ĐÂU RỒI ‘SỨ MỆNH NGÔN SỨ’ CỦA GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM
I. A-mốt và ơn gọi ngôn sứ :
Ai cũng biết, vào thế kỷ thứ VIII trước Công Nguyên, ở miền Nam đất nước Ít-ra-en (tức vương quốc Giu-đa) có một vị ngôn sứ tên là A-mốt. Cho dù bằng thái độ khiêm hạ, vị ngôn sứ “chân quê” nầy đã chẳng tự cho mình là ngôn sứ :
“Tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Đức Chúa đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn vật, và Đức Chúa đã truyền cho tôi : “Hãy đi tuyên sấm cho Ít-ra-en dân Ta.”
Và cũng từ nơi môi miệng của ông, chúng ta biết rằng : mục tiêu của “sứ mệnh Tiên Tri” mà Thiên Chúa muốn A-mốt nhắm tới đó chính là cảnh báo về thảm họa sắp xảy đến do tình trạng suy đồi về xã hội và tôn giáo của đất nước It-sra-en và tiên báo về một niềm hy vọng ngày mai được phục hưng tươi sáng :
a/. Về bối cảnh xã hội : Một thời đại đầy dẫy bất công, gian xảo, chính quyền đồi trụy, biến chất :
“Đức Chúa phán thế nầy : Vì tội của Ít-ra-en đã lên tới cực độ, Ta sẽ không rút lại bản án. Vì chúng bán người công chính để lấy tiền, bán kẻ nghèo khổ với giá một đôi giày. Vì chúng đạp đầu kẻ yếu thế xuống bùn đen và xô người khiêm hạ ra khỏi đường lộ”… (Am 2,6-7)
“Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. Các ngươi thầm nghĩ : “Bao giờ ngày mồng một qua đi, cho ta còn bán lúa; bao giờ mới hết ngày sa-bát, để ta bày thóc ra ? Ta sẽ làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm; Ta sẽ làm lệch cán cân để đánh lừa thiên hạ. Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ; cả lúa nát gạo mục, ta cũng đem ra bán.” (Am 8, 5-6)
“Khốn cho những kẻ sống yên ổn tại Xi-on, và sống an nhiên tự tại trên núi Sa-ma-ri, họ là những nhà lãnh đạo của dân đứng đầu các dân khiến nhà Ít-ra-en phải đến cầu cạnh. Chúng nằm dài trên giường ngà, ngả ngớn trên trường kỷ, mà ăn những chiên non nhất bầy, những bê béo nhất chuồng. Chúng đàn hát nghêu ngao; như Đa-vít, chúng dùng nhạc cụ mà sáng tác. Chúng uống rượu cả bầu, xức dầu thơm hảo hạng, nhưng chẳng biết đau lòng trước cảnh nhà Giuse sụp đổ !” (Am 6, 1-6)
b/. Về bối cảnh tín ngưỡng-tôn giáo : một tôn giáo biến chất, vụ hình thức và đánh mất căn tính đích thực là thực thi điều lành lánh xa điều dữ :
“Lễ lạt của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường; hội hè của các ngươi, Ta chẳng hề thích thú. Các ngươi có dâng lên Ta của lễ toàn thiêu…những lễ vật của các ngươi, Ta không vui nhận, chiên bò béo tốt các ngươi đem hiến tế, Ta chẳng đoái hoài. Hãy dẹp bỏ tiếng hát om sòm của các ngươi, Ta không muốn nghe tiếng đàn của các ngươi nữa. Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn” (Am 5, 21-24)
c/. Về thảm họa sắp xảy đến :
“Vì vậy, Đức Chúa phán thế nầy : “Vợ ngươi sẽ đi làm điếm trong thành phố, con trai con gái ngươi sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, lãnh thổ ngươi sẽ bị phân chia từng mảnh, còn ngươi, ngươi sẽ chết trên một miền đất ô uế, và Ít-ra-en sẽ bị đày xa quê cha đất tổ”. (Am 7,17)
“Ta sẽ biến lễ lạt của các ngươi thành tang tóc, mọi bài hát của các ngươi thành khúc ai ca; Ta sẽ bắt mọi người phải quấn vải thô và mọi mái đầu đều phải cạo trọc. Ta sẽ làm cho đất nầy chịu tang như người ta chịu tang đứa con một và kết cục của nó như một ngày cay đắng…Ta sẽ gieo nạn đói trên xứ nầy, không phải đói bánh ăn, cũng không phải khát nước uống, mà là đói khát được nghe lời Đức Chúa…” (Am 8,10-11)
d/. Viễn tượng một ngày mai tươi sáng :
“Trong ngày ấy, Ta sẽ dựng lại lều xiêu vẹo của Đa-vít, bít kín các lỗ hổng của tường thành, tái thiết những gì đã tan hoang, xây dựng nó như những ngày xưa cũ…Nầy đây sắp đến những ngày – sấm ngôn của Đức Chúa- thợ cày nối gót thợ gặt, kẻ đạp nho tiếp bước người gieo giống; núi đồi sẽ ứa nước ra nước cốt nho, và mọi gò nổng sẽ tuôn chảy. Ta sẽ đổi vận mạng Ít-ra-en dân Ta : chúng sẽ tái thiết những thành phố điêu tàn và định cư ở đó; chúng sẽ uống rượu vườn nho mình trồng, ăn thổ sản vườn mình canh tác. Ta sẽ trồng chúng lại trên đất xưa chúng ở, và chúng sẽ không còn bị bứng đi khỏi thửa đất Ta đã ban cho chúng…” (Am 9,11.13-14)
Nếu chúng ta tin rằng : Lời Chúa không phải chỉ nói cho một thời đại, cho một dân tộc, mà cho muôn thế hệ, muôn con người muôn nơi muôn thuở, thì những lời của sứ ngôn A-mốt trên liệu còn có thể rọi sáng gì cho bối cảnh Đất Nước Việt Nam, Hội Thánh Việt nam hôm nay không ? Nói cách khác, những người kitô hữu Việt Nam liệu có tìm được bài học ích lợi và cần thiết nào trong sứ điệp của Lời Chúa, đặc biệt những lời trong sách sứ ngôn A-mốt vừa được nhắc đến không ?
Trong ý thức trách nhiệm của những người con cái trong gia đình Giáo Hội, xin được chia sẻ đôi cảm nhận riêng tư, như một chút đóng góp nhỏ nhoi trong nỗ lực cùng nhau xây dựng Quê hương và Hội Thánh Việt nam, đặc biệt trong bối cảnh HĐGMVN đang chuẩn bị cuộc họp thường niên tại Huế.
II. Đâu rồi “Sứ mệnh ngôn sứ” của Giáo Hội Việt nam ?
Trong những năm vừa qua, và đặc biệt, trong thời gian diễn ra chiến dịch “Góp Ý” cho “Dự thảo Đại Hội Đảng X” của Đảng Cọng Sản Việt nam, chúng ta từng gặp thấy những ý kiến của đông đảo đồng bào bao gồm nhiều thành phần trong cũng như ngoài nước mạnh mẽ mổ xẻ các vấn đề đang làm trăn trở, ưu tư bao tâm hồn còn “nặng nợ” với non sông đất nước, với tiền đồ của Dân tộc, với tuơng lai của Tổ Quốc Việt nam thân yêu :
-Về sự lạc hậu trơ trẻn của ý thức hệ Mác-Lê trong trào lưu tiến bộ vượt bậc của thế giới. ([1])
-Về những tội ác và ảnh hưởng độc hại của chủ nghĩa Cọng sản trên toàn thế giới. ([2])
-Về những hạn chế và yếu kém, suy đồi và bất lực của guồng máy và cơ chế xã hội “Xã hội chủ nghĩa” trong toàn bộ định hướng kinh tế, chính trị, xã hội của Đất Nước. ([3])
-Về sự tồn tại một thể chế độc đảng, độc tài tai hại, ngược dòng lịch sử và thiếu vắng một Nhà nước pháp quyền, dân chủ phù hợp với văn minh con người. ([4])
-Về những khát vọng tự do, dân chủ và xóa bỏ hận thù ý thức hệ, đấu tranh giai cấp để tạo nên sức mạnh tổng hợp xây dựng và bảo vệ Đất Nước. ([5])
-Về những di chứng tai hại khủng khiếp của nền giáo dục duy vật-vô thần Mác-Lê đã đẩy các thế hệ giới trẻ và gia đình Việt nam vào con đường mất định hướng và suy đồi đạo đức…([6])
Trong số những ý kiến đóng góp đầy can đảm và mạnh mẽ trước những chuyên đề cốt yếu mang tính sống còn cho tiền đồ của Đất Nước đó, chúng ta gần như không thấy tiếng nói chính thức của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, của Hội Thánh Công giáo Việt Nam. Đành rằng, trong số những nhà trí thức, nhà báo, những nhà tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền đó cũng có những linh mục công giáo, giáo dân công giáo. Tuy nhiên, với một tiếng nói chính thức đại diện cho một cộng đoàn Dân Chúa với 6 triệu tín đồ, đại diện cho một Hội Đồng Giám Mục ngang tầm với các HĐGM các quốc gia trên thế giới, thì những ý kiến đó, những đóng góp đó sẽ có đầy đủ uy tín và tác dụng tích cực hơn; nhất là sẽ làm bật nổi vai trò ngôn sứ của Giáo Hội Việt nam trước thời điểm quan trọng ảnh hưởng đến tương lai và vận mệnh của Đất Nước.
Có người cho rằng : đó chính là sự “khôn ngoan của Các Đấng”; cũng có người cho rằng: Đụng đến các vấn đề “nhạy cảm” đó, chỉ tổ gây rắc rối cho sinh hoạt mục vụ, làm mất đi mối quan hệ hài hòa tín cẩn vốn có xưa nay giữa Giáo Hội và Nhà nước…Cũng vì những lý do “lợi bất cập hại” đó mà Giáo Hội đành “giữ im lặng” để “được việc cho mình”.
Tuy nhiên, chính vì lý do “im lặng để được việc cho mình” như thế mà Giáo Hội đã và đang có nguy cơ bị gán ghép cho là có lập trường không rõ ràng. Đặc biệt, các Giáo Hội như Phật Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành sẽ cảm thấy rằng, Giáo Hội Công Giáo không còn đồng hành với họ trong một tiếng nói chung để tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo; những dân tộc ít người miền Tây nguyên bị đàn áp cảm thấy Giáo hội đã bỏ rơi họ để giữ được cái lợi cho riêng mình; những người nông dân chân lấm tay bùn cảm thấy Giáo Hội hoàn toàn xa lạ với những nổi bất công, khổ cực mà họ phải đối diện từng ngày; những anh chị em công nhân cảm thấy Giáo Hội mất hút đàng xa trong những tháp ngà kiên cố nguy nga với lễ nghi xa hoa long trọng chứ không hề nếm trãi những đắng cay và bất công chua xót của họ trên những công trường, trong những công ty xí nghiệp. Những người trí thức tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, tự do, những nhà bất đồng chính kiến, những tù nhân lương tâm cảm thấy đang chiến đấu đơn độc…không tìm được chỗ dựa tinh thần và hỗ trợ liên đới nơi Giáo Hội Công giáo, vốn là một tập thể vẫn từng phát biểu là “Giáo Hội của người thấp cổ bé miệng, là Giáo Hội luôn bênh vực và đứng bên cạnh người nghèo…”. Trong khi đó phần đông những người Việt hải ngoại thất vọng vì những thái độ không rõ ràng của Giáo Hội tại quê hương trong đường hướng mục vụ mà đáng lẽ phải đậm nét tính sứ ngôn và bảo vệ chân lý. Nhưng đặc biệt nhất là giới trẻ, học sinh, sinh viên, gần như họ không được dẫn dắt để hiểu, sống và chọn lựa thế nào giữa Tin Mừng và ý thức hệ vô thần Cọng sản, giữa sự giải thoát của chân lý Phúc âm và thái độ nô lệ cho những quyền lợi vật chất thấp hèn mà chế độ độc tài đảng trị tìm mọi cách để tuyên truyền, rao bán, áp đặt hay đặt mồi giăng bẫy, giữa sự thật của nhân bản, nhân quyền, tự do, dân chủ và những sự lừa dối phĩnh gạt của những ý thực hệ ngoại lai vong bản đầu độc bao thế hệ thiếu nhi, thanh niên, học sinh, sinh viên từ trong môi trường giáo dục học đường đến mọi nơi mọi chốn trong toàn xã hội.
Mà cũng thật là lạ. Cuốn tiểu thuyết “Mật mã Da Vinci” không biết đã đang và sẽ tác hại cỡ nào trên đời sống tinh thần của dân Chúa mà trông Giáo Hội Việt nam quan tâm lo lắng lắm. Nếu tôi không lầm thì trong Hiệp Thông số 35 của năm 2006 vừa rồi, đã dành trót mấy chục trang với nhiều tác giả để mổ xẻ, tham luận, phê bình.
Rồi cái “chuyện trong nhà” về cuốn “Nghi Thức Thánh Lễ” của ủy ban Phụng Tự. Có gì đáng để làm rùm beng theo đúng cái cách “vạch áo cho người xem lưng” ? Có thêm 10 cuốn Nghi thức thánh lễ mới nữa e rằng đời sống đức tin của Dân Chúa cũng chẳng có gì đổi thay !
Trong khi đó, cái chủ thuyết Mác-Lê độc hại đã tác hại liên tục trên đời sống xã hội, văn hóa, tinh thần và đức tin của đồng bào Việt Nam dư nửa thế kỷ nay, thì có thấy một tuyên bố, trình bày, tham luận nghiêm túc và khách quan nào của Bản Quyền Giáo Hội đâu ? Trong bao nhiêu Lá thư Chung của HĐGMVN gởi cho toàn thể cộng đồng Dân Chúa từ năm 1980 đến nay, có bức thư nào dám đặt vấn đề trực diện mang tính thần học và giáo lý trước ý thức hệ vô thần của chủ nghĩa Cọng sản đâu ? Còn những tờ báo mang danh của giới Công Giáo như “Công Giáo và Dân tộc” hay “Người Công Giáo Việt Nam”, thì đời cha nào dám đã động đến “cái lông chân” của chủ nghĩa Marx ! Hay là Giáo hội Việt nam muốn giáo dân của mình, con em của mình đồng tình với những giáo điều của Marx của Lê-nin, của tư tưởng Bác hồ vĩ đại. Thảo nào, có một linh mục nào đó trong báo Công Giáo và Dân Tộc đã từng ca tụng ông cố thủ tướng Phạm Văn Đồng bằng chính danh xưng của Thánh Kinh chỉ dành riêng cho Thiên Chúa và những bậc thánh nhân trọn hảo nhất : “Phạm Văn Đồng, Người công chính” !!! Và cứ đi vào 6 Đại chủng viện tại Việt nam, tìm xem các giáo trình triết học, có giáo trình nào chuyên phân tích rạch ròi, khách quan, đúng đắn để giúp cho các chủng sinh thật sự nắm vững và thấy rỗ những sai lầm, ảo tưởng và độc hại của học thuyêt Mác-Lê và chủ nghĩa Cọng sản, hầu sau trở thành “Thầy cả” có thể khai sáng cho cộng đoàn giáo dân và nhiều người tránh được những sai lầm, mê tín.
