Lá Cờ Để Lại



Mến Tặng Đoàn Hành Hương “Dấu Chân Niềm Tin” 2005

Vũ Văn An

Gần đến giờ rời Phi trường Sydney, nhân viên hãng Harvest mới trao cho đoàn hai cán cờ, dù họ đã được yêu cầu cung cấp chúng từ cả tuần lễ trước. Có thể đây là một yêu cầu lạ lẫm chăng: ít có đoàn hành hương nào bận tâm về chuyện này, ngoại trừ đoàn hành hương người Úc gốc Việt. Dù sao, thì chậm vẫn còn hơn không. Cha trưởng đoàn trao hai cán cờ cho anh Đoàn Bảo Quốc. Không ai có thể chê trách gì được. Cái tên Bảo Quốc mà giữ cán cờ thì còn ý nghĩa nào bằng. Chỉ có điều lúc ấy đồ đoàn của anh Quốc đã được cân đo cả rồi. Hai cán cờ vì thế đành đi một mình trong một gói riêng.

Gần 24 giờ qua các chặng Singapore, rồi Dubai, sau cùng tới Cairo, người nào cũng mệt đừ. Gặp cái nóng Pharaoh, ai cũng vội vàng muốn chui vào khách sạn cho sớm. Đồ đoàn vì thế thu vội để còn lên xe bus. Hai cán cờ chờ mãi không thấy trên conveying belt. Hãng Singapore Airlines hứa bao giờ tìm thấy sẽ trao tận khách sạn! Bốn ngày sau, rời Cairo đi Frankfurt, hai cán cờ vẫn không xuất hiện. Một mất mát không quan trọng như người ta tưởng. Bởi hai lá cờ mang theo vẫn tung bay khắp chốn: bên cạnh tượng Sphinx, trong lòng Kim tự tháp, dưới lòng Kênh đào Suez, trên đỉnh Sinai, Horeb, cạnh giếng Êlia, dọc theo Biển Đỏ, vượt qua Phố Thị Tử Thần… Bốn mầu cờ lam trắng đỏ vàng ít khi ủ rũ vô hồn, mà hân hoan phấp phới như vẫy gọi, thúc hối các bước chân hành hương tiếp tục vượt đồi leo núi, mong gặp Gia-Vê Muôn Thuở.

Tới Frankfurt thì tác dụng thức ăn đồ uống của con cháu Rameses mới hiện rõ: đa phần khách hành hương được Tào Tháo hỏi thăm tận tình. Giọng cười tiếu lâm trên đường leo lên leo xuống Sinai bằng lạc đà bỗng đâu biến mất. Nhưng hai lá cờ thì vẫn tiếp tục tung bay, hướng dẫn đoàn bay một lèo từ Frankfurt qua Lisboa an toàn may mắn. Thánh Anthony chắc chẳng thắc mắc gì khi thấy đoàn người phương xa đến thăm, mang theo không phải một mà là hai lá cờ của hai đất nước khác nhau. Ngài vốn là đầu đề tranh chấp giữa Lisboa và Padua cho đến bây giờ. Người tours guide năn nỉ: đừng gọi ngài là Anthony of Padua (Ý đại lợi), bởi quê hương ngài là đây, là Lisboa (Bồ đào nha) kiều diễm! Quả tình người Bồ cũng có cái mất mát riêng của họ. Nhưng họ có Fatima với Vương Cung Thánh Đường Mân Côi và Quảng Trường lớn nhất thế giới Kitô giáo. Ở đấy bốn mầu cờ lam trắng đỏ vàng có lúc đã tung bay từ 5 giờ sáng, và đã cùng hàng chục ngàn người nối đuôi nhau sau tượng Đức Nữ Trinh, cùng hát khúc Ave, Ave Maria không theo điệu Lourdes mà điệu đặc biệt Fatima khác lạ. Rồi bốn mầu cờ này còn theo chân Lucia đến tận Coimbra, nơi bà trút hơi thở cuối cùng. Và từ đó đi Santiago de Compostela, nơi Santiago (Thánh Giacôbê) biến đồng hoang thành di tích văn hóa thế giới, nơi dừng chân sau cùng của muôn ức khách hành hương Âu Châu, vượt hàng ngàn cây số đường bộ, đến chiêm ngắm cây cột Trinh Nữ trao cho thánh nhân xây thành thánh đường tôn kính. Hàng ngàn người vì thế có lúc đã dừng hẳn lại để thắc mắc: chẳng biết những lá cờ này là những lá cờ gì. Chúng là cờ Australia và cờ Việt-Nam Tự Do! Về rở lại từ điển, may ra họ nhận ra lá cờ đầu. Lá cờ thứ hai, lạ hoắc.



