, Thầy sẽ đến với anh em. Còn ít nữa, thế gian không còn thấy Thầy nhưng anh em thì thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sống” (Ga 14,18-19).
Thầy sẽ tái ngộ anh em, thì lòng anh em sẽ vui mầng và nỗi vui mừng của anh em không ai giật mất được (Ga 16,12).
Khi ấy và vì thế, Hội thánh loan báo niềm hy vọng cho con người và thế giới (x. Rm 8,24).
Qua ngày thứ năm, 28.02.2008, linh mục giảng phòng hướng dẫn và chia sẻ hai đề tài, đề tài thứ nhất về sứ vụ linh mục ngày nay, và đề tài thứ hai về Đức Mẹ.
Sứ vụ linh mục ngày nay
Sáng thứ năm, 28/2/2008, đề tài về sứ vụ linh mục ngày nay.
Hội thánh ở Việt Nam đang ở giữa một khối người, 93% chưa biết Chúa.
Đất nước và xã hội đang trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần, đặc biệt trong tầng lớp trẻ.
Đa số nhân dân là người nghèo, đang chật vật kiếm sống và khao khát sống.
Nhiều nạn nhân của tình trạng nghèo khổ bất công và tệ nạn xã hội.
Chính trong môi trường đó mà chúng ta được kêu gọi xây dựng linh đạo và nền văn minh tình thương và sự sống, đối đầu với nền văn minh sự chết.
Xã hội phát triển, kiến thức được nâng cao, người ta cũng có óc phê phán nhạy bén hơn, có thể “con chiên” không dễ bảo như trước.
Linh mục không chỉ cần kiến thức, cần biét cởi mở đối thoại, mà như lời các Đức Giáo Hoàng dạy, cần thi hành sứ vụ “chứng nhân”. Ngày nay, người ta trọng chứng nhân hơn thày dạy. Chính vì thế, bên cạnh những đòi hỏi nhân bản, cần về nguồn Lời Chúa, cần đón nhận Thần Khí cầu nguyện, cần một linh mục linh đạo có chiều sâu.
Mục vụ của chúng ta cũng nhằm biến các cộng đoàn của chúng ta thành cộng đoàn “chứng nhân”.
Chia sẻ đề tài về Đức Mẹ
Ban chiều ngày thứ năm, 28/2/2008, trong bài giảng cuối cùng, linh mục mục giảng phòng chia sẻ đề tài về Đức Mẹ như sau.
Đức Mẹ là mẫu gương và mẹ của linh mục. “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19).
Đức Mẹ là đấng ghi nhớ trong lòng Lời Chúa nói, việc Chúa làm, và suy đi nghĩ lại, trường kỳ, miên man, cho đến ngày giác ngộ.
Vì đã đứng ở đầu nguồn ơn cứu độ, được gội nhuần trong ơn cứu độ, Đức Mẹ trở nên Đấng hằng cứu giúp mọi người.
Đức Mẹ trong ánh sáng Phục sinh, hình ảnh của Hội thánh.
Nếu các ân huệ nơi Đức Mẹ lan toả ra khắp nơi, ta sẽ có Hội thánh.
Nếu tất cả các ân huệ của Hội thánh quy tụ nơi một người, ta sẽ có Đức Mẹ.