LỊCH SỬ TRUYỀN GIÁO VÙNG NAGASAKI
Nhân dịp ĐHY Phạm Minh Mẫn và phái đoàn viếng thăm Nhật Bản từ ngày 25-30/3/2007, VietCatholic có nhờ viết tóm gọn về lịch sử Truyền Giáo tại Nhật Bản và nhất là tại Nagazaki, hầu độc giả có thể nhân cơ hội này tìm hiểu về công cuộc truyền giáo tại Nhật và những phấn đấu, những thử thách và những chặng đường thành công, giai đoạn lớn lên của Giáo Hội tại Nhật Bản ra sao. Do đó chúng tôi xin tóm ta71t những sự kiện căn bản nhất về ciệc truyên2 giáo tại đây như sau:
THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ, NGƯỜI GIEO GIỐNG:

Thánh Phanxicô Xaviê quả thật là người gieo giống đức tin đầu tiên cho giáo phận Nagasaki. Vào cuối tháng 8 năm 1550, Thánh Phanxicô Xaviê đến tỉnh Kagoshima và sau đó đến Hirado bắt đầu truyền giáo. Ngài đã rửa tội cho một số dân làng ở đó. Sau đó, cha Cosme de Torres được trao phó trông coi cộng đoàn công giáo ở đây. Cha Barthbasar Goga, cha Gaspar Vilela và thầy Luiz de Almeida hướng dẫn các cộng đoàn. Bấy giờ Gia đình Koteda được rửa tội và họ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng thánh đường công giáo đầu tiên tại Hirado, ngôi nhà thờ này vẫn còn tồn tại cho tới bây giờ.Sau đó cha Torres và thầy De Almeida phát triển công việc truyền giáo đến các vùng Yokoseura, Shinabara và Kuchinotsu. Vào năm 1562 Omura Sumitada được rửa tội tại Yokoseura, trở thành vị lãnh chúa công giáo đầu tiên tại Nhật. Vào thời kỳ này, hải cảng Yokoseura bị phá hủy, do đó cha Torres phải dời về Kuchinotsu.
Vào năm 1565, thầy De Almeida và thầy Lorenzo bắt đầu truyền giáo ở đảo Goto và 2 nhà thờ đã được xây dựng ở Fukue và Okuura.
Vào năm 1567, thầy Almeida đến Nagasaki, và được Nagasaki Jinzaemon, một tín hữu và là lãnh chúa của Omura Sumitada, cho một khoảng đất và một ngôi chùa Phật giáo. Nhà thờ đầu tiên ở Nagasaki, dâng kính các Thánh, được hoàn tất vào năm 1569. Vào mùmu2xuan năm 1570, thầy Torres bắt đầu sống trong ngôi nhà thờ “nhỏ bé nhưng xinh đẹp”.
20 năm sau khi thánh Phanxicô đến Hirado, việc truyền giáo đã được bắt đầu trong một vài nơi ở Nagasaki.
VIỆC XÂY DỰNG HẢI CẢNG NAGASAKI VÀ NHÀ THỜ TRONG VÙNG
Vào năm 1579, Omura Sumitada quyết định thành lập hải cảng Nagasaki để buôn bán, ông ra lệnh cho viên tùy tùng là Tomonga Tsushima xây dựng 6 thành phố. Trên miền đất dự tính xây dựng hải cảng (hiện nay là khu đất của tòa thị chính), cha Figuereido đã xây một nhà thờ nhỏ được gọi là “nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời”, dần dần nó phát triển rộng lớn đến độ được gọi là trung tâm của các nhà thờ ở Nhật.Vào năm 1580, Omura Sumitada đã dâng cúng khu đất trung tâm của vùng Nagasaki và làng Mogi cho Dòng Tên, và Nagasaki đã được phát triển với việc nhiều nhà thờ được xây dựng. Vào năm 1583 Nhóm Misericordia Benevolent đã được thành lập và trụ sở được đặt tại Kozenmachi. Vào năm 1584, Arima Harunobu, cũng là người công giáo, đã dâng cúng khu đất của ông ở Urakami cho các cha dòng Tên. Dân số người công giáo trong làng Urakami đã được tăng số.
Việc nới rộng nhà thờ trong vùng đã được bắt đầu, vì nó đã trở thành quá nhỏ. Nhà thờ đã phải ngưng xây cất vì lệnh cấm đạo của Toyotomi Hideyoshi, nhưng rồi cũng được hoàn tất vào năm 1590. Nhưng 2 năm sau đó, nhà thờ đã bị tàn phá theo lệnh của Hideyoshi. Sau đó nó lại được xây lại vào năm 1593. Trụ sở chính của dòng Tên cũng được xây bên cạnh đó, và đã được dùng làm nhà thờ chính tòa của vị Giám Mục đầu tiên tại Nhật, Đức Cha Pedro Martins.