Thật sự Giáo Hội Mẹ đã có quan tâm và quan tâm rất nhiều về việc giáo dục đức tin cho Dân Chúa trong lãnh vực xã hội. Bằng chứng là trong khoảng thời gian kể từ Thông điệp “Tân Sự” của Đức cố giáo hoàng Lêô XIII tới thông điệp “Bách chu niên” của Đức cố giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã có một loạt các thông điệp trình bày về học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo; trong đó không thiếu những phần quan trọng phân tích, đánh giá và cương quyết lên án những chủ trương sai lầm, nguy hại của chủ nghĩa Marx-Lê-nin và các thể chế độc tài toàn trị. ([7])
Rất tiếc, những chủ đề “nhạy cảm” trên gần như “còn nguyên trên kệ sách” của các Giám Mục, linh mục và giới trí thức công Giáo Việt Nam ! Để cắt nghĩa tốt sự kiện nầy, chúng ta cứ cho rằng : Thực thi sứ mệnh ngôn sứ đâu phải chỉ có chuyện Mác-Lê-Cọng sản mà thôi. Còn khối chuyện quan trọng cần định hướng và giáo dục cho đời sống dân Chúa.
Tuy nhiên, trong bối cảnh nhộn nhịp của cả một phong trào, không chỉ có ở Việt nam mà trên phạm vi thế giới, đang dứt khoát lên án và khai trừ chủ nghĩa Mác-Lê tàn độc ra khỏi tâm thức và sinh hoạt của con người ([8]), thì vẫn loáng thoáng đâu đó một vấn nạn : “Đâu rồi “Sứ mệnh ngôn sứ” của Giáo Hội Công Giáo tại Việt nam ?”
III. Tiếng của dân có phải là tiếng Chúa ?
Để biện minh cho vấn đề dân chủ, cho quyền lợi và tiếng nói của tập thể, người ta hay viện dẫn câu ngạn ngữ la tinh “vox populi vox Dei” (Tiếng của dân là tiếng Trời). Khái niệm niệm nầy có thể hiểu và được áp dụng khá cụ thể trong sinh hoạt của cộng đồng Dân Chúa, ít là từ thời Công Đồng Vatican II cho tới hôm nay. Thành quả của Công Đồng chung Vatican II chẳng phải là phản ảnh “vox populi” đó sao ? Chính vì thế mà ở giữa lòng một văn kiện vào bậc quan trọng nhất của Công Đồng, Hiến Chế Tín lý về Hội Thánh (Lumen Gentium), khái niệm “Dân Thiên Chúa” được thiết định như nội hàm cốt yếu của mầu nhiệm Hội Thánh. ([9]).
Chắc chắn Hội Thánh Việt Nam sẽ không bao giờ muốn đi ngược về lối sống đạo thời tiền công đồng Vatican I, thời mà ở đó khái niệm “Bất khả ngộ” chi phối cách mặc nhiên lên sinh hoạt đức tin. Chính lối sống đó thường tạo ra hai thái cực nguy hiểm : Tính kiêu căng và độc đoán của hàng lãnh đạo Giáo Hội và sự thờ ơ, lãnh đạm của đại đa số cộng đoàn Dân Chúa. Chúng ta cũng thùa biết rằng : kết quả của lối diễn tả đức tin và thực hành đức tin như thế sẽ biến Tin Mừng và Huấn Quyền Hội Thánh trở thành những khái niệm khô cứng và xa rời nhịp sống của đại đa số giáo dân.
Nêu lên ý nghĩa nầy, người viết chỉ ước mong sao HĐGMVN luôn biết lắng nghe tâm tư nguyện vọng của cộng đoàn Dân Chúa Việt Nam thông qua một phương cách làm việc vừa dân chủ, vừa trân trọng những đóng góp của mọi thành phần Dân Chúa. Kinh nghiệm đắt giá về kết quả của “hồ sơ NGHI THỨC THÁNH LỄ” sẽ giúp Hội Thánh Việt Nam có những định hướng mục vụ thích hợp và những bước thực hành hiệu quả cao hơn. Ước mong sao khi Dân Chúa Việt Nam khi có trên tay “những Bức Thư Chung” của HĐGM, thì họ đọc được trong ấy những ưu tư và khắc khoải, những ước mơ và dự phóng, những hy vọng và niềm an ủi của chính mình.
Sau hết, chỉ biết phó dâng cho Chúa để ý Ngài được nên trọn và để nhờ Ngài mà những điều tốt đẹp được sớm trở thành hiện thực, vì như G.K. Chesterton : “Nếu một việc gì đáng làm, thì nó rất đáng được thực hiện ngay”.
Giuse Trương Đoan Hùng
--------------------------------------------------------------------------------
([1]) Lê Nhân. Goodbye ông Marx! Trích từ nguồn : www.danchimviet.com
Kể từ khi Marx và Engels xuất bản tuyên ngôn cộng sản năm 1848 đến ngày cả nước Việt Nam biết tới ông Bùi Tiến Dũng - Tổng giám đốc công ty phát triển đường cao tốc Việt Nam PMU 18 (thuộc Bộ Giao thông-Vận tải) - người chỉ trong 2 tháng đã vứt qua cửa sổ số tiền cực lớn là 2,4 triệu đô la Mỹ để cá độ bóng đá (tương đương với trên 28 tỷ đồng Việt Nam) là 158 năm. Giữa ông Marx vĩ đại rậm râu và ông Bùi Tiến Dũng bé con không râu kia tưởng không hề họ hàng với nhau, nhưng thực ra hai ông có mối liên hệ nhân quả hết sức khăng khít có tên là: RAU NÀO SÂU ẤY!
Rau Marxism từng đẻ ra những loài sâu kinh hoàng (sâu vĩ đại) là Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh, PolPot, Ceausescu… gieo tang thương cho nhân loại hơn dịch hạch. Rau Marxism còn đang sinh ra hàng triệu triệu loài sâu róm, sâu đục thân trên cây đời ví như ông Bùi Tiến Dũng tổng giám đốc, ông Nguyễn Việt Bắc phó tổng giám đốc và ông Vũ Mạnh Tiên, chánh văn phòng Tổng công ty phát triển đường cao tốc Việt Nam; chỉ trong hai tháng trời, các ông này đã lấy cắp công quỹ nhiều triệu đô la đem ra cá độ đá bóng vừa bị báo chí khui ra trong vài ba ngày qua (…)
…Học thuyết Marx có nguồn gốc từ các nhà sau: triết học Hegel, Feuerbach, kinh tế học Ricardo, John Locke, chính trị & xã hội học Saint-Simon, tự nhiên học Dawin… Nhưng tựu trung Marx từ đầu đến cuối, chính là con đẻ của Hegel. Triết học Hegel (1770-1831) ra đời từ cái bóng của E. Kant. Hegel đã đập vỡ “Vật tự nó” của Kant để đưa cái hiểu vào điều không thể hiểu của thày mình bằng khái quát rất tự tin có phần chủ quan rằng: “Bất cứ cái gì tồn tại đều có thể hiểu được” - (Cái gì tồn tại đều hợp lý và cái gì hợp lý thì tồn tại). Đây là nhận thức luận khá tiến bộ của Hegel, đồng thời cũng lại chính là sự hạn chế trong cái nhìn chủ quan của ông về thế giới. Ngay cả sự đóng góp vĩ đại của Hegel cho nền triết học nhân loại là biện chứng pháp, như một chiếc chìa khoá triết học vạn năng của thế kỷ thứ XIX, khiến dư luận thời đó tôn ông lên thành Chúa Jesus của triết học, rốt ráo lại ẩn chứa mầm mống của huỷ thể, phản thể khi phép biện chứng duy tâm của ông dừng lại và tự triệt tiêu trong Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI.
Marx tiếp thu hoàn toàn phép biện chứng của thầy mình là Hegel, để duy vật hoá nó, nhưng cũng không vượt qua được cái Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI của Heghel để cùng với thày mình mà hè nhau thủ tiêu biện chứng pháp. Chính khái niệm Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI này đã chắn đường cả Hegel và Marx; như hai nhánh sông của phép biện chứng (nhánh hữu duy tâm và nhánh tả duy vật, cuối cùng cả hai nhánh biện chứng duy tâm Hegel và biện chứng duy vật của Marx đều đổ vào biển TUYỆT ĐỐI, tức là lúc biện chứng pháp tự triệt tiêu, không còn lặp đi lặp lại ba bước: chính đề, phản đề, hợp đề ( Hiện hữu, Hư vô, Hoá thành) nữa.
Heghel đã từng từng viết sách chống tôn giáo. Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI của ông là sự hợp nhất giữa Thượng đế và con người, giữa thiên nhiên và nhận thức, là bề sâu hư vô thăm thẳm của hiện hữu, như là một phương cách thực tại hoá hư vô và ngược lại. Hegel đã làm một cuộc cách mạng hoá khái niệm Thượng đế bằng cách nhân hoá, vật hoá, cảm xúc hoá, đời sống hoá, trần thế hoá khái niệm này.
Trước Hegel, Thượng đế là một lực lượng siêu nhiên ở ngoài, trên và cao cả hơn loài người, lạnh lùng và vô cảm, xa lạ và ghê sợ với con người. Hegel đã triết học hoá, nhân văn hoá, tự nhiên hoá, thậm chí gần như đã vật chất hoá khái niệm Thượng đế vốn cao siêu xa lạ mà con người không nhận thức được của thần học kinh viện. Heghel chỉ cần bước nửa bước nữa là vượt qua Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI, từ bỏ mối liên hệ với Thượng đế để trở thành biện chứng pháp duy vật.
Chính ở chỗ này, xuất hiện người học trò Karl Marx, đã bước nửa bước còn lại của Heghel, để goodbye Thượng đế mà hô lên rằng bản chất của thế gới là vật chất chứ không phải bản chất thế giới là tinh thần như Heghel. Nhưng rồi Marx, xúng xính đi trên con đường của Hegel đã được ông vứt bỏ mái che của tinh thần Thượng đế trên đầu, để đưa triết học, đưa biện chứng pháp, đưa mâu thuẫn đến chỗ triệt tiêu, như là một Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI VẬT CHẤT, thay bằng Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI TINH THẦN của Hegel.
Rốt ráo, cả Hegel và Marx đều dùng phép biện chứng làm chìa khóa mở vào tồn tại, một người mở cổng tinh thần, một người mở cổng vật chất; và khi cả hai ông hí hửng mở được cánh cửa của mình rồi, thì cũng là lúc chiếc chìa khoá vạn năng biện chứng pháp bị ổ khoá kia nuốt sống. Thành thử, dù mở cửa duy vật hay cửa duy tâm, bước vào ngôi nhà tồn tại, cả Hegel và Marx đều mất chiếc chỉa khoá vạn năng biện chứng pháp kia mà cùng bơ vơ, cùng mất phương hướng, sợ quá bèn hô lên rằng: đây là chốn không còn quá trình biện chứng nữa, vật chất hay tinh thần không còn vận động nữa, triết học và lịch sử con người chấm dứt ở đây!
Chung cục, phép biện chứng duy tâm của đấng Kitô thế kỷ thứ XIX là Hegel không cứu nổi sự cáo chung của triết học Đức. Đến lượt Marx lộn ngược chiếc chìa khoá biện chứng pháp của Hegel để tìm một tồn tại ở phía phản biện lại thầy mình, một tồn tại phi tôn giáo, phi Thượng đế; nhưng rồi Marx cũng bị Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI VẬT CHẤT của chính ông chặn đường: không có động cơ vĩnh cửu! Chiếc đồng hồ biện chứng pháp chạy mãi cũng hết dầu, hỏng hóc, khiến một người tuyệt đối duy vật như Marx đành phải kêu lên một tiếng rất duy tâm : lịch sử triết học, hay lịch sử đã kết thúc, vận động lịch sử dừng lại ở chủ nghĩa đại đồng ( tức chủ nghĩa cộng sản). Mà chủ nghĩa cộng sản là cõi mà Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI DUY TÂM của Hegel và Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI DUY VẬT của Marx gặp nhau trong sự cùng đường là LỊCH SỬ ĐÃ KẾT THÚC, TRIẾT HỌC ĐÃ KẾT THÚC, SỰ VẬN ĐỘNG CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG ĐÃ KẾT THÚC, TRÍ TUỆ CON NGƯỜI ĐÃ KẾT THÚC.
Lạy Chúa tôi, cần gì Chúa phải gieo ngày tận thế xuống nhân loại, chính phép biện chứng duy tâm của Hegel và phép biện chứng duy vật của Karl Marx khi phát triển tới cùng đường đã đẩy nhân loại hoặc lên trời, hoặc xuống địa ngục là cái TRẦN GIAN TUYỆT ĐỐI THIÊN ĐƯỜNG CỘNG SẢN rất phản biện chứng, phản duy vật, phản con người mà Marx đã cùng đường nói đại, hứa láo để đẩy nhân loại đi vào một THẾ GIỚI TUYỆT ĐỐI không có thật là tuyệt đối tự giác: làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, tuyệt đối thiện mà triệt tiêu cái ác, tức triệt tiêu chính phép biện chứng vậy !
Than ôi, bằng con đường biện chứng pháp tưởng rất mơ mộng, tốt đẹp và khoa học của Hegel, Marx đã dẫn lịch sử nhân loại đến ngày tận thế để rơi vào “một lỗ đen” vĩ đại - thế giới đại đồng tức chủ nghĩa cộng sản, như là sự cáo chung của lịch sử nhân loại, hay chính là ngày tận thế Marxism. Chính Marx đã móc lên từ địa ngục cả bầy ác quỷ hành hạ, tiêu diệt loài người có tên là: Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, PoPot… !
Trong hành trình của phép biện chứng, Hegel may còn được tinh thần Thượng đế níu lại với loài người, không bị rơi vào địa ngục ngộ nhận, một thứ địa ngục tưởng duy vật mà rất duy tâm của Marx.
Sai lầm của Hegel hay của Marx chính là ở Ý NIỆM TUYỆT ĐỐI: một ông tuyệt đối duy tâm, một ông tuyệt đối duy vật. Thật là mỉa mai cái tinh thần tuyệt đối này, khi chạm vào cái tuyệt đối, phép biện chứng (dù duy vật hay duy tâm) đều phải dừng lại, đều kết thúc không kèn không trống.
Nhưng lịch sử loài người vẫn tiến lên, tinh thần hoài nghi vẫn đưa triết học đã bị cái món tuyệt đối kia làm mù mắt, đành một tay chống chiếc gậy hiện hữu, một tay ôm chiếc bị hư vô dò đường. Cho tới khi nhà khoa học Albert Einstein bằng chứng minh toán học, vật lý học khám phá ra thuyết tương đối, thì nhân loại, hay lịch sử triết học mới giã từ khái niệm tuyệt đối của thế kỷ thứ XIX.