Chẳng hệ gì. Lá cờ thứ hai mới tạo thành bản sắc đoàn hành hương này. Thực vậy, hơn 50 đoàn viên dù đã được cha trưởng đoàn cấp cho mỗi người một chiếc nón mầu lam nhạt để nhận diện nhau, nhưng họ nào có cao hơn ai, trong đám đông nhấp nhô, mất hút hết là chuyện thường, dù có đội màu nón sáng chói hơn nữa! Lạc nhau vì thế không hiếm. Mầu lam trắng đỏ có lúc không nói lên gì, nhất là lúc gặp các đoàn hành hương gốc Úc từ Sydney, Melbourne, Perth, Brisbane…Nhưng mầu cờ vàng đỏ thì không tài nào mất hút hay lẫn lộn được. Nó cứ tung bay trước gió dù trong các đường hẻm quanh co của Santiago trung cổ, hay giữa cánh đồng Marienfeld mênh mông của Cologne tân thời. Đoàn học thương nó là vậy! Thương nó ở Garabandal, ở Loyola, trên đỉnh Pyrénées, tại Lourdes giữa rừng cờ muôn mầu muôn sắc...

Cảm kích nhất là lúc ở Cologne. Thành phố một triệu dân này đâu có chỗ cho mọi đoàn hành hương. Đoàn Úc gốc Việt được chỉ định ngụ tại Dusseldorf, một thành phố dù lớn hơn và có khi quan trọng hơn cả Cologne về mọi phương diện, nhưng không phải là trụ sở chính diễn ra các biến cố của Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 20. Đức Bê-nê-đích-tô 16 không có chương trình thăm viếng thành phố này. Dù đã được thấy ngài mấy ngày trước tại Castel Gandolfo, đoàn vẫn muốn được thấy ngài lần nữa tại Cologne, lúc ngài từ Sông Rhine lên Nhà thờ chánh tòa, nơi để hài cốt Ba Vua Phương Đông đem từ Milan về những ngày Sydney chưa có tên trên bản đồ thế giới. Nhưng muốn tới Cologne, phải dùng xe lửa hay xe bus, đường dài chừng một tiếng đồng hồ. Điều ấy không hẳn đáng ngại. Cái đáng ngại là lượng người tuốn đến đó, đông như “kiến”! Cha trưởng đoàn không khích lệ những “người quá trẻ” như kẻ hèn này (gần 7 bó!) chen chúc với rừng người trẻ tại Dom (nhà thờ chánh tòa Cologne). Mà dù có khích lệ, thì lực cũng bất tòng tâm. Sau những chuyến đi vất vả xuyên qua gần mười quốc gia trước khi đến Đức, kẻ hèn này đành nằm cù kheo tại khách sạn, để bà xã đi Cologne đón đức Bê-nê-đich-tô 16, bên tai lúc nào cũng như vẫn còn nghe vọng lại tiếng tung hô Bê-nê-đích-tô! Bê-nê-đích-tô! âm vang khắp khu Castel Gandolfo ngày nào. John L. Allen Jr., cộng tác viên của hệ thống CNN, trong những ngày đức John Paul II qua đời và bầu giáo hoàng mới, đã cho rằng bất cứ ai được bầu đều được người Công giáo hoàn cầu yêu thương coi là giáo hoàng của họ. Phương chi là hồng y Joseph Ratzinger, người đã nhìn ra sự thật sau biến động của hậu thập niên 1960, nên đã vững tay lái tại Bộ Đức Tin gần hết quãng thời gian Đức John Paul II làm giáo hoàng. Bầu khí say sưa của Castel Gandolfo với đủ mầu cờ quốc tế mới tuần trước đây thôi đã minh chứng điều ấy. Vặn TV sẵn chờ xem chương trình trực tiếp truyền hình từ Dom vậy.