Năm 1592 Bệnh Viện Thánh Lazaro được nhóm Misericordia thành lập tại Uwamachi. Cùng lúc đó, một bệnh viện Thánh Lazaro khác được thành lập ngay tại lối vào Urakami, cả 2 bệnh viện đều có nhà nguyện riêng.
Vào ngày 05 tháng hai năm 1597 Nagasaki chứng kiến 26 vị tử đạo, ngọn đồi Nishizaka, nơi nhuộm máu các vị tử đạo, được gọi là “ngọn đồi thánh” hay “đồi tử đạo” và được biến thành công viên đầu tiên của Nagasaki.
Vào năm 1598, năm mà Hideyoshi qua đời, Vị Giám Mục mới, Đức Cha Luis de Cerqueira và cha Valignani được thuyên chuyển tới Nagasaki. Gần bên cạnh nhà thờ, tòa giám mục và chủng viện đã được xây dựng, cũng như nhà thờ cũng được tân trang låi. Vào năm 1601, Đức Cha Cerquiera đã thánh hiến nhà thờ, cũng trong thời gian đó, các nhà thờ xinh xắn đã được dựng lên tại Omura và Arina.
THỜI VÀNG SON CỦA CÁC NHÀ THỜ Ở NAGASAKI
Thời gian 13 năm từ 1601 đến 1614 là thời vàng son của các nhà thờ ở Nagasaki. Trong thời gian này 7 linh mục triều người Nhật đã được truyền chức và các nhà thờ sau đây đã được xây cất: Nhà thờ Đức Mẹ Maria ở trên Đồi, Nhà thờ Thánh Gioan Tẩy Giả (bây giờ là Chùa Phật giáo Honrenji), nhà thờ thánh Antôn (ở Handaikumachi), nhà thờ thánh Phe6ro (ở Imamachi) tất cả đã được xây vào năm 1607.Vào năm 1609, nhà thờ thánh Larenso đã được xây dựng dành ch người công giáo Đại Hàn.
Các nhà dòng cũng đã xay cất những nhà thờ của họ ở Nagasaki: nhà thờ thánh Đaminh của các cha Đaminh xây năm 1609, nhà thờ thánh Phanxicô ở Kurusu machi và nhà thờ thánh Augustinô ở Motofurukawamachi được xây cất bởi các cha dòng Phanxicô vào năm 1511.
THỜI KỲ BÁCH HẠI
Một cuộc bách hại kinh khủng bất ngờ đã bao phủ những ngày vinh quang của Nagasaki. Vào năm 1612 các thừa sai ở Arima bị trục xuất và chủng viện phải dời về nhà thờ Các Thánh. Chủng viện đã được mở rộng và tân trang, thí dụ, nguyện đường kính các tử đạo đã được xây dựng và trở thành nơi hành hương. Vào năm 1614, chính quyền Tokugawa ra lệnh cấm đạo khắp trên nước toàn Nhật, và các nhà thừa sai tề tựu về Nagasaki.
Takayama Ukon, Naito Tokuan và gia đình bị đuổi ra khỏi vùng Kanazawa. Các nữ tu cũng dồn về Nagasaki. Vào tháng 4, một cuộc kiệu rước sám hối để cầu xin ơn thương xót đã được tổ chức, nhưng các vị thừa sai và giáo dân đã trốn sang Macao và Manila tất cả. Các nhà thờ ở Nagasaki đã bị tàn phá và nhiều tín hữu đã tử đạo tại Arima và Kuchinotsu. Các cuộc bắt dạo xảy ra tại Omura vào năm 1617 và ở Nagasaki vào năm 1619. “Kurusu-ro” hay “nhà tù thánh giá” đã được dựng lên tại địa điểm của nhà thờ thánh Phanxicô, ở đó các vị thừa sai và giáo dân bị giam cầm. Họ bị điệu đến đồi Nishizaka và bị hành quyết tại đó. Cũng có những cuộc bắt đạo lớn ở Nagasaki vào năm 1633.
GIÁO HỘI HẦM TRÚ
Cuộc nổi dậy của Shimabara xảy ra từ năm 1637 đến 1638 và các nhà thờ ở Arima đã bị tiêu hủy. Các Kitô hữu trốn chạy về các làng Urakami, Nishisonogi, Hirado và sống hầm trú để bảo vệ đức tin. Các cuộc bách hại được gọi là “Kuzure” để đánh dấu từng thời kỳ. Vào năm 1658 “Omura Kuzure”, năm 1790 “cuộc bách hại đầu tiên ở Urakami”, năm 1839 “cuộc bách hại thứ hai ở Urakami”, và từ năm 1867 đến năm 1873 “cuộc bách hại thứ tư ở Urakami” đã xảy ra. Những cuộc đàn áp ở đảo Goto và vùng Mitsuyama của vùng Omura xảy ra vào cùng thời với cuộc bách hại cuối cùng.