Marx bằng con đường duy vật đã dẫn nhân loại đến một kết cục rất duy tâm là thế giới đại đồng, trao cho Lenin và các nhà cách mạng cộng sản sau ông một CÁI BÁNH VẼ TUYỆT ĐỐI KHÔNG CÓ THẬT LÀ THIÊN ĐƯỜNG CỘNG SẢN dưới thế, đồng thời trao vào tay các học trò mình một thanh kiếm khủng khiếp, một thanh kiếm mù có tên là GIAI CẤP VÔ SẢN, một giai cấp vừa đói, vừa rét, vừa dốt tập hợp trong một đội ngũ quân hồi vô phèng có tên là VÔ SẢN THẾ GIỚI LIÊN HIỆP LẠI, ào lên như những dám mây cào cào châu chấu, tràn qua các lục địa tiêu diệt sạch tự do, dân chủ, dân quyền dân sinh mà cách mạng tư sản Pháp vừa mang lại cho nhân loại (…)
…Chính thực tại đau đớn, buồn thảm, kinh hoàng của các chế độ cộng sản trên trái đất (còn sót lại ở Trung quốc, Việt Nam, Bắc Triều tiên, Cuba) và sự tụt hậu thê thảm của nó so với các xã hội tư bản đã là bằng chứng cho những sai lầm triêt học chết người của Marx, những tiên đoán chỉ đường tầm bậy rất nguy hiểm, rất ác ôn của Marx-Engel-Lenin…
Chính là học thuyết phi nhân của Marx-Lenin đã, đang và sẽ còn đưa gần một nửa nhân loại vào ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN LÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (hay chủ nghĩa cộng sản)…bằng cách lừa đảo cho rằng đến xã hội chủ nghĩa không còn mâu thuẫn nữa, không còn cái ác nữa, không còn đấu tranh nữa vì biện chứng pháp đã kết thúc, chỉ còn CÁI TUYỆT ĐỐI LÀ GIAI CẤP VÔ SẢN toàn thiện toàn mỹ dẫn đường, để cừu hoá, bầy đàn hoá con người trong một trại tập trung vĩ đại có tên là xã hội chủ nghĩa!
Việt Nam và Trung Quốc đang treo đầu dê Marx-Lenin để bán thịt chó tư bản! Sớm muộn gì hai chế độ độc tài này cũng bị lịch sử đưa ma, như chính những người cộng sản đã, đang và sẽ đưa ma Karl Marx bằng kinh tế thị trường; nhưng vẫn lừa đảo nhân dân rằng Marx-Lenin vẫn còn sống nhăn răng, vẫn còn TUYỆT ĐỐI ĐÚNG, TUYỆT ĐỐI HAY và tuyệt đối ác: rằng chúng mày (tức nhân dân) không được phản biện, không được phán xét chủ nghĩa cộng sản tuyệt đối chân lý vì BIỆN CHỨNG PHÁP dù duy tâm hay duy vật đều đã bị người sinh ra nó là Hegel, và người lộn ngược Hegel từ đằng trước ra đằng sau là Karl Marx giết chết...
Hà Nội 25-01-2006
([2]) Huy Tường (chuyễn ngữ và cập nhật).Tưởng niệm nạn nhân cộng sản. Nguồn : www.danchimviet.com
1- Bài “Remembering Red victims” của Jeffrey T. Kuhner đăng trên The Washington Times, Washington, D.C. ngày 30/11/2003 vẫn còn nguyên vẹn giá trị phổ quát, không mất thời sự tính. Tác giả giúp chúng ta luôn luôn nhớ về đại họa cộng sản hiện vẫn còn giày xéo quê hương thân yêu. Một mặt, chế độ bạo trị ra sức đàn áp người dân, mặt khác, cam tâm làm tay sai cho Tàu cộng, ve vãn quốc tế, và đang tìm mọi cách áp dụng kế “Kim thiềng thoát xác” hầu người dân trong nước và cộng đồng người Việt Hải ngoại phải mặc nhiên chấp nhận chế độ bạo trị này. Nhưng, ngày nào cộng sản còn bạo trị, ngày đó, mọi người, nhất là cộng đồng người Việt Hải ngoại, không thể quên.
2- Trong lịch sử nhân loại, người ta sẽ phải ghi nhớ rằng thế kỷ 20 là một thế kỷ đẫm máu nhất. Nguyên nhân chính là do Lenin và đảng Bôn sê vích (Bolsheviks) đã thiết lập chế độ Mác xít trên đất Nga năm 1917. Liên bang Sô viết là tâm điểm của đế quốc cộng sản, cho đến khi tan rã năm 1991, đã gieo rắc các chủ thuyết kinh tế tập trung và đấu tranh giai cấp khắp nơi trên thế giới từ Đông Âu, Phi châu, Nam Mỹ cho đến Á châu và hàng tỉ con ngưới đã phải gánh chịu sự tàn bạo của bọn độc tài Mác xít – Lê nin nít.
3- Hiện nay một số người ở Hoa Thịnh Đốn (Washington) đã tìm cách tưởng niệm vô số nạn nhân cộng sản. Dưới sự điều động can đảm của chủ tịch Jay Katzen, Tổ chức Tưởng niệm Nạn nhân Cộng sản đang tiến hành việc thực hiện lập đài Tưởng niệm các nạn nhân oan thác dưới bàn tay đẫm máu của các chế độ bạo tàn Mác xít tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Mục đích trước mắt là phải làm sao dựng cho bằng được đài Tưởng Niệm, mẫu tượng đài (phối hợp hài hòa giữa tượng Nữ Thần Tự Do ở New York và tượng Nữ thần Tự Do của sinh viên Trung Hoa trong biến cố đẫm máu Thiên An Môn, Bắc Kinh, năm 1989), giấy phép, gây qũy và địa điểm đã hoàn tất, lễ động thổ sẽ thực hiện vào tháng 9/2006 và chậm lắm là vào tháng 6/2007 sẽ làm lễ khánh thành.(*) Đài Tưởng Niệm thật vô cùng cần thiết vì tội ác cộng sản đang có nguy cơ bị bỏ quên một cách đáng phàn nàn! Cựu Tổng thống Tiệp Khắc, ông Havel Vaclav, tuyên bố: "Sự sụp đổ đế quốc cộng sản là một biến cố ngang tầm với sự sụp đổ đế quốc La Mã”.(*)
4- Mô thức của Lê nin đem lại hậu quả kinh hoàng, không chỉ tàn phá toàn bộ nền kinh tế và môi sinh một cách vô tiền khoáng hậu, mà còn khủng khiếp hơn nữa là đã sáng tạo ra một bộ máy giết người vĩ đại nhất: Hơn một trăm triệu mạng người đã bị hủy diệt dưới bàn tay đẫm máu tàn bạo của các chế độ cộng sản. Tuy nhiên các cơ quan nghiên cứu tây phương vẫn chưa hẳn đồng ý với nhau hoặc còn xem nhẹ mức độ tàn ác vô luân ghê gớm của các chế độ cộng sản.
5- Không như các chế độ độc tài phát xít, trong nhiều khuôn viên đại học Hoa Kỳ, người ta vẫn thường nghe nói về chủ thuyết Mác xít - Lê nin nít rằng đó là một lý tưởng cao đẹp đem lại hòa bình thế giới và công bằng xã hội, rằng nó từng là một ý tưởng tốt đẹp nhưng đã trở thành xấu xa, tồi tệ. Người ta đề cập đến chủ thuyết cộng sản như là kẻ ngồi trong tháp ngà bàn luận triết học hay những kẻ bàng quang nói chuyện trà dư tửu hậu và chưa hề là nạn nhân từng nếm mùi cộng sản. Nói gì thì nói, chẳng có gì vượt qua được sự thật hiển nhiên về tội ác cộng sản. Trung Hoa, Bắc Hàn, Cu Ba và Việt Nam ngày nay là những hình ảnh sống động.
6- Tự khởi đầu, chủ thuyết cộng sản đã áp đặt bạo lực lên toàn xã hội bằng cách diệt chủng và tàn sát quy mô. Lê nin đã tạo ra tiền lệ cho các chế độ cộng sản đàn em noi theo, là thiết lập một cuộc cách mạng vô sản chuyên chính, mọi tầng lớp xã hội đương thời cần phải được quyét sạch một cách có hệ thống: tầng lớp thượng lưu, trung lưu, tư sản thành thị, địa chủ, hào phú nông thôn, bất đồng chính kiến (phản cách mạng cộng sản), và cả tầng lớp trí thức không theo Bôn sê vích: Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc, bốc tận rễ. Căn bản độc tài toàn trị theo quan điểm của Lenin là phải xây dựng cho bằng được một xã hội “toàn hảo” bằng cách áp đặt luật lệ độc đảng và nghiền nát mọi bất đồng và chống đối.
7- Lịch sử thế giới cận đại còn vương vãi đầy dẫy các "sản phẩm quỷ quái" của Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Tito, Pol Pot, Nicolae Ceaucescu, Fidel Castro. Người ta cần nhớ đến sự tàn ác của các tay đồ tể này không chỉ vinh danh những người đã oan khuất mà còn là bài học biến thái của thế kỷ vừa qua: Ảo tưởng mang lại toàn trị; con đường dẫn đến ảo tưởng lại đi qua nỗi thống khổ khôn cùng.
8- Hàng triệu triệu con người bị các chế độ cộng sản sát hại không phải chỉ là phó sản tình cờ do các chính sách được hướng dẫn sai lầm mà chính là đích nhắm của mô thức Lê nin. Chẳng hạn, trong thảm kịch đại khủng bố năm 1933, lãnh tụ Sô viết Josef Stalin có kế hoạch giết khoảng 10 triệu nông dân Ukraine bằng cách bỏ đói cho tới chết. Mục đích diệt chủng nhằm phá nát nông thôn, hy vọng bóp nghẹt trái tim xứ Ukraine và củng cố quyền lực bằng gọng kềm thép. Nạn nhân của Stalin cũng bao gồm luôn các giống dân Ba Lan, Slovak, Tiệp, Hung, Romania, Chechnya, Lithuania, Latvia, Estonia và Crimean Tatars (giống dân sau cùng này đã bị đồng hóa hoàn toàn về văn hóa và lãnh thổ sau thế chiến thứ hai).
9- Sát nách Hoa Kỳ là một nước Cu Ba cộng sản hoàn toàn khép kín kể từ khi Fidel Castro lật đổ chế độ Batista năm 1959 và bị Hoa Kỳ cấm vận. Hoa kỳ đã thất bại trong việc giúp người Cu Ba lật lại thế cờ trong vụ đổ bộ tại Vịnh Con Heo năm 1961. Không một tin tức rõ ràng nào có thể kiểm chứng lọt được ra ngoài về số người bị sát hại và đầy ải, nhưng dưới chế độ cộng sản với Fidel Castro nắm chắc quyền lực gần 50 năm, con số này không phải là nhỏ, phải lên đến hàng triệu. Chỉ biết là từ đó đến nay, số người Cu Ba lưu vong lên gần cả triệu người và phần lớn tập trung tại Miami và những thành phố phía Nam Florida. Về phương diện địa dư, Cu Ba tọa lạc tại bắc Mỹ, trên thực tế, Cu Ba về văn hóa và ngôn ngữ Spanish lại thuộc về châu Mỹ La tinh.
10- Mô hình này cũng được lặp lại y chang tại Á châu. Cho đến nay, chế độ cộng sản Bắc Hàn vẫn còn là chế độ toàn trị khép kín, cha truyền con nối từ Kim Nhật Thành đến Kim Chính Nhật, số người chết trong chiến tranh xâm lăng Nam Hàn năm 1952-1953 và số người chết đói kể từ ngày thành lập chế độ không dưới con số 5 triệu người. Chế độ cộng sản Bắc Việt đã tàn sát khoảng 500 ngàn người dân quê vô tội sau khi kết thúc cái gọi là "Cải cách Ruộng Đất" năm 1956. Sự rút lui của Hoa Kỳ ra khỏi Đông Nam Á năm 1973 cũng đã tạo ra một hậu quả ghê rợn không thể tưởng tượng cho dân chúng sống trong khu vực. Các chế độ cộng sản đã được thiết lập tại Việt Nam, Cam Bốt (Cambodia) và Lào. Hàng triệu người Cam Bốt đã bị Pol Pot tàn sát, trong lúc hàng trăm ngàn người dân miền Nam Việt Nam bỏ mạng trên biển cả trong lúc trốn chạy trước sự hung hãn của bộ đội Bắc Việt. Và sau đó vô số người chết trong những cái gọi là “trại tập trung cải tạo” được thiết lập khắp nước cộng với số người chết trong hai cuộc chiến cùng với số người chết đói từ năm 1954 đến năm 1986.
11- Tuy nhiên, tên bạo chúa cộng sản ghê tởm chính nhất là Mao Trạch Đông. Năm 1959, "Hoàng đế Đỏ" đã phóng tay phát động một chương trình tập sản hóa gây nên một đại nạn ghê gớm cho người dân mà y mệnh danh là "Bước Nhẩy Vọt" coi như để hiện đại hóa đất nước. Hiện đại đâu chả thấy, chỉ thấy đây là một đại thảm họa vô cùng kinh hoàng đem đến cái chết cho hơn hai mươi triệu người dân Trung Hoa. Rất nhiều nạn nhân là trẻ em trở thành "thực phẩm" cho những nông dân bị bỏ đói. Hàng triệu người chết và bị đầy ải trong cuộc thanh trừng "vĩ đại" mà y gọi là “Cuộc Cách Mạng Văn hóa” năm 1966.
12- Thế nhưng, trong khi tội ác của chế độ phát xít được các viện nghiên cứu và báo chí ghi nhớ thì các tội ác rùng rợn của chủ nghĩa cộng sản phần lớn vẫn còn bị bỏ quên. Điều này là cả một lỗi lầm đáng trách. Sinh mạng của các nạn nhân bị Hitler tàn sát không thể nào có giá trị hơn sinh mạng của những kẻ oan thác dưới bàn tay đẫm máu của Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pol Pot, Nicolae Ceaucescu, Fidel Castro hay chế độ cộng sản tại các phần đất khác trên thế giới. Những nạn nhân này xứng đáng được đối xử công bình hơn. Ông Katzen và tổ chức của ông kiên trì theo đuổi con đường của mình, cuối cùng, các nạn nhân oan thác dưới bàn tay cộng sản cũng đã được thừa nhận thay vì bị bỏ quên quá lâu.
13- Cộng sản là một tội ác vĩ đại. Về mặt thống kê, theo con số tổng quát mà tác giả đưa ra, tội ác cộng sản lớn hơn tội ác phát xít xấp xỉ 20 lần. Hitler giết 6 triệu người Do Thái trong các lò hơi ngạt và trại tập trung (Holocaust) và Do Thái là người ngoại quốc, không phải là dân tộc Đức trong khi cộng sản giết chính dân bản xứ, cùng chủng tộc, dưới quyền mình cai trị. Hitler chỉ nắm quyền trong một thời gian mấy năm ngắn ngủi, trong khi các xứ cộng sản chính (Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba,... ) nắm bạo quyền hàng trên nửa thế kỷ với hơn trăm triệu người dân bị sát hại và hàng tỉ con người bị đầy ải trong một thời gian lâu dài. Các xứ hậu cộng sản (Nga và Đông Âu) vẫn chưa tẩy xóa hết dấu vết di hại sau mười mấy năm trời thoát ách cộng sản. Ngày nay, dù chỉ còn lại vỏn vẹn 5 nước, vẫn còn một tỉ rưỡi con người bị đầy ải trên chính quê hương của mình, và chưa biết đến quyền sống tối thiểu là gì.
14- Đẩy lùi tội ác cộng sản ra khỏi quê hương là bổn phận của tất cả chúng ta, của mọi người trong và ngoài nước, trừ phi người đó là người... cộng sản "trung kiên" trong nhóm "đặc quyền đặc lợi". Nhân loại đang đi những đôi hia bảy dặm, và chế độ cộng sản vẫn tiếp tục gieo rắc tội ác trên đất nước VN. Những ai còn mơ hồ về cộng sản, rồi có ngày sẽ vỡ mộng, trả giá cho sự ngây thơ và sẽ không còn cơ hội hối hận.
v (Xem thêm : Lữ Giang. NHỮNG TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LOẠI
Điều quan trọng để có thể truy tố và trừng phạt tội ác chống nhân loại là phải mở cuộc điều tra và thiết lập bằng chứng trước pháp lý, chứ không thể tố khơi khơi như đa số người Việt chống cộng vẫn nghĩ. Một hồ sơ đầy đủ các bằng chứng về tội phạm được công bố cũng là một hình thức trừng phạt.