Điều đập vào mắt ông già gần 7 bó là rừng cờ tại khu vực quanh Dom. Cái tòa nhà hùng vĩ xây từ thời trung cổ kia đen đúa là thế, giờ đây bỗng rực lên muôn mầu muôn sắc, vẫy gọi người phương xa nhập vào khối người trẻ từ muôn phương đổ về. Nhưng nhìn mãi vẫn không thấy mầu cờ vàng đỏ. Chả lẽ cán cờ mua ở Santiago lại không đủ cao? Lạ thật. Hay vì đến trễ mà đành đứng ở xa xa. Popemobile đã làm mấy vòng. Mà mầu cờ vàng đỏ vẫn biệt tăm! Càng giận hơn nữa, khi khám phá ra cái tinh thần parochial của mình. Chả lẽ lại hẹp hòi đến không vui chỉ vì không thấy mầu cờ vàng đỏ? Giáo hoàng vốn đâu phải của riêng ai! Giận luôn cả đoàn chậm chạp! Nhưng rồi kìa, mầu cờ vàng đỏ bỗng rõ mồn một trên màn ảnh truyền hình Nước Đức và cứ thế nhấp nhô theo popemobile cho đến gần cuối chương trình. Thật là hả hê. Quả mình không tệ!

Có điều, lúc bà xã trở về, tính khen ngợi một câu, nào ngờ bà ấy thõng thượt: chen ơi là chen mà nào đâu thấy giáo hoàng! Ủa, vậy cờ của ai? Thấy rõ mồn một, lòng những mừng thầm: quả mình không tệ! Nào ai biết, có thể của San Jose. Mấy hôm sau, mới rõ, chẳng riêng người Úc gốc Việt, mà người Pháp, người Anh, người Hòa Lan, người Đức… gốc Việt, ai cũng có mầu cờ vàng đỏ cả. Trong số ấy, hình như cán cờ San Jose cao hơn hết, hơn hết mọi cán cờ trong rừng cờ tại Marienfeld ngày kết thúc Đại Hội.

Ấy thế nhưng không phải người Việt nào trên đường hành hương cũng đón chào mầu cờ vàng đỏ! Sau Lourdes, đoàn bay đi Berlin để nhìn lại dấu vết Bức Tường phân cách. Hết 99% đã được gỡ đi và phân phối khắp nơi làm kỷ vật. Fatima được một mảng, dựng ngay cạnh quảng trường như một nhắc nhớ sợi dây vô hình nối kết xứ điệp Fatima và sự xụp đổ Bức Tường phân cách. Cộng đoàn công giáo Việt-Nam tại Berlin có ông cha người Đức làm tuyên úy thật duyên dáng, thân thiện. Giọng tiếng Việt điêu luyện và cái tên Lê-Phan (Stephane) thân quen kéo ngay được cảm tình nồng hậu của đoàn. Chưa hết, cộng đoàn này còn là cộng đoàn duy nhất đã không để đoàn tạm biệt dễ dàng. Tình lưu luyến của họ sau thánh lễ đồng tế đã làm đoàn phải trả thêm 250 đồng Euro cho tài xế xe bus đứng đợi! Nhưng Berlin là nơi phức tạp, một thành phố có cả Charlie Check Point (Mỹ) lẫn cửa hoàn môn Sô-Viết, có cả người Việt đi tìm Tự Do, lẫn người Việt không Tự Do đi tìm kinh tế. Đoàn được báo động đề phòng. Nhưng mầu cờ vàng đỏ vẫn cứ tung bay, hiên ngang như ở nhà mình, chẳng chút e dè giữ kẽ! Thách thức đã đành. Nhưng còn tình đồng đạo?