Trong cuốn “Death by Government”, Rudolph J. Rummel, giáo sư khoa học chính trị tại Đại Học Yale và Đại Học Hawaii, đã liệt kê những chế độ sau đây vào 10 chế độ gây chết chốc nhất (most murderous regimes) trong thế kỷ 20, đó là: Liên bang Xô – Viết, Cộng Sản Trung Quốc, Đức Quốc Xã, chế độ Quân Phiệt Nhật, Cam-bốt dưới thời Khmer Đỏ, Thổ Nhỉ Kỳ dưới thời Young Turks, Cộng Sản Việt Nam, Cộng Sản Ba Lan và Pakistan dưới thời Yahya Khan.
Giáo sư R.J. Rummel cũng đã liệt kê số nạn nhân bị sát hại trong thế kỷ 20 như sau:
61.911.000 bị chết trong các trại tù Gulag của Liên Bang Xô Viết.
35.236.000 bị chết dưới chế độ cộng sản Trung Quốc.
20.946.000 bị chết vì chính sách diệt chủng của Đức Quốc Xã.
5.964.000 bị chết dưới thời Quân Phiệt Nhật.
2.035.000 bị chết dưới thời Khmer Đỏ.
1.883.000 bị chết dưới chề độ diệt chủng ở Thổ Nhĩ Kỳ.
1.670.000 bị chết vì cuộc chiến Việt Nam.
1.585.000 bị chết do nạn thanh lọc chủng tộc tại Ba Lan.
1.503.000 bị chết trong thời Young Turks.
1.072.000 bị chết dưới chế độ Tito (Nam Tư cũ).
Trường hợp của Liên Xô được coi là trường hợp điển hình nhất của tội ác chống nhân loại của chủ nghĩa cộng sản: Sau cách mạng tháng 10 năm 1917, Vladimir Lenin lật đổ chế độ quân chủ ở Nga và thành lập Liên bang Xô Viết gồm Nga và 14 nước láng giềng. Từ đó dân Nga phải sống dưới một chế độ cùng khốn.
Năm 1924, Lenin qua đời và Joseph Stalin lên thay thế. Stalin áp dụng triệt để chính sách tập thể hoá nông nghiệp, người nào tỏ ý chống đối liền bị giết hoặc đưa vào các trại lao động tập trung, tiếng Nga gọi là Gulag. Từ năm 1929 đến 1953, có khoảng từ 15 đến 20 triệu người Nga bị thiệt mạng, phần lớn là ở trong các trại tập trung.
Các sử gia ước tính rằng đã có khoảng 1/5 nạn nhân của Stalin chết trong các trại tập trung ở Kolyma, một vùng xa xôi hẻo lánh cách thủ đô Moscow khoảng 9.000 cây số. Cuộc sống trong các trại này dã man và khủng khiếp không thua gì các trại tập trung của Đức Quốc Xã ở Auschwitz, Ba Lan, trước đó, nên thường được gọi là Auschwitz của Nga.
Trước hết các tù nhân bị nhét vào những xe chở gia súc và đưa đến Vladivostok. Trên chặng đường đó, một số người đã bị chết ngạt vì cảnh chen chúc trên xe. Từ Vladivostok, tù nhân bị đưa lên tàu đến Kolyma. Cuộc hải trình dài từ 8 đến 10 ngày. Nhiều người đã chết trong cuộc hải trình này. Có một chiếc tàu chở mấy ngàn tù nhân bị kẹt trong những tảng băng 9 tháng sau mới tới Kolyma và không một tù nhân nào còn sống sót! Một chiếc tàu khác chở 3000 tù nhân tới cảng Madagan, thủ phủ Kolyma, đúng hạn nhưng không còn có tù nhân nào sống sót cả, vì các tù nhân nổi loạn trên tàu, cai tù dùng vòi nước xịt vào phòng giam, biến phòng giam thành một bể nước dưới 40 độ âm. Toàn bộ tù nhân trên tàu đều biến thành những cây nước đá!
Lúc đó ở Kolyma có hơn 100 trại tập trung. Khi vào trại, đa số tù nhân phải làm công việc đào vàng 14 tiếng đồng hồ mỗi ngày, nhưng chỉ được lãnh khẩu phần là 700 gram bánh mì và một tô xúp bắp cải. Trong trường hợp không đạt được chỉ tiêu, họ bị bớt khẩu phần.
Không phải chỉ ở Kolyma mà ở tất cả các trại tập trung trên khắp lãnh thổ Liên Xô, các tù nhân đều phải sống trong những điều kiện như thế. Hầu hết các tù nhân chỉ có thể sống được trong vòng 2 năm. Các sử gia ước tính có khoảng 90% tù nhân chết trong tù. Năm 1991, sau khi chế độ Liên Xô tan rã, Tổng thống Boris Yeltsin ra lệnh thả 10 tù nhân chính trị cuối cùng trong các trại tập trung!
Về trường hợp Việt Nam, trong cuốn “Death by Government”, sau khi trình bày qua lý lịch của Hồ Chí Minh, Giáo sư R.J. Rummel đã mô tả một cách tổng quát về tội ác của Đảng CSVN trong thời kỳ đầu như như sau:
“Khi Việt Minh tranh đấu chống Pháp, họ cũng thực hiện một cuộc chiến tranh bí mật tồi bại chống lại những người quốc gia không cộng sản cạnh tranh với họ. Họ ám sát, hành quyết và tàn sát tập thể tất cả các nhóm quốc gia, kể cả những thân nhân, bạn bè và vợ con của họ. Nhưng những người quốc gia không phải là những nạn nhân duy nhất, “giai cấp thù nghịch” cũng bị “trừng phạt”. Họ cũng thanh toán cả các nhóm Trotskystes và những người khác bị coi là đi lệch chủ nghĩa. Hàng ngàn người trong giới trí thức cao cấp và những người Việt sáng giá đều bị tiêu diệt trong thời gian từ 1945 đến 1947 khi cộng sản củng bố quyền hành của họ”.
Dĩ nhiên tội ác chống nhân loại của Đảng CSVN còn nhiều, nhất là trong hai cuộc cải cách ruộng đất năm 1952 và 1956 và trong biến cố Tết Mậu Thân. Điều quan trọng là phải lập đầy đủ hồ sơ về các tội ác đó mới có thể truy tố được.
Trong hơn 30 năm qua, người Việt ở hải ngoại đã viết khá nhiều sách và tài liệu nói về tội ác của Đảng CSVN, nhưng đa số đã viết dưới hình thức những lời chửi bới hay nguyền rủa dao to búa lớn, còn sự kiện có tính thuyết phục về sử liệu và pháp lý đưa ra rất ít.
Những lối viết theo cảm tính không có giá trị khi đưa ra trước công pháp quốc tế. Các nhà nghiên cứu ngoại quốc cũng như đồng bào đã cảm thấy chán ngấy khi phải đọc những tài liệu như thế. Chúng tôi mong rằng, người Việt và nhất là các sử gia và các nhà trí thức, nên bỏ lối viết sáo ngữ, dao to búa lớn đó để tiến tới viết những bản phúc trình về tội phạm của Đảng CSVN với những sự kiện và bằng chứng rõ ràng có thể dùng làm tài liệu truy tố và xét xử các tội phạm sau này.
([3]) Phan thế Hải. Gỡ “nút cổ chai” cho nền kinh tế tăng tốc và cất cánh. Nguồn : www.danchimviet.com
2- Vận dụng chủ nghĩa Marx thế nào?
Phần II, đánh giá khái quát 20 năm đổi mới, dự thảo có nói: “... trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh...”. Nền tảng chủ nghĩa Marx- Lenin được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong dự thảo. Đây là một điều xưa cũ mà các báo cáo chính trị của 9 kỳ đại hội trước đã từng nói đến và nay vẫn nhắc lại.
Cùng với điều 4 của Hiến pháp, cách thức tổ chức, tuyên truyền, áp đặt vào hệ thống đào tạo ở các cấp, vô tình hiện nay Việt Nam có một thứ tư tưởng thống soái trong mọi hoạt động kinh tế- xã hội, văn hoá, tư tưởng đó là Chủ nghĩa Marx- Lenin. Bất cứ một cán bộ nào muốn được đề bạt, không chỉ cán bộ công quyền mà còn cả lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước đều phải trải qua học viện chính trị, trong đó, các môn học về chủ nghĩa Max- Lênin chiếm đến hơn 50% thời lượng.
Chủ nghĩa Marx là một học thuyết đồ sộ gồm ba lĩnh vực chính: Triết học, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa cộng sản khoa học. Không bàn sâu vào học thuyết này, nhưng tôi chỉ xin được dẫn ra một số điểm quan trọng sau đây:
Năm 1848, tại London, Marx và Anghen cho xuất bản: “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, đây được coi là cột mốc quan trọng của việc hình thành chủ nghĩa Marx, một “bóng ma ám ảnh châu Âu” (chữ của Marx) và nhân loại. Về hoàn cảnh lịch sử, giữa thế kỷ XIX là thời đại văn minh cơ khí với đặc trưng là đầu máy hơi nước. Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, với nền văn minh kỹ thuật số. Cứ cho Chủ nghĩa Marx là một công trình khoa học đi nữa thì với những hạn chế của hoàn cảnh lịch sử, sẽ có không ít những điều bất cập.
Tuy nhiên bản thân chủ nghĩa Marx ngay từ nguyên thuỷ cũng đã chứa đựng rất nhiều yếu tố sai lầm và cực đoan. Xin được dẫn ra 2 sai lầm quan trọng của Marx là:
Thứ nhất, về động lực phát triển của xã hội loài người, ngay dòng đầu tiên, của “Tuyên ngôn của đảng cộng sản” Marx viết: “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp.”
Marx đã tuyệt đối hoá vai trò đấu tranh giai cấp, mà không nhìn thấy vai trò của đấu tranh dân tộc, tôn giáo, văn hoá v.v.... trong quá trình phát triển của lịch sử loài người. Marx đã tuyệt đối hoá vai trò của giai cấp công nhân, chỉ toàn nhìn thấy măt tốt mà không nhìn thấy mặt hạn chế của giai cấp này. Ngược lại Marx lại chỉ nhìn thấy mặt xấu của giai cấp tư sản, mà không nhìn thấy mặt tốt của họ.
Từ những phiến diện này, Marx đã đưa ra những kết luận sai lầm về đấu tranh giai cấp. Marx chủ trương xóa bỏ giai cấp tư sản, thiết lập công hữu về tư liệu sản xuất và thực hịên chuyên chính vô sản... Các trường phái tư tưởng triết học phương Đông đã không được Marx đề cập đến, nên triết học của Marx mang nặng mùi đấu tranh. Marx chí thấy tính Đối kháng, triệt tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập mà không thấy tính thoả hiệp, tính khoan hoà giữa chúng.
Thứ hai, sai lầm về “bóc lột giá trị thặng dư” kể cả khái niệm lẫn bản chất. Khi nghiên cứu nền kinh tế, Marx bắt đầu bằng hàng hoá. Marx phân tích cấu trúc giá trị thành ba thành phần: C + V + m Trong đó, C là tư bản bất biến, V là tư bản khả biến, và m là giá trị thặng dư. Theo Marx, m là giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động của người công nhân làm thuê sáng tạo ra bị nhà tư bản chiếm không. Trong đó Marx đã quên hẳn vai trò tổ chức, quản lý của nhà tư bản; vai trò sáng kiến, vai trò ý tưởng, đặc biệt là bản quyền sáng tạo của nhà tư bản nên đã có những kết luận lệch lạc.
Trong tư duy Marx bị mắc bệnh tuyệt đối hoá và trong phương pháp Marx mắc bệnh quy nạp phiến diện. Khi nói về về duy vật lịch sử, Marx đặt trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội châu Âu. Cuốn “Tư bản” được viết trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển của kinh tế - xã hội nước Anh thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Cũng có lẽ do hoàn cảnh lịch sử, nên trong các tác phẩm của Marx, ông không đề cập đến nhiều khái niệm như: toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại, thương quyền, thương hiệu... là những khái niệm rất quan trọng của xã hội ngày nay.
Nhìn một cách xuyên suốt, ngoài những bất cập trên, học thuyết Marx còn đầy rẫy những mâu thuẫn.
Marx say sưa với vẫn đề công hữu hoá tư liệu sản xuất, nhưng ông đã "quên" mất vấn đề tối quan trọng là công hữu hoá quyền lực, trong các tác phẩm của mình, ông không đề cập đến cách thức tổ chức xã hội theo kiểu nghị viện, với sự tôn trọng những ý kiến khác biệt.
Marx tôn thờ phép biện chứng nhưng ông lại mắc bệnh tuyệt đối hoá giai cấp, quá tin tưởng ở những phẩm chất tốt đẹp của giai cấp công nhân mà quên rằng nó cũng có đầy những tính xấu như bất cứ giai cấp nào hay con người nào khác. Hậu quả của kẽ hở này là ở các nước đi theo mô hình của Marx, đảng cộng sản sau khi nắm được chính quyền đã trở thành giai cấp thống trị mới còn tệ hại hơn giai cấp thống trị cũ, do nó được biện minh bởi học thuyết mới.
Với giai cấp tư sản cũng vậy, ông chỉ nhìn thấy mặt hạn chế của giai cấp này mà không nhìn nhận thấy mặt tốt của họ. Marx cho rằng, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là mâu thuẫn đối kháng và chủ trương “đào mồ chôn CNTB”. Thực tiễn đã cho thấy, sau khi lập đổ giai cấp tư sản, thiết lập được nền chuyên chính vô sản, các nước cộng sản đều đưa nền kinh tế đi vào ngõ cụt.
Với công thức công hữu hoá, đất đai là sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý. Nhưng chính quyền lại là sở hữu riêng của đảng cộng sản, đảng không chia sẻ quyền lực cho ai, nên trong các nước theo mô hình CNXH, đều trở thành những chế độ phong kiến kiểu mới - chế độ phong kiến không vua, hay đúng hơn là không ngai - đảng cộng sản ở những nước này, trở thành những chính đảng giàu có, trở thành các siêu địa chủ - tư sản, do họ trở thành chủ sở hữu thực tế của toàn bộ tài sản quốc gia - điều ngay cả một ông vua phong kiến cũng không sánh nổi.
Sau này Lenin có phát triển học thuyết Marx lên một bước cao hơn, nhưng ông cũng chỉ đi sâu vào chuyên chính vô sản, vào đấu tranh giai cấp. Đặc biệt, Lenine là người tuyệt đối sùng bái Marx mà không nhận ra những sai lầm quan trọng mà Marx mắc phải.
Cũng chính vì những hạn chế này, nên ngay trên quê hương ông, ở nước Đức, Chủ nghĩa Marx đã từng có mặt hơn 40 năm (ở Đông Đức) nhưng cuối cùng đã thất bại. Còn nước Anh, nơi chủ nghĩa Marx ra đời, hiện không có một sự cấm đoán nào về tư tưởng nhưng người dân vẫn nói không với chủ nghĩa Marx. Thậm chí, có người còn cho rằng, đó chỉ là một waste theory (lý thuyết bỏ đi). Một số đảng cộng sản trước đây đã từng coi chủ nghĩa Marx là hệ tư tưởng nay cũng đã thay đổi cương lĩnh.