Còn nhớ lúc ở Lourdes, không buổi sáng nào đoàn không cử hành thánh lễ tại hang Massabielle, dĩ nhiên bằng tiếng Việt. Chưa đủ, hai lá cờ mang theo luôn luôn tung bay trong các thánh lễ ấy. Không thể lầm lẫn được bản sắc đoàn hành hương này. Quả là cảm động giữa cái khung cảnh hết sức quốc tế này, nơi hàng chục ngàn khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới tụ họp hàng ngày, lại nghe được những lời kinh, lời thánh, những bài hát mẹ đã hát thừ thời con gái, cha đã đọc từ lúc còn là con trai. Thuần túy dâng lên Đấng Tối Cao như một tạ ơn, thiếu sót mà chân thành, âm ấm mà hết dạ, để cầu cho gia đình, tổ quốc, bất phân Bắc Nam. Người dù Bắc, người dù Nam, ai nghe thấy cũng nhập vào, cũng tụ lại, cũng hòa một âm, cũng rung một điệu. Cái gia giá sớm mai của sông Pau đã trở thành ấm cúng, nhất là sau Hiệp Lễ. Nhưng Hiệp Lễ cũng là lúc người ta nhìn ra mầu cờ vàng đỏ, được hai đoàn viên nghiêm cầm cạnh Hang. Hai cô gái Bắc vội làm dấu Thánh Giá rồi rút lui. Họ từ Hà-Nội qua kính viếng Mẹ Lộ Đức. Tốn đấy. Nhìn cách ăn mặc, đủ thấy hy sinh. “Vui quá bác ạ, được dự thánh lễ Việt-Nam. Bọn cháu đến đây đã mấy hôm rồi, nay mới dự được một thánh lễ cảm động!... Không, không đi đâu hết, chỉ tới Lộ Đức rồi về thôi, bác ạ”. “Sao không ở lại một chút chuyện trò cho vui?” Hai cô chỉ nhìn nhau cười.

Mấy tuần sau, tại nhà thờ St Elizabeth, Bonn, giới trẻ Việt-Nam, chật ních nhà thờ, cùng nắm tay nhau hát bài “Nối Vòng Tay Lớn” và “Việt-Nam, Việt-Nam nghe từ vào đời” say sưa như chưa từng có, ngây ngất như chưa từng hay. Họ từ khắp miền Việt-Nam và khắp nơi trên thế giới tụ về. Nhưng lúc ấy, họ chỉ biết họ là người Việt-Nam, người Công giáo Việt-Nam, đến đây để nói lên đức tin của mình, một gia tài không những chung cho họ, cho tổ tiên anh hùng của họ, mà còn cho cả hàng triệu tuổi trẻ Công giáo hoàn cầu đang có mặt tại Cologne và các vùng lân cận trong những ngày này. Một bà nào đó cảm hứng quá, bỗng nắm lấy mầu cờ vàng đỏ của đoàn, dơ cao vẫy mừng. Một MIB (man in black) bèn vội giật lá cờ xuống cất đi. Sự kiện diễn biến rất nhanh. Nhưng cũng rất nhanh nói lên rất nhiều. Ba giám mục, một trăm linh mục và hơn trăm tu sĩ cùng cả ngàn giới trẻ Việt-Nam hôm đó có thể không thấy diễn biến đó. Nếu thấy, chắc không thể không cầu nguyện để một ngày nào đó, không những họ có thể cùng hát chung, mà còn có thể cùng vẫy chào một lá cờ, bất kể họ từ Sàigòn hay Hà Nội, Đông hay Tây Berlin, Moscow hay Washington D.C. Và không còn cảnh người vẫy kẻ giật như ở Bonn, không còn cảnh nửa gần nửa xa như ở Lourdes.

Sau Cologne, đoàn bay qua Split, Croatia để từ đó đáp xe bus đi Medjugorje, Bosnia. Cả hai cựu thành viên của Yougoslavia này đều kinh qua thời kỳ khiếp đảm của nội chiến đẫm máu. Họ hiểu hơn ai hết giá trị của màu cờ, những mầu cờ được duy trì bằng máu, trở thành vô giá, thánh thiêng. Người Úc muốn thay thế màu cờ của mình từ lâu. Cái khuôn hình Union Jack của một quốc gia xa xôi cả về địa dư lẫn lịch sử chình ình nằm trên lá cờ làm họ nhức nhối, muốn cắt bỏ. Nhưng nào cắt bỏ được. Dù các chiến binh Anzac chưa bao giờ dùng cờ Úc xông vào trận tiền Gallipoli, nhưng lá cờ này ít nhất cũng tung bay tại Nam Hàn, tại Việt-Nam, tại vùng Vịnh, thấm khá nhiều máu đào con cháu họ, tượng trưng cho niềm hãnh diện, sự trưởng thành từ những lãnh thổ thực dân thành một quốc gia có thứ hạng. Nào ai dám thay, nào ai dám đổi? Medjugorje (đọc là Mét-du-go-rê) nằm gọn giữa vùng đồi núi, cây cỏ xanh tươi, là nơi Đức Mẹ bắt đầu hiện ra với 6 thiếu niên năm 1981 và nay vẫn tiếp tục hiện ra với một số trong 6 người này. Sau những ngày vất vả ngược xuôi giữa Dusseldorf, Bonn và Cologne trong rừng người muôn nước đổ về tuần lễ Giới Trẻ Thế Giới, nhất là ngày bế mạc, phải vất vả lắm, mới thoát ra khỏi khối người hơn triệu cùng một lúc tuốn ra các ngả Marienfeld, Medjugorje quả là thanh thản. Ngôi làng ấy, mười mấy năm trước, chỉ lác đác mấy chục căn nhà, giờ đây đã thành một phố thị sầm uất, người đi kẻ lại tấp nập, không lúc nào ngơi. Tất cả nhờ Đức Mẹ. Hình như Người đang lấy dần khách hành hương của Fatima đem về đây. Fatima ngày trước tấp nập là thế. Nhưng cái quảng trường trước đây chứa được cả triệu khách hành hương, nay đang được thu nhỏ dần, hết phân nữa được vây lại làm nền cho nhiều kiến trúc mới, không biết để làm gì. Đứng trên tiền đình Vương Cung Thánh Đường Mân Côi nhìn xuống, quảng trường ấy nay giống như một sân đá banh bị cắt một nửa. Nhà Nguyện Hiện Ra, dù là tối thứ bẩy, cũng chỉ có số người tham dự bằng số người tham dự thánh lễ ngày thường tại Medjugorje. Thánh lễ ngày nào tại Medjugorje cũng là thánh lễ quốc tế, với hàng trăm linh mục khắp các quốc gia đồng tế. Dù tại đây không có cảnh các tín hữu bò từ cuối quảng trường bò vào Nhà Nguyện Hiện Ra như ở Fatima, nhưng những buổi Chầu Thánh Thể sốt sắng hàng đêm bao giờ cũng thu hút số tín hữu đông đảo. Dù cho đến nay, Hội Đồng Giám Mục Yougoslavia trước đây và Bosnia hiện nay chưa công nhận biến cố này là siêu nhiên. Một phần chắc chắn vì biến cố này chưa hoàn tất. Hàng đêm, Vicka và Ivan, mỗi người mỗi nơi, vẫn được thị kiến riêng Đức Mẹ. Đoàn được nghe cả hai người này nói chuyện. Người nghe chăm chú nghe họ, coi họ như những vị thánh, mặc dù họ nhấn mạnh họ không thánh chút nào, họ chỉ là dụng cụ của Đức Mẹ. Cả Vicka lẫn Ivan đều đã lập gia đình riêng, có con cái, và làm ăn như bất cứ ai trong vùng. Phải chăng các tiên tri thời nay mặc lại khuôn mạo các tiên tri Cựu Ước, được chọn bất ngờ, ngoài ý muốn của mình, bất chấp thiếu sót bản thân. Nhất định họ khác với mẫu tiên tri của Lourdes, của Fatima, nơi các thị nhân đều trở thành tu sĩ. Đoàn chúng tôi cũng đã tới Garabandal, Tây Ban Nha, nơi Đức Mẹ hiện ra với bốn thiếu nữ. Cả bốn nay đều lập gia đình, trong đó hết ba lấy người Mỹ. Biến cố Garabandal (từ 1961) cũng chưa kết thúc vì còn chờ Phép Lạ Vĩ Đại sẽ xẩy ra một ngày gần đây. Và do đó cũng chưa được giáo quyền công nhận. Khác một điều là ở Garabandal, lúc đoàn chúng tôi tới, chỉ lác đác thêm được hơn chục khách hành hương từ Ireland, không có buổi nói chuyện hay nghi thức sùng kính công cộng nào. Còn tại Medjugorje, sinh hoạt đạo đức không lúc nào ngưng. Các khách sạn lúc nào cũng đầy người, và người ta vất vả lắm mới có một chỗ đứng hay ngồi để nghe Vicka và Ivan nói chuyện. Chụp hình chung với họ là chuyện ngoài tầm tay, không có. Ngay cả những buổi nói chuyện của Cha Jojo, cha xứ trước đây của Medjugorje, người khởi đầu không tin, nhưng sau tin hết mình, tại nhà thờ của cha cách Medjugorje nửa giờ xe bus, bao giờ cũng đông nghẹt, đến nỗi đoàn chúng tôi phải “nghe lén” bên ngoài.

Quanh khu vực nhà thờ giáo xứ Medjugorje và Lễ Đài Quốc Tế là những hàng cột cờ thẳng tắp, trên đó từng cụm cờ các quốc gia tung bay phấp phới. Một đặc điểm chỉ ở Medjugorje mới có. Điều ấy dễ hiểu như trên đã nói. Bosnia mới thoát thai thành quốc gia độc lập với Hiệp Ước Dayton 1995 ký giữa Serbia, Bosnia và Croatia tại Ohio, Hoa Kỳ, sau nhiều năm nội chiến đẫm máu, trong đó gần 300,000 người Bosnia, trong số hơn 4 triệu dân, bị giết và 2 triệu người di cư. Họ hiểu giá trị mầu cờ. Họ chào đón mầu cờ muôn nơi. Đối với họ, lá cờ không chỉ là đồ trang trí, cũng không chỉ là biểu tượng của một quốc gia, nó là hồn thiêng sông núi, là tiếng vẫy gọi của non sông. Đoàn hành hương Úc gốc Việt tha hồ để các mầu cờ của mình tung bay. Gió tại Medjugorje thật dịu hiền, vẫn đủ làm các mầu cờ thoải mái vươn dài, vươn cao. Chỉ còn một ít ngày nữa, đoàn sẽ qua Hoa Kỳ và từ đó chia tay nhau mỗi người đi một ngả, trước khi trở lại Sydney. Làm gì với mầu cờ bản sắc? Mầu cờ đã cùng mình qua khắp Singapore, Dubai, Cairo, Sinai, Frankfurt, Lisboa, Fatima, Coimbra, Santiago de Compostela, Garabandal, Loyola, Lourdes, Berlin, Izmyr, Kusadasi, Ephesus, Patmos, Creta, Santorini, Corinth, Athens, Rome, Dusseldorf, Bonn, Cologne, Medjugorje? Để lại Medjugorje được mọi người tán thành ngay. Medjugorje còn thiếu có nó. Thế là, trong thánh lễ sau cùng tại Nhà Nguyện Hiện Ra, mọi người đều thành kính, qùy trước bàn thờ, đặt chữ ký của mình trên màu cờ vàng đỏ, từ cha chủ tế Văn Chi, cha đồng tế Quang Thi, sơ trợ úy Linh Lê đến người trẻ nhất trong đoàn là Tường Vân, người có lẽ chưa sinh ra lúc mầu cờ này tung bay trên Thành Quảng Trị, tượng trưng cho cuộc trường kỳ kháng chiến chống lại họa xâm lăng miền Bắc của cả Việt-Nam Tự-Do cũng như tung bay trên những con thuyền mỏng manh giữa trùng khơi Biển Đông của những con người nhất định không chịu sống với bọn tráo trở chuyên phục vụ ngoại bang mà quên cả hồn thiêng sông núi. Ban lãnh đạo khu vực đền thánh Medjugorje rất hân hoan tiếp nhận màu cờ vàng đỏ và khi chiếc xe bus chở đoàn lăn bánh trên đường đi Dubrovnik, mầu cờ ấy đã tung bay trên cột cờ phía trước Thánh Đường Medjugorje. Hy vọng một mai, có những đoàn hành hương… gốc Việt khác, biết thay thế màu cờ này khi nó tàn phai, để mầu cờ vàng đỏ mãi mãi bên Mẹ dịu hiền như lời khẩn cầu tha thiết cho một Việt-Nam Tự Do bất hủ.