Chúng ta đã trót yêu chủ nghĩa Marx, chúng ta không bài xích chủ nghĩa Marx nhưng coi nó là một quốc đạo như xưa nay vẫn làm thì quả là không ổn. Đó là chưa nói đến chuyện, ngoài học thuyết Marx còn có vô số học thuyết khác cần phải nghiên cứu, tham khảo. Trong phần XIV- ĐỔI MỚI VÀ CHÍNH ĐỐN ĐẢNG, NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG” ở đoạn 1, dự thảo có đoạn: “Kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng; phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch.” Một đảng cầm quyền, tiên phong dẫn dắt dân tộc trong thế kỷ 21 mà vẫn khư khư coi chủ nghĩa Marx- Lenin là nền tảng, khi ngay trên quê hương sinh ra nó, chủ nghĩa này đã bị người ta loại bỏ không luyến tiếc là một điều không bình thường.
(Thông tin về CN Marx có thể đọc ở địa chỉ: http://www.marxists.org/vietnamese/)
3- Định hướng CNXH và quốc hiệu XHCN
Trong suốt hơn 32 trang Dự thảo báo cáo, cụm từ CNXH và XHCN được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, đặc biệt nó được gắn chặt vào những khái niệm, phạm trù kinh tế xã hội của đất nước như: Nhà nước pháp quyền XHCN; định hướng CNXH; Tổ quốc Việt Nam XHCN... nhưng chưa có một dòng nào giải thích rõ ngữ nghĩa của khái niệm này. Phải chăng đây cũng chỉ là sự sáo rỗng như thường thấy trong các báo cáo chính trị của các kỳ đại hội trước đây.
Cụm từ Xã hội chủ nghĩa được thêm vào quốc hiệu nước ta kể từ tháng 4/1976. Nói đúng hơn thì nó đã được thay thế cho cụm từ Dân Chủ đã được Bác Hồ lựa chọn cho quốc hiệu và đã được dùng suốt trong 30 năm từ 1945 đến 1975.
Thể chế Xã hội chủ nghĩa là một mô hình nhà nước của Liên Xô, được xây dựng theo học thuyết của Marx, Lenin và Staline.
Trong dịp kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Mười (11/1977), Liên Xô đã long trọng tuyên bố “xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội” và tiếp tục tiến lên xây dựng Chủ nghĩa cộng sản. Chính vì vậy, đến 1991 Liên Xô đã sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của khối Xã hội Chủ nghĩa và sự phá sản hoàn toàn của mô hình kinh tế, xã hội này.
Việt Nam, kể từ 1955 (ở miền Bắc) và từ 1975 trên phạm vi cả nước cũng đã từng “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” và tự nhận là “tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa”. Chính vì lý do này, cuộc chiến tranh chống Mỹ càng trở nên khốc liệt, làm hàng triệu người chết và tàn phế và đất nước bị tàn phá nặng nề với những hậu quả kéo dài nhiều thế hệ.
Cũng chính vì định hướng CNXH theo tư tưởng của Staline mà Việt Nam đã tiến hành các chính sách như: Cải cách ruộng đất (1953- 1956) Cải tạo tư sản tư thương (1958- 1959); Cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam (1977- 1978)... thực chất là huỷ diệt lực lượng sản xuất tiên tiến, phá hoại nền kinh tế, nhiều nhân tài bị giết hại, đầy ải, vô số tài sản, nhà cửa, ruộng đất của nhân dân bị cướp đoạt, y tế, giáo dục, đạo đức, văn hoá, nghệ thuật, khoa học…. đều xuống cấp trầm trọng, luật pháp, kỷ cương, truyền thống văn hoá dân tộc bị phá hoại, đảo lộn nghiêm trọng, đời sống nhân dân khốn cùng.
Từ sự khốn cùng của nền kinh tế, đến sự khốn cùng của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân, hàng triệu người bỏ nước ra đi. Cùng với làn sóng vượt biên, di tản là cả một thể chế đứng bên bờ vực của sự sụp đổ.
Đại hội đảng lần thứ V (tháng 3/1982), đảng ta vẫn một mực khẳng định đường lối “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” của đại hội IV và lớn tiếng lên án chính sách “Cải cách”, “Khai phóng”, “Bốn hiện đại hoá” của Trung Quốc là “kẻ phản bội lớn nhất trong phong trào cộng sản quốc tế”.
Vào những năm 80, khi nền kinh tế Liên Xô đi vào ngõ cụt, có nguy cơ tan rã, Đại hội đảng lần thứ 27 ( tháng 3/1985), Tổng bí thư Gorbachev đề ra chính sách Peretroika (Cải tổ) và Glasnost (Công khai) thì đảng ta mới “tiếp thu” họp đại hội VI (tháng 12/1986) đề ra chính sách Đổi mới và Nói thật. Có ý kiến cho rằng, đây thực chất là một sự ăn cắp bản quyền hay “ăn theo nói leo”.
Nếu nhìn vào lịch sử, thực chất đây là chính sách “đổi cũ”, quay lại các chính sách kinh tế thị trường mà loài người đã trải qua hàng trăm năm. Ở Việt nam kinh tế thị trường cũng đã từng có thời Pháp thuộc và đặc biệt, nền kinh tế thị trường đã phát triển ở trình độ khá cao trước năm 1975 ở miền Nam.
CNXH là gì, thực chất của định hướng CNXH sẽ đưa đất nước đến đâu? Đây là một câu hỏi không quá khó. Liên Xô đã có 70 năm vô ích, các nước đông Âu cũng đã từng đi đến bờ vực vì cái định hướng này. Chính vì lý do đó, gần 500 triệu dân ở khối này đã tỉnh ngộ và quyết định, đập đi làm lại từ đầu. Dẫu có mất ổn định một vài năm, nhưng nay họ đã vào đường băng và đang cất cánh.
Như đã nói ở trên, thực chất của công cuộc đổi mới là “đổi cũ”, thôi không cấm đoán sức sáng tạo của dân chúng, thôi không kìm hãm sức sản xuất của khu vực dân doanh, thay thế chính sách cai trị bằng quản lý. Trên thực tế, nước ta đã từ bỏ con đường Xã hội Chủ nghĩa đói nghèo trước kia, không đi theo vết xe đổ trước đó.
Nhưng nếu cứ định hướng CNXH, trên lý thuyết, nước ta vẫn bị buộc phải đi theo con đường đau khổ đó và cũng không ai dám chắc là, vào một ngày xấu trời nào đó, vào một phút ngẫu hứng nào đó, đảng ta, với tư cách là người cầm quyền độc tôn, sẽ diễn lại các chính sách “cải tạo tư sản” hay “Quốc hữu hoá” sao cho đúng cái “định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Cũng chính vì lý do này, không phải doanh nghiệp, doanh nhân nào cũng toàn tâm toàn ý làm giàu, toàn tâm toàn ý lo mở rộng sản xuất. Không ít doanh nhân, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài vừa làm vừa nghe ngóng, động tĩnh, diễn biến của các chính sách của Đảng. Khi bàn chuyện làm ăn, một cán bộ phát biểu: “Đất nước này không cho ai giàu quá 20 năm.” Xin được nói thêm, ông này hiện đang là thứ trưởng một bộ quan trọng. Đến cán bộ cao cấp mà còn chưa đủ niềm tin thì những người dân đen hoài nghi là điều dễ hiểu.
Một doanh nhân nói với tôi, cái “định hướng XHCN” như một bản án có sẵn treo lơ lửng trên đầu, khi nào cần trưng thu tài sản, Đảng ta sẽ dùng đến nó. Thực chất của chính sách đổi mới chỉ là sự “vỗ béo” các doanh nghiệp để, khi cần Đảng đem ra “giết thịt.”
Có lẽ vì lý do này, Việt Nam là một trong số những nước nghèo nhưng có nhiều tài khoản ngoại tệ gửi ở các nhà băng nước ngoài. Một lượng không nhỏ nguồn lực của đất nước bị phân tán chỉ vì cái định hướng này.
Cũng có ý kiến cho là Chủ nghĩa xã hội không phải là cái đã sụp đổ đó. Nó là cái khác, cao đẹp hơn nhiều….. Nhưng như vậy thì Chủ nghĩa Xã hội là cái gì? Nó là một khái niệm mơ hồ, chưa rõ hình hài? Nó là một mô hình không có trong thực tiễn? Tóm lại nó chỉ là một ảo tưởng? Vậy tại sao ta lại định hướng cho đất nước theo một ảo tưởng?
Lại có ý kiến cho rằng Chủ nghĩa Xã hội chính là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhưng nói như vậy là nhận vơ, là ăn cắp bản quyền. “Quốc phú, Dân cường” là lời của Khổng Tử, được coi là tiêu chí của Nho giáo. “Công bằng, Dân chủ, Văn minh” là thực tiễn của các nước Tư bản tiên tiến, được hình thành từ lý tưởng “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Cách mạng Nhân quyền và Dân quyền Pháp 1789. Một cá nhân đạo văn là một điều đáng trách, còn một đảng cầm quyền làm như vậy thì khó mà làm gương cho dân chúng.
Một lý do khác, trong số hàng trăm quốc gia đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, không nước nào giàu lên bằng con đường “kiên định CNXH”.
Sự kiên định CNXH là không có cơ sở khoa học.
Về phương diện ngữ nghĩa, xin được nhìn dưới 4 góc độ khác nhau:
Thứ nhất, nếu nó là cái đã sụp đổ thì đó là cái tên xúi quẩy, tất nhiên không nên vận vào mình.
Thứ hai, nếu nó là đích siêu việt, cái không định nghĩa được, là cái không có trong thực tiễn, thì không nên ôm ảo tưởng. Ít ra thì ta chưa nên mang danh mà ta chưa đạt được, đây là sự trung thực cần thiết của một đất nước có thiện chí đổi mới.
Thứ ba, nếu nó là cái mà nhân loại tiến bộ đã đạt được hoặc đang xây dựng, phấn đấu, thì ta hãy làm giống họ, không việc gì phải “treo đầu dê, bán thịt chó”. Có nước tiên tiến nào mang danh Xã hội chủ nghĩa đâu!
Thứ tư, cho dù có thể chứng minh được CNXH là cái tuyệt vời, nhưng con đường tiến đến nó cực kỳ khó khăn, đến nỗi chưa nước nào đạt được, thì liệu chúng ta có cần nhất thiết phải mạo hiểm đi đến đó không, khi tất cả những nước đi trước đều đã thất bại thảm hại và có rất nhiều nước khác không hề đi theo con đường đó, đều đã đạt được đến cái đích “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”? Tại sao ta không học tập những nước đã thành công, lại cứ nhất định đi theo những nước đã thất bại?
Sách Luận ngữ của Khổng Tử có câu: “Danh bất chính tất ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tất sự bất thành”. Hơn hai ngàn năm trôi qua, nhưng chân lý đó vẫn luôn đúng. Chúng ta hãy dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật để trả lại tên nước mà Bác Hồ đã đặt cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” Đây là cũng là hành động cụ thể để tôn trọng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc dựng nước.
4- Mạnh dạn trút bỏ những trói buộc do mình tạo ra
Trong mục 2 của phần III, khi nói về “Mục tiêu và phương hướng tổng quát 5 năm 2006 – 2010” dự thảo có viết: “..nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;...” tuy nhiên, làm thế nào để phát huy tốt sức mạnh toàn dân tộc? làm thế nào để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới? làm thế nào để huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực? thì vẫn chưa có giải pháp thoả đáng. Các biện pháp như: “Phát huy hơn nữa dân chủ xã hội chủ nghĩa; đổi mới hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước và chính quyền các cấp; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc... là những đoạn văn khẩu hiệu cũ kỹ, không tạo được bước đột phá về tư duy. Ai dám chắc rằng, với những biện pháp như thế, chúng ta sẽ gỡ được vô số những nút cổ chai đang cản trở nền kinh tế!
Trong một thời gian dài, chúng ta đã mất công tạo ra vô số sự trói buộc. Từ chuyện ngăn sông cấm chợ, xoá bỏ tư hữu, cấm kinh tế tư nhân, cấm giao lưu với tư bản nước ngoài, cấm phát ngôn trái với đường lối chủ trương của Đảng... và hàng ngàn thứ cấm khác.
Ngày đầu xuân, trong cuộc trao đổi với một cán bộ ngân hàng, chị này cho biết, hiện nay, mọi cán bộ ngành này muốn đi nước ngoài đều phải có tờ trình để thống đốc ngân hàng duyệt. Tôi hỏi: ông Thống đốc làm như vậy thì lấy đâu ra thời gian làm việc khác? chị bảo: Không những là những chuyến đi công tác ra nước ngoài mà cả những chuyến đi du lịch trong những ngày nghỉ, muốn xuất ngoại phải trình thủ tục trước đó ít nhất là cả tuần. Hình như quy định này có sự thống nhất với Tổng cục Hải quan.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, tự trói mình là tự sát. Từ khi có chính sách đổi mới, từng bước cởi trói đã giải phóng được rất nhiều nguồn lực, đời sống kinh tế, xã hội phát triển vượt bậc, quan hệ quốc tế trở nên thân thiện hơn... Tuy nhiên, dường như chúng ta còn lưu luyến với không ít những trói buộc ấy.
Sự cởi trói mới chỉ dừng lại ở một số chính sách ở tầm vi mô, còn lại những chính sách vĩ mô chưa cởi được bao nhiêu.
Thử đặt câu hỏi: Tại sao phải trung thành với học thuyết Marx- Lenin, trong khi học thuyết của hai ông này ra đời cách đây hơn một trăm năm và có rất nhiều điều không còn phù hợp với tình hình hiện nay? Mục tiêu của chúng ta là "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" hay là " kiên trì chủ nghĩa xã hội”? Sự nhầm lần giữa mục đích và phương tiện khiến chúng ta tự trói mình vào những cách nghĩ, cách làm xưa cũ, không phù hợp với dòng chảy hiện đại.
Với khoảng 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, ngoài Việt Nam, chỉ còn 3 nước theo con đường CNXH là Cuba, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên. Phải chăng đây là khuôn vàng thước ngọc để Việt Nam nhất thiết phải tuân theo. Phải chăng, chúng ta thông minh hơn phần còn lại của thế giới? Chúng ta có thực sự là “đỉnh cao của trí tuệ” không khi là một trong những nước nghèo nhất thế giới và tham nhũng nhất thế giới?
Tự trói buộc mình vào những khuôn phép giáo điều, những quy luật kinh tế riêng có của CNXH đã đưa đất nước đến đâu, kết quả thế nào đã rõ. Khi tự cởi trói cho mình đã góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo nên một thời kỳ phát triển mới của dân tộc. Tuy nhiên, để có những thành tích cao hơn, cần phải tiếp tục việc cởi bỏ những trói buộc do mình tạo ra. Đó cũng là cách làm hiệu quả để giải quyết những vấn nạn nhức nhối hiện nay.
5- Tôn trọng những ý kiến khác biệt
Đây là câu mà Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nói trong cuộc họp tổng kết năm 2005 của Hội đồng lý luận được chương trình thời sự của Đài truyền hình Việt nam đưa ngày 24/01/2006. Thực chất của điều này cũng chỉ là quyền tự do ngôn luận của nhân dân đã được ghi vào Điều 69 Hiến pháp: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. (Hiến pháp CHXHCNVN sửa lần thứ tư 1992).
Tại cuộc mít tinh kỷ niệm 76 năm ngày thành lập Đảng 3/2 tại Hà Nội, trong diễn văn kỷ niệm, ông Nguyễn Phú Trọng, Uỷ viên BCT, Bí thư thành uỷ Hà Nội cũng nhắc lại: “Sẵn sàng lắng nghe những ý kiến khác nhau” của các tầng lớp nhân dân. Điều này đã khẳng định tính ưu việt của Đảng ta, một đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong 75 năm qua.
Thêm nữa, theo Công ước Quốc tế về quyền con người mà Nhà nước ta đã tham gia ký kết từ 1982, điều 19 về quyền dân sự và Chính trị của Công ước Quốc tế ghi rõ:
“Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào. Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ”. (Việt Nam với Công ước Quốc tế về quyền con người. Nhà xuất bản Sự Thật 1992).
Về mặt lý thuyết là vậy nhưng thực tế diễn ra không phải vậy. Một tổng biên tập một tòa báo hoặc một phóng viên đều có thể bị sa thải bất cứ lúc nào chỉ vì đưa tin bài "không thích hợp" với định hướng của Ban Tư tưởng văn hoá, thậm chí chỉ là khác với cách nghĩ của một số người đang nắm quyền. Có người còn bị bắt bớ, giam cầm dăm bảy ngày chỉ vì những lý do tương tự.
Tự do ngôn luận là quyền cơ bản của công dân. Quyền của dân phải được trả lại cho dân và thực thi đầy đủ. Một xã hội dân chủ như vậy sẽ tạo ra không gian không hạn chế cho tinh thần kinh doanh, trí sáng tạo của mọi tầng lớp, của mỗi người Việt Nam. Trong một xã hội thực sự sôi nổi, sống động như vậy, mỗi người có thể trực tiếp và gián tiếp đóng góp cho việc quản lý xã hội, đóng góp cho quê hương, cho đất nước.
Lịch sử loài người đã chứng minh, chỉ khép kín trong nội bộ chính quyền, bộ máy nhà nước chưa bao giờ tự chấm dứt được quá trình quan liêu hóa, phình to ban bệ, chưa bao giờ tự mình gột rửa được khỏi tham nhũng, tư lợi và lạm dụng chức quyền. Chỉ có dân mới giúp được Nhà nước làm được việc đó, dân phải được giám sát, dân phải kiểm tra, dân phải bãi miễn mới cải cách được Nhà nước. Và dân phải tự tổ chức để tự quản đời sống địa phương, làng xóm.
Ngày Xuân năm Bính Tuất, dẫu thời gian không nhiều nhưng tôi đã kịp đi thăm một vài công trường trên địa bàn thủ đô. Không khí làm việc thật náo nhiệt và phấn khởi. Không chỉ Hà Nội, trên mọi nẻo đường của quê hương, đất nước yêu quý của chúng ta đang trở thành công trường xây dựng lớn trở thành công xưởng lớn và trường học lớn, nhưng vẫn còn đó vô vàn lực cản chưa được dỡ bỏ. Muốn làm giàu, cả nước phải trở thành một doanh nghiệp khổng lồ, trong đó, Bộ Chính trị là Hội đồng quản trị, Chính phủ là Ban giám đốc điều hành cái doanh nghiệp khổng lồ ấy. Muốn tạo cơ hội cho mỗi bàn tay, mỗi khối óc của mỗi người dân Việt Nam có thể phát huy hết năng lực vào công cuộc kiến thiết nước nhà phải đổi mới một cách toàn diện, không chỉ chính sách vi mô mà còn cả vĩ mô, cả hệ tư tưởng.
Trong lịch sử hàng nghìn năm của nhân loại, Việt Nam không phải là dân tộc hèn kém. Dân tộc Việt nam phải tiến mạnh hơn nữa trong công cuộc cải cách, xây dựng cái mới tốt đẹp và chữa trị những căn bệnh kinh niên đã kìm hãm đất nước hàng chục năm nay. Trong đó, nguy hiểm nhất là căn bệnh dối trá, không dám nhìn thẳng vào sự thật. Tham nhũng, quan liêu, cửa quyền cũng là con đẻ của căn bệnh này. Năm điều kiến nghị với Đảng với đầy thiện chí. Hy vọng sẽ được lắng nghe và phản hồi.
Trân trọng cám ơn quý vị đã quan tâm!
Kiến nghị ba điểm của Nhà báo Phan Thế Hải (*)
Sau khi gửi bản Kiến nghị 5 điểm cho Ban chấp hành Trung ương, một số cơ quan truyền thông đã đăng tải lại những ý kiến này. Qua đó, tôi đã nhận được hàng trăm bức thư và điện thoại của bạn đọc trong và ngoài nước gửi về. Trong đó có nhiều ý kiến bổ sung, khen chê nhưng đáng lưu ý là bạn đọc đã rất quan tâm đến Đại hội Đảng và các hoạt động chính trị của đất nước. Đây được coi là thời điểm vận nước đang lên.
Để làm rõ thêm một số cơ sở lý luận, tôi kiến nghị thêm ba điểm, mong rằng sẽ được Ban chấp hành Trung ương Đảng xem xét và cho ý kiến
1- Thận trọng khi “nhập khẩu” mô hình Trung Quốc
Việt nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng với nhau, đặc biệt là về lịch sử và về tập quán văn hoá. Có lẽ vì lý do đó, chúng ta đã “nhập khẩu” quá nhiều mô hình Trung Quốc. Từ “cải cách ruộng đất”, “hợp tác hoá”, “cải tạo tư sản tư nhân”, đến việc “cải cách mở cửa”, “chính sách đặc khu kinh tế”… Nó thực sự là những bản sao, nếu không muốn dùng từ “ăn cắp bản quyền”.
Đầu thế kỷ 20, người Trung Quốc sau hơn 100 năm bị các nước đế quốc xâu xé, khát vọng lớn nhất của dân chúng là độc lập dân tộc. Trong cơn khát đó, người Trung Quốc đã được uống một loại nước có nhiều độc tố là Chủ nghiã Marx- Lenin. Sự nhiễm độc này thoạt tiên là ngọt ngào, sau nồng độ tăng dần, độc tố thâm nhập sâu vào lục phủ ngũ tạng, lúc đó bùng phát thành một cơn shock thuốc vật vã mà cao điểm là cuộc “đại cách mạng văn hoá vô sản” (1966- 1976). Kinh tế bị tàn phá, văn hoá bị băng hoại, hàng chục triệu người con ưu tú của dân tộc Trung Hoa đã chết một cách oan uổng trong cơn say thuốc này.
Đặng Tiểu Bình đã có công giải độc cho Trung Quốc bằng “Lý luận con mèo” với câu nói nổi tiếng “Không phân biệt mèo trắng- mèo đen, miễn là bắt đựơc chuột” Tuy nhiên lý luận con mèo không phải là “thần đan tiên dược” trị bách bệnh. Giang Trạch Dân tiếp tục giải độc cho Trung Quốc bằng thuyết “Ba đại diện”. Tuy đạt được một số thành tựu về phát triển kinh tế, nhưng kinh nghiệm của Trung Quốc không phải “khuôn vàng thước ngọc” để Việt Nam nhất nhất phải tuân theo.
Nhìn xa hơn trong lịch sử cận đại, trong thế kỷ XI và XII, trên mọi phương diện, nền văn minh Trung Quốc đã đi trước hẳn châu Âu, nhưng đến thế kỷ 19 và 20 thì tụt lại xa ở phía sau. Theo Francis Bacon, một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc, “trong những năm đầu thế kỷ XX, in ấn, thuốc súng và nam châm đã làm thay đổi cả thế giới, thì chính ba thứ này xuất hiện đầu tiên tại Trung Quốc”. Vậy mà, Trung Quốc không những chỉ đánh rơi vị trí hàng đầu mà còn không tiến kịp châu Âu.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai Trung Quốc giành được chủ quyền và hội đủ điều kiện phát triển hết sức to lớn thì lại tập trung vào cuộc cách mạng văn hoá do Mao, một tín đồ của Marx chủ xướng, đã làm đất nước rối loạn và bị cô lập. Có thể bây giờ bằng mọi giá Trung Quốc muốn tránh lặp lại một kịch bản đen tối của quá khứ, nhưng hoàn toàn có lý khi cho rằng, với việc tôn thờ chủ nghĩa Marx- Lenin, khi con khủng long tỉnh giấc, tiếp tục sử dụng độc dược lại shock thuốc và cắn chính cái đuôi của mình! Đó là một thảm hoạ vẫn còn treo lơ lửng.
Để đánh giá một cách công bằng các thành tựu của Trung Quốc, ta thử ghé mắt sang Đài Loan và Hồng Kông, những “đứa con lạc loài” của Trung Hoa Đại lục vĩ đại. Những bước tiến của hai vùng lãnh thổ này sẽ khuyến cáo cho chúng ta, rằng bài học Trung Quốc không phải là “cẩm nang” cho nền kinh tế Việt Nam.
2- Chính sách ngu dân đang chống lại tư tưởng Hồ Chí Minh
Đảng ta có truyền thống ngu dân. Ngay từ khi mới ra đời, khi phát động phong trào “Xô viết nghệ tĩnh” năm 1930, Đảng ta đã lấy khẩu hiệu: “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” Trong đó, trí thức được coi là thành phần nguy hiểm nhất cần phải đào tận gốc, lật đổ. Có như thế, thợ thuyền, nông dân mới lên nắm được chính quyền. Đây là một truyền thống xấu, không đáng có của một đảng cầm quyền.
Rất may cho nước ta, Bác Hồ là người không ủng hộ chính sách ngu dân đó. Sinh thời, bác Hồ, coi ngu dốt là một thứ giặc. Năm 1945, khi dành được chính quyền bác đề ra ba mục tiêu: “Diệt gặc dốt, giặc đói và giặc ngoại xâm”. Trong ba thứ giặc đó, Bác coi dốt là một thứ giặc còn nguy hiểm hơn giặc đói và giặc ngoại xâm. Chính sách bình dân học vụ của Bác đã góp phần đắc lực trong việc xoá nạn mù chữ của người Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ, mặc dù trong thời kỳ trứng nước của cách mạng, nhưng dân trí Việt Nam đã được nâng lên một tầm cao mới.
Rất tiếc, chính sách này duy trì được chưa lâu, truyền thống ngu dân của Đảng lại có dịp trỗi dậy. Xin được dẫn ra đây một số dẫn chứng lịch sử:
Thứ nhất, đó là chính sách bưng bít thông tin.
Trong chiến tranh, ta có thể bào chữa là do yêu cầu của cuộc kháng chiến, nhưng trong hoà bình cũng vậy, những thông tin từ thế giới bên ngoài thường xuyên bị bưng bít. Theo đó, những thành tựu về kinh tế xã hội của các nước tư bản bị che đậy, xuyên tạc. Cùng với đó là sự tâng bốc các nước cùng phe. Cho rằng, chỉ có CNXH mới mang lại cơm ăn áo mặc cho dân chúng, còn chủ nghĩa tư bản toàn là cướp bóc, chém giết và bạo lực. Đây là một sự lừa dối trắng trợn.
Thứ hai, đẻ ra một bộ máy kiểm soát nguôn luận theo kiểu “triệt sản”
Tất cả mọi sáng tạo văn học, báo chí đều chịu sự kiểm duyệt của bộ máy này. Những tác phẩm không làm hài lòng người kiểm duyệt đều không được xuất bản, không được ra mắt công chúng. Sự kiểm duyệt này đã bóp chết sự sáng tạo từ trong trứng nước. Dân gian vẫn quen gọi là “nạo thai” hay “triệt sản” đối với sáng tạo của giới văn nghệ sỹ.
Trong thời đại ngày nay, khi công nghệ truyền thông đã phát triển lên đến trình độ cao, những thông tin từ các nước có nhiều đường lọt vào nước ta, nhưng Đảng vẫn tiếp tục duy trì chính sách ngu dân ấy. Đảng đẻ ra một bộ máy chuyên đặt bức tường lửa, che đậy sự thật trong nội bộ, che mắt dư luận…. Đây là một chính sách đi ngược lại với lợi ích của dân tộc.
Thứ ba, áp đặt chiếc “vòng kim cô” CN Marx- Lenin vào hệ thống tư duy
Một chuyên gia nước ngoài nhận xét: “Việt Nam hiện đang khủng hoảng về lý luận.” Nhận xét này rất có lý khi nhiều năm liền chúng ta lúng túng và đi chệch hướng. Nhưng thật lạ lùng, Đảng ta lại cấm tranh luận về những vấn đề lý luận cơ bản. Chủ nghĩa Marx- Lenin là bất khả xâm phạm, định hướng XHCN là không thay đổi, miễn bàn… Đây thực chất cũng chỉ là một biến tướng của chính sách ngu dân.
Chúng ta đang dương cao ngọn cờ Hồ Chí Minh nhưng lại liên tục thực thi một số chính sách ngu dân vô lý. Nếu Đảng không từ bỏ chính sách này sẽ bị lịch sử phán xét. Bài học về Ceaucexcu ở Rumani vẫn còn mới nguyên.
3- Từ bỏ chính sách nguỵ biện
Đã thành lệ, khi nào bế tắc, không giải quyết được vấn đề trong nước, Đảng ta lại đổ lỗi cho khách quan. Trước đây thì “các thế lực thù địch âm ưu phá hoại”, nay thì “diễn biến hoà bình”. Cứ như tuyên truyền của Đảng, xung quanh chúng ta lúc nào cũng nhung nhúc kẻ thù. Luận điểm này không mới, thậm chí nghe mãi đâm quen, cứ tưởng thật.
Hãy phóng tầm mắt sang một số nước khu vực: Bên cạnh Đài Loan là một con khủng long Trung Quốc cộng sản, lúc nào cũng chực ăn tươi nuốt sống mình, nhưng Đài Loan vẫn liên tục phát triển và đạt đựơc những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế. Bên cạnh Hàn Quốc là người anh em Bắc Triều Tiên, có chút vũ khí hạt nhân lúc nào cũng đưa ra doạ thanh toán nhau, nhưng kinh tế Hàn quốc phát triển thế nào thì đã rõ. Trường hợp của Nhật Bản, Hồng kông sau chiến tranh cũng vậy. Còn Việt Nam, khi chiến tranh đã đi qua 30 năm nay, nhưng lúc nào cũng viện cớ “các thế lực thù địch” chống phá chúng ta. Đây là luận điểm “cũ như cái hũ” nhằm biện minh cho những yếu kém của mình.
Hiện tại trong nước có một số người bất đồng chính kiến, họ là những người đã già, không còn tham vọng và không có năng lực chính trị. Tuy nhiên, Đảng đã thổi phồng nguy cơ này lên, lu loa với thế giới rằng, đây là những phần tử chống đối, nguy hiểm tới an ninh quốc gia. Lấy cớ đó để tiến hành các hoạt động bắt bớ, giam cầm, đàn áp những người có ý kiến khác biệt. Hơn thế là việc tăng cường bộ máy quân đội, công an, tăng cường ngân sách cho các hoạt động đó.
Nếu Đảng hy sinh lợi ích của mình, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, hãy từ bỏ chính sách nguỵ biện đó, thành tâm hội nhập với thế giới mới có hy vọng đưa dân tộc thoát nghèo, Việt Nam mở mặt mở mày với thiên hạ.
Trân trọng cám ơn những người có trách nhiệm đã quan tâm!
Hà nội ngày 02/03/2006
([4]) Phan Thế Hải 1- Định nghĩa rõ, nhà nước ta là Đảng quyền hay Pháp quyền
Đây là câu hỏi mà thực tiễn đặt ra đã lâu nhưng trong báo cáo chưa có câu trả lời thoả đáng. Trong phần XIII với tiêu đề: “PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” báo cáo nói nhiều về nhà nước pháp quyền XHCN, nhưng bản chất của nhà nước pháp quyền này là gì thì chưa giải thích thoả đáng. Tôi đã dùng câu này để hỏi nhiều cán bộ lãnh đạo trung cao cấp. Câu trả lời là không thống nhất và thường là chia làm hai luồng:
Nhóm ý kiến thứ nhất cho nhà nước ta là Pháp quyền lý giải rằng: Đâu đó, có vẫn có khẩu hiệu: Sống và làm việc theo pháp luật, rằng chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền.
Nhóm ý kiến thứ 2 cho rằng nhà nước ta là Đảng quyền lý giải rằng, Điều 4 Hiến Pháp Việt Nam ghi: “ĐCSVN, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả Dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và Xã hội”. Ở một số diễn đàn quan trọng, các vị lãnh đạo đều cho rằng: Đảng lãnh đạo một cách tuyệt đối và toàn diện. Cũng chính vì lý do này, một số phiên toà trọng điểm đều có sự chỉ đạo trực tiếp của Ban bí thư. Dân chúng thay vì phải học luật là học nghị quyết (....)
…Sự nhá nhem này đã xẩy ra không ít chuyện hài ước: chính quyền xã khi xác nhận hồ sơ cho công dân xin việc, phần phía dưới thường ghi: “Bản thân và gia đình chấp hành tốt chủ trương đường lối của Đảng...” mà không cần quan tâm rằng, với tư cách công dân, anh ta có phạm luật hay không! Khi cán bộ còn không định nghĩa được nhà nước ta là Pháp quyền hay Đảng quyền thì việc nâng cao ý thức pháp luật của dân chúng là điều vô cùng khó khăn.
Nhân loại đang nỗ lực hoàn thiện một xã hội pháp quyền, trong đó quyền công dân được ghi rõ trong Hiến pháp. Nếu chúng chúng ra muốn hội nhập với thế giới, không nên luyến tiếc điều 4 của Hiến pháp, khi nó không còn hợp thời. Thêm nữa, nếu đảng tự tin vào chính bản thân mình, hãy để cho nhân dân tự đánh giá, tự phán xét. Không ai khác, nhân dân sẽ lựa chọn đảng mà không cần bất cứ một sự áp đặt nào. Việc thể chế hoá bằng luật chỉ là biểu hiện của một sự thiếu tự tin, sự không minh bạch mà thôi.
Đó là chưa nói đến việc, từ chính sách Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện đã đẻ ra một bộ máy khổng lồ song trùng với chính quyền. 64 tỉnh thành có 64 ông chủ tịch, 64 ông bí thư, 64 bộ máy tỉnh uỷ. Hơn 600 huyện cũng vậy. Chúng ta có một hệ thống chính quyền kép. Chính quyền lồng trong chính quyền ở cả bốn cấp, rất cồng kềnh nhưng không ai chịu trách nhiệm chính. Một doanh nhân nói với tôi: Khi dự án của ông đã được UBND tỉnh thông qua, nhưng theo lời khuyên của một chuyên viên, ông buộc phải sang xin ý kiến của tỉnh uỷ. Nếu ông Bí thư tỉnh uỷ chưa có bút phê thì đừng hòng triển khai nổi.
Sự song trùng của bộ máy không chỉ làm tăng biên chế, tăng chi phí cho bộ máy mà còn tạo thêm một cửa, một sự phức tạp, thêm một nút cổ chai cho các thủ tục hành chính.
Chính vì cách thức tổ chức bộ máy này, hiện nay Việt Nam có 6 triệu người ăn lương. Con số này của Thái Lan là 2 triệu. Thế nhưng bộ máy của chúng ta không phải vì thế mà hoạt động có hiệu quả hơn. Không những thế, bộ máy song trùng còn tạo thêm một cửa buộc các nhà đầu tư phải đi qua. Khi dự án đã được duyệt ở UBND tỉnh, nhưng tỉnh uỷ không đồng ý, dự án đó nghiễm nhiên bị ách lại. Muốn qua được cửa này buộc phải thoả hiệp, phải “đi đêm”, nếu không đừng hòng triển khai. Khi xác định được nhà nước ta là pháp quyền, các cơ quan Đảng sẽ tự động thu hẹp lại và chỉ là một bộ phận kiêm nhiệm trong hệ thống chính quyền. Theo cách này, chúng ta không những minh bạch hoá nền chính trị đất nước mà còn giảm được khoảng 1 triệu công chức trong các cơ quan đảng và các đoàn thể.
Bộ máy song trùng và đồ sộ của nước ta đã tồn tại hơn nửa thế kỷ qua, ai cũng thấy rằng nó là cồng kềnh và kém hiệu lực, nhưng giải quyết thế nào để giải thoát sự cồng kềnh ấy, sự kém hiệu lực ấy thì báo cáo không hề đề cập đến. Nếu chúng ta định nghĩa rõ, nhà nước Việt nam là Nhà nước Pháp quyền, Đảng có mặt trong những khâu quan trọng của bộ máy mà không hình thành một bộ máy riêng, ăn lương ngân sách sẽ từng bước giải quyết được vấn nạn này.
([5]) Trần Minh Thảo. Hướng đến một nền chính trị dân chủ. Nguồn : www.bbc.co.uk/vietnammese
Tôi thấy vừa qua các góp ý cho văn kiện của Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam có hai loại: phê phán kịch liệt hoặc bênh vực triệt để chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bài viết không mang tính học thuật chỉ nhằm trình bày một số suy nghĩ với những ai đã từng góp ý cho văn kiên đảng, không phải là góp ý cho văn kiện đó.
1/ Chủ nghĩa Mác-Lê vẫn hấp dẫn:
Về thực tiễn và lý luận, khi Đông Âu sụp đổ đã chứng tỏ học thuyết Mác đã cáo chung nhưng chỉ cáo chung ở các nước văn minh, đã phát triển.
Theo tôi thì cho đến bây giờ, học thuyết ấy vẫn còn sức hấp dẫn đặc biệt. Thử nhìn vào các cuộc tranh giành quyền lực hiện nay ở một số nước châu Phi, Trung, Nam Mỹ, châu Á thì thấy ngay bóng dáng học thuyết Mác Lênin đằng sau những cuộc nổi dậy, những cuộc đảo chính, những lời hô hào lật đổ, bóng dáng của đấu tranh giai cấp, của tước đoạt.
Tại sao vậy? Có thể trả lời ngay: mục đích của tranh giành quyền lực có mùi lật đổ chính là ước muốn cháy bỏng thông qua quyền lực mà chiếm hữu của cải nhiều hơn. Nhất là trong các quốc gia mà phương thức sản xuất nào đó không làm ra nhiều của cải và phương thức phân chia của cải xã hội nào đó đầy dẫy bất công thì cuộc đấu tranh giành quyền lực càng gay gắt,quyết liệt và ở đó mặc nhiên có Mác Lênin, có sự tham dự đông đảo của nhân dân đói nghèo.
Ở châu Á, theo Mác có phương thức sản xuất đặc biệt nên khó lòng thực hiện chủ nghĩa Mác. Nhưng xét lịch sử Trung hoa và Việt nam thì khẩu hiệu đấu tranh giai cấp của tiến sĩ Mác là giống với khẩu hiệu “cướp của nhà giàu chia cho người nghèo” của người nông dân tá điền thất học hoặc ít học. “Cướp của nhà giàu chia cho người nghèo” và “tước đoạt” là có cùng phương thức và mục đích.
Lịch sử không thể giả định nhưng cứ cho là tất cả các phong trào cách mạng (nông dân hay công nhân) từ trước đến nay ở Trung quốc và Việt nam không nêu, không thực hiện khẩu hiệu “cướp của nhà giàu chia cho người nghèo”, ”tước đoạt” thì có tập hợp được lực lượng, có thành công không?
Tôi nghĩ là nếu các cuộc cách mạng không dùng khẩu hiệu “ăn cướp”, ”tước đoạt” thì rất ít có khả năng thành công vì không thể tập hợp được những người đói nghèo chịu nhiều áp bức bất công tham gia lực lượng cách mạng, giải phóng, hy sinh cho cách mạng, giải phóng. Đó chính là bi kịch của cách mạng giải phóng. Giải phóng xong vẫn cứ đói nghèo, vẫn cứ bị áp bức bóc lột.
Vì các cuộc cách mạng giải phóng đó chỉ biết có một việc tước đoạt của cải mà không có cách làm ra nhiều của cải hơn. Tuy vậy, khẩu hiệu tước đoạt cho đến nay vẫn còn sức hấp dẫn đặc biệt vì người cộng sản đã nêu ra tấm gương cứ tiến hành cách mạng lật đổ thì sẽ hết đói nghèo cho người làm cách mạng. Làm cách mạng chỉ mất đói nghèo, xiềng xích mà được thì được rất nhiều.
Hai phần của học thuyết Mácxít:
a/Phần “trên trời” của học thuyết Mác-Lênin: Đó là bộ ba: triết học, chính trị kinh tế học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Phần này tôi tạm gọi là phần trên trời vì nó nói đến một thế giới đại đồng, một thứ thiên quốc của Nho giáo, là thứ để trí thức tranh luận với nhau, là thứ để nghiên cứu. Trong thứ nước trời đó không có nhà nước, không có luật lệ. Mỗi cá nhân đạt đến trình độ tự giác rất cao, làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu, của cải dư thừa. Đó là thứ nước trời có tên là xã hội cộng sản chủ nghĩa khoa học. Người Trung Hoa gọi là thế giới đại đồng.
b/Phần “dưới đất” của học thuyết Mác Lênin còn gọi là hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác. Hòn đá tảng hay sợi chỉ đỏ xuyên suốt của chủ nghĩa Mác là chuyên chính vô sản. Muốn có chuyên chính vô sản thì giai cấp vô sản phải đoàn kết lại làm cách mạng tiêu diệt giai cấp tư sản bốc lột và thiết lập công cụ cai trị của mình là nhà nước chuyên chính vô sản (quân đội, công an,cảnh sát, nhà tù, toà án…), còn gọi là nhà nước nhân dân hoặc nhà nước XHCN. Thông qua công cụ nhà nước chuyên chính vô sản, đảng của giai cấp vô sản tước đoạt lại của cải là thứ mà giai cấp tư sản đã bốc lột của giai cấp vô sản thông qua giá trị thặng dư và để trấn áp sự phục thù phản cách mạng của giai cấp tư sản trở nên điên cuồng gấp nhiều lần do đã mất tất cả (Mác, Lênin dạy như vậy).
Do có sự phản kích điên cuồng như vậy, do giai cấp tư sản luôn ngóc đầu dậy như vậy, do tư tưởng tiểu sản lưu manh luôn tái hiện như vậy cho nên một số người cộng sản nói về cuộc các mạng thường trực tức là hành vi trấn áp thường trực mọi toan tính chiếm hữu của cải kiều tư bản chủ nghĩa (Như vậy, bất cứ ai có chiếm hữu của cải nói chung đều phải trở thành đối tượng trấn áp chuyên chính của cách mạng vô sản).
Có lẽ do nghĩ như vậy mà nhà lý luận hàng đầu Nguyễn Đức Bình không đồng ý cho đảng viên cộng sản làm kinh tế tư nhân.
Trong các cuộc “cách mạng” của Lưu Bang ở Trung hoa trước công nguyên, cuộc “cách mạng” của anh em Quang Trung ở Việt nam ở thế kỷ 18 và các cuộc cách mạng vô sản ở một số nước trong thế kỷ 20 có gì giống nhau?
Theo tôi thì chúng hoàn toàn giống nhau. Cái giống nhau rốt cuộc là cả hai đều đưa đất nước lâm vào tình thế lại nổ ra cuộc cách mạng khác, là đêm trước của cuộc cách mạng khác, phải tiến hành cuộc cách mạng khác do hành vi tước đoạt của cải xã hội không biết chán của quyền lực cai trị sau cách mạng thành công. Chẳng phải Mác, Lênin đã dạy ở đâu có bóc lột, ở đâu có chiếm hữu tư nhân của cải xã hội thì ở đó phải làm cách mạng vô sản, phải dùng công cụ chuyên chính để tước đoạt và tước đoạt lại đó sao?
Có ý kiến cho rằng nếu ông Nguyễn đức Bình thành lập một đảng Cộng sản khác thì đảng ấy chẳng có mấy đảng viên.
Tôi thì nghĩ khác. Một là, do bế tắc nhiều mặt, đảng Cộng sản chủ trương kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,coi doanh nhân là nhân vật trung tâm của sự phát triển, tức là nhân vật trung tâm làm ra của cải cho xã hội. Chủ trương đó làm dịch chuyển các giá trị và địa vị xã hội. Doanh nhân có vị trí trong đời sống kinh tế,xã hội,có ảnh hưởng đến chính trị mà một số đảng viên không có hoặc sẽ mất đi. Một bộ phận đảng viên không vui lòng thấy có sự chuyển dịch như vậy, sự mất đi như vậy. Khối đảng viên cộng sản này sẽ trở thành lực lượng hậu thuẫn tư tưởng Nguyễn Đức Bình.
Hai là, tôi cho rằng ông Bình sẽ nhanh chóng tập hợp được lực lượng. Bởi vì trong các nước còn nghèo đói, đại bộ phận nhân dân sống dưới mức bình thường thì khẩu hiệu “cướp của nhà giàu chia cho người nghèo” luôn có sức hấp dẫn đặc biệt. Ông phải nêu khẩu hiệu đó vì ông ta là người cộng sản kiên định học thuyết Mác Lê nin và tư tưởng Hồ chí Minh. Và rồi ông sẽ thành công, sẽ bước vào vết xe đổ của các đồng chí của mình trước đó và rồi lại có người cộng sản kiên định khác tiến hành cuộc cách mạng cùng với khẩu hiệu”tước đoạt” như ông đã dùng.
Theo tôi, chủ nghĩa Mác không phải là thứ để cho trí thức tranh luận như một số hệ tư tưởng khác mà phải thực hành học thuyết Mác, thực hành chuyên chính và tước đoạt mới thực sự quán triệt Mác.
Tại sao các đảng viên công sản ưu tú, kiên định lại không nêu cao ngọn cờ đấu tranh giai cấp nữa? Hay Việt nam ngày nay không còn sự chiếm hữu tư nhân về của cải, không còn cảnh người bốc lột người nữa? Hay là vì đảng viên Cộng sản hết nghèo nên giai cấp tư sản hết phản động?
Theo tôi, trung thành với chủ nghĩa Mác và các thứ thì nhất định phải tiến hành cách mạng lật đổ, tước đoạt.
2/ Bênh vực hoá ra lật đổ:
Trên các phương tiện truyền thông trong nước và trên mạng internet tôi thấy có các cuộc tranh luận gay gắt về chủ nghĩa Cộng sản xoay quanh khái niệm bóc lột.
Các cuộc tranh luận đó đáng ngạc nhiên là chỉ nói đến cái phần trên trời của chủ nghĩa Mác mà ít hoặc không có chữ nào đề cập đến phần dưới đất của chủ nghĩa Mác và như vậy theo tôi là chưa nói về chủ nghĩa Mác đích thực, là mù tịt chủ nghĩa Mác.
Vì đơn giản là phải có chuyên chính vô sản và không ngừng tước đoạt của cải tư hữu mới thiết lập được xã hội Cộng sản chủ nghĩa khoa học. Khuất phục người khác bằng lý luận Mác xít có mục đích là tập hợp lực lượng để làm cuộc cách mạng vô sản. Trong tình hình phân hóa khốc liệt của Việt nam, một số ít người ăn không hết, tuyệt đại bộ phận thì lần không ra, đạo đức suy đồi, thuyết giáo chủ nghĩa Mác chính là để lật đổ, để tước đoạt. Thuyết giáo càng hay thì khả năng lật đổ càng lớn.
Trong thời phong kiến,một cuộc bạo loạn nông dân nào đó nổ ra mà được Nho gia nói là do được mệnh trời thì cuộc nổi dậy ấy có cơ hội thành công. Ví như giai thoại về cái gọi là:”Lê Lợi vi quân, Nguyễn trãi vi thần”. Anh em Nguyễn Nhạc cũng làm vậy mà được đông đảo dân nghèo đi theo.
Chứng minh rằng học thuyết Mác là đúng đắn chính là cách trang bị cho các cuộc nổi dậy tính chính nghĩa. Mối họa của đảng Cộng sản và của Việt nam ngày nay nằm chính trong học thuyết Mác-Lênin và các thứ tư tưởng dẫn xuất, không phải từ các phong trào dân chủ.
Kinh điển Mác-Lênin thì đồ sộ, nói mãi vẫn còn thứ để nói nhưng cũng có thể tóm tắt học thuyết ấy vào mấy từ: Học thuyết về tước đoạt. Tước đoạt là hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác.Cũng như vậy,”cướp của nhà giàu chia cho người nghèo” là hòn đá tảng của các phong trào nông dân châu Á. Không đợi đến khi tiến sĩ Mác sáng tạo ra học thuyết, nông dân đói nghèo vô học châu Á đã thực hành học thuyết ấy đã hơn 2000 năm rồi, lại rất thành thạo.
Đảng Cộng sản Việt nam và các công cụ chuyên chính của nó có đánh bại được các cuộc cách mạng vô sản sắp xảy ra hay không? trả lời câu hỏi đó là cách chứng minh học thuyết Mác là đúng đắn hay không đúng đắn, vô địch hay không vô địch.
3/ Phê phán mà là xây dựng:
Một cách đơn giản là những người phê phán chủ nghĩa Mác chính là những người không chủ trương lật đổ kiểu Mác xít, tức là không chủ trương tước đoạt hoặc tước đoạt lại. Họ đòi dân chủ kiểu nghị viện, dân chủ có đối lập.
Đòi hỏi đó có ý thức trách nhiệm cao với đất nước. Họ chống chủ nghĩa Mác tức là chống học thuyết tước đoạt. Phê phán chủ nghĩa Mác và chỉ đòi dân chủ là công nhận sự tước đoạt vừa qua là một thực tế lịch sử, là một thực tế không đặc thù, công nhận đảng cộng sản là một thực thể đang cai trị đất nước. Những người dân chủ đòi đối lập với thực thể ấy.
Họ không đòi tước đoạt lại, tức là không tiến hành lật đổ cái mà Mác gọi là giai cấp thống trị bóc lột. Theo tôi đấy là chủ trương mà Nguyễn Trãi cho là chí nhân, đại nghĩa. Chỉ có chủ trương như vậy thì Việt nam mới nhanh chóng có nền chính trị dân chủ mà đất nước duy trì được sự ổn định và phát triển bền vững.
Lời kết
Phần trên trời của chủ nghĩa Mác là phần dùng để thuyết giáo, phần dưới đất mới tạo ra sức mạnh cho cuộc cách mạng, có sức quyến rũ rất mãnh liệt.
Phần trên trời dùng để biện minh cho hành vi tước đoạt, làm cho hành vi tước đoạt có thể chấp nhận được. Nó trang bị tính chính thống,chính nghĩa cho hành vi tước đoạt. Cướp của nhà giàu chia cho người nghèo thường được nhiều người gật đầu thông cảm bỏ qua.
Không hiểu gì phần trên trời, chỉ cần thực hành phần dưới đất của học thuyết Mác thì cũng trở thành người giác ngộ chủ nghĩa Mác, càng thực hiện triệt để phần dưới đất của học thuyết ấy thì càng trở thành người cộng sản kiên định quan điểm, lập trường.
Nhưng cả phần trên trời lẫn phần dưới đất của chủ nghĩa Mác trong thực tế chứng tỏ là không đúng, là sản phẩm của một thứ văn hóa thấp (nói theo tiến sĩ Hà sĩ Phu). Cuộc cách mạng XHCN dưới nền chuyên chính vô sản không làm ra được nhiều của cải mà phương thức phân chia của cải của nó lại đầy rẩy bất công. Xã hội định hướng XHCN (nôm na là định hướng tước đoạt, doanh nhân là con bò sữa) luôn làm cho xã hội lâm vào tình cảnh đêm trước của cuộc cách mạng.
Vậy nhân loại ngày nay có mô hình kinh tế, chính trị, xã hội nào vừa làm ra được nhiều của cải vừa có phương thức phân chia của cải cho toàn xã hội công bằng nhất?
Việt nam cần một cuộc cách mạng vô sản khác để tước đoạt lại hoặc một nền chuyên chính khác để tiếp tục tước đoạt hay cần một cuộc cải cách chính trị dân chủ triệt để, hướng đến xã hội công bằng, văn minh và phát triển bền vững?
Trả lời câu hỏi đó tức là giới thiệu được mô hình phát triển cho đất nước cũng là định hướng phát triển đúng đắn cho đất nước. Và nếu thế giới đại đồng (của cải dư thừa) là một ham muốn rất nhân bản thì ngoài chủ nghĩa Mác có thứ gì có thể làm cho nhân loại đạt được ước mơ ấy không?
Sau rốt, người cộng sản kiên định và người cộng sản không còn kiên định còn có chút lương tri phải trả lời câu hỏi này:
Tại sao dân nghèo Việt nam đầu thế kỷ hai mươi thì có quyền đào tận gốc trốc tận rễ trí phú địa hào mà dân nghèo Việt nam đầu thế kỷ 21 thì không? Chủ nghĩa Mác không còn đúng hay sao?Phải lật chúng nó đi hay phải nên dân chủ hóa chính trị quốc gia?
([6]) Nguyễn Đại Việt. Việt Nam — 60 năm xây dựng và huỷ diệt
Cách đây 31 năm, thế giới đã ngoảnh mặt đứng nhìn miền Nam Việt Nam bị bao vây, thản nhiên nhìn người Việt miền Nam đơn độc chống trả lại sự tấn công toàn lực của hệ thống Cộng sản quốc tế. Sự thiếu thốn đạn dược của quân đội VNCH, sự chênh lệch về hoả lực của hai bên trong mấy năm sau cùng, khiến tiền đồn chống Cộng của khối tự do ở Đông Nam Á bị thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đồng minh của miền Nam lặng lẽ di tản trong tiếng reo mừng chiến thắng của người bộ đội Cộng sản Bắc Việt. Trong tiếng reo ấy, người ta cũng nghe những tiếng súng lục ngắn gọn, những tiếng nổ rải rác của lựu đạn, âm thanh của kinh ngạc và uất hận, thể hiện tinh thần tự do và trách nhiệm cao độ nhất của người lính VNCH, đồng thời những tiếng súng và tiếng lựu đạn ấy cũng báo hiệu sự kết thúc của nền tự do dân chủ ở phía nam con sông Bến Hải. Cũng từ ngày Sài Gòn bị đổi tên, người dân miền Nam phải ngày đêm đi xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) để bắt kịp miền Bắc, vốn đã bắt đầu từ những năm 1945.
Quá trình xây dựng CNXH trong 60 năm của hai miền Nam Bắc đã tàn phá phần lớn tiềm lực và tiềm năng quốc gia. Tinh thần dân tộc được bồi đắp trong suốt mấy ngàn năm bị huỷ diệt và thay bằng tinh thần XHCN. Nền văn hoá lâu đời cũng bị phế bỏ và thay bằng nền văn hoá Cộng sản quốc tế. Đối với các thế hệ XHCN, lịch sử Việt Nam dường như chỉ mới bắt đầu cách đây 6 thập niên.
Sự huỷ diệt tinh thần dân tộc là điều căn bản để xây dựng chủ nghĩa Cộng sản. Nghĩa là phải xoá bỏ những gì đang hiện hữu, những gì dính líu đến quá khứ, kể cả tư duy của con người, kể cả lịch sử ngàn năm của một quốc gia, kể cả phong tục tập quán và nền văn hoá lâu đời của dân tộc ấy. Xoá bỏ có nghĩa là huỷ diệt hoặc tàn sát. Cộng sản Khmer Đỏ chọn phương pháp tàn sát tập thể để xoá bỏ. Những cánh đồng đầy xác người, nơi hàng vạn người Khmer bi tàn sát, được chọn làm nơi đặt nền tảng cho chủ nghĩa Cộng sản ở Kampuchia. Tuy không sử dụng phương thức tàn sát tập thể như Khmer Đỏ, người Cộng sản Việt Nam đã chọn những phương pháp không kém dã man và tàn bạo khác, những phương pháp thiếu tính nhân bản để huỷ diệt tinh thần dân tộc của quốc gia này.
Chủ trương huỷ diệt tinh thần dân tộc Việt Nam qua quá trình xây dựng CNXH được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất được thực hiện ở miền Bắc từ 1945 đến năm 1975. Giai đoạn thứ hai được tiến hành ở miền Nam từ 1975 đến 1985. Quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa trong hai thời kỳ này, không những đã tiêu diệt nền văn hoá và tinh thần dân tộc lâu đời, mà còn đào tạo hai thế hệ XHCN. Thế hệ thứ nhất gồm những người cuồng tín và giáo điều, chịu ảnh hưởg nặng nề tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm và tinh thần phi nhân bản. Nhờ sự sụp đổ của Cộng sản quốc tế và chính sách đổi mới, thế hệ thứ hai không bị ảnh hưởng nghiêm trọng như thế hệ XHCN đầu tiên. Trong 20 năm qua, từ năm 1986 đến năm 2005, xã hội Việt Nam bị biến dạng nhiều so với thời kỳ bao cấp, bị xô đẩy đi sâu vào sự băng hoại và hỗn loạn. Trong đó, sức mạnh vật chất đang khống chế con người và giá trị đạo đức của xã hội này.
Người Cộng sản bắt đầu công trình huỷ diệt tinh thần dân tộc qua cuộc cải cách điền địa, đi đôi với phong trào đấu tố được phát động trên toàn miền Bắc từ năm 1949. Người dân của mọi thành phần, từ nông dân đến địa chủ, từ công nhân đến trí thức, từ nghèo đến giầu, từ già đến trẻ, bất kể nam nữ, tất cả đã phải chịu đựng biết bao thống khổ, dày vò vì phong trào đấu tố. Người dân miền Bắc phải chịu tủi nhục, cắn răng, ngậm miệng, khi buộc phải vất bỏ tính người và khoác lên mình một sự tàn ác, một tinh thần phi nhân bản, để sống và đối xử với nhau
Quả vậy, từ 1949 đến 1956, phong trào đấu tố đã khiến mọi người phải đấu tố lẫn nhau để giành quyền sống. Người làm công đấu tố chủ của mình, con cái đấu tố cha mẹ, vợ đấu tố chồng, em đấu tố anh, bạn bè người thân đấu tố lẫn nhạu Suốt 8 năm đấu tố liên tục, người Cộng sản đã khuất phục được mọi tầng lớp trong xã hôi. Đấu tố là hình thức khủng bố thể xác và tinh thần một cách phi nhân bản, là phương pháp rất hữu hiệu trong việc đánh quỵ mọi tư tưởng phản kháng và chống đối tự nhiên của con ngượi Kết quả là con người sẽ dễ dàng bị uốn nắn và dễ dạy bảo hơn. Để hoàn thành việc xoá bỏ nền văn hoá, phong tục tập quán, và tính nhân bản của người dân miền Bắc, song song với phong trào đấu tố, người Cộng sản đã bao vây, cô lập, và huỷ diệt tinh thần của họ tân gốc rễ qua chính sách bần cùng hoá nhân dân. Bị cô lập nghĩa là không có cơ hội so sánh, làm giảm sự bất mãn và phản kháng, tạo thêm sự dễ dàng và thuận lợi cho chính sách bần cùng hoá của họ.
Các kế sách của chủ trương bần cùng hoá nhân dân là chính sách bao cấp và chế độ hộ khẩu Trong đó, mọi sinh hoạt hàng ngày của người dân đều được chỉ đạo và kiểm soát bằng khủng bố và bạo lực. Từ việc đi đứng đến cách ăn uống, nhất cử nhất động đều do đảng Cộng sản kiểm soát và ban phát. Dưới chính sách bao cấp, nhân phẩm của người dân miền Bắc bị chà đạp đến tân cùng. Họ phải tố cáo nhau để được hưởng ân huệ của đảng, phải giành giật nhau từ những cái tầm thường và nhỏ nhặt nhất để bù đắp vào sự suy nhược tinh thần lẫn vật chất trong quá trình xây dựng CNXH. Cái cảnh mà người ta phải buôn trộm bán lén phân bắc, đủ diễn tả hết cái đói khổ cùng cực, cái thiếu thốn và sự bần cùng, mà người dân miền Bắc phải gánh chịu trong giai đoạn này Hãy lưu ý rằng, sự thiếu thốn ấy là do chính sách bần cùng hoá người dân của chủ nghĩa Cộng sản, không phải miền Bắc không có tiềm lực và khả năng về kinh tế.
Trước đây, xã hội miền Bắc, được xem là cái nôi của nền văn hoá và văn minh dân tộc. Đặc biệt là Hà Nội, một thời được mênh danh là xứ ngàn năm văn vật, nhưng chỉ trong ba thập niên, từ năm 1945 đến 1975, đã bị biến dạng một cách đáng sợ. Miền Bắc bị biến thành một xã hội của những con người mà từ cách ăn mặc, cách ăn nói, cách đi đứng, cách lý luận, đều rập theo một khuôn mẫu. Một xã hội trong đó người ta phải miễn cưỡng làm những kẻ cuồng tín, phải vất bỏ đi cái đạo đức căn bản nhất của con người khi làm việc, cũng như khi hành xử với nhạu Ba thập niên xây dựng CNXH cũng đã biến những miễn cưỡng ban đầu ấy thành các thói quen tự nhiên của người dân miền Bắc. Những miễn cưỡng ấy dần dần trở thành phong tục tập quán, khởi đầu cho nền văn hoá Cộng sản quốc tế và tinh thần XHCN. Tinh thần XHCN là nguyên nhân chính của sự tàn phá xã hội Việt Nam trong quá khứ, hiện tại, và là mối di hoạ cho việc phát triển quốc gia này trong nhiều thập niên tới.
Quả vậy, ảnh hưởng của nền văn hoá Cộng sản quốc tế và tinh thần XHCN khiến miền Bắc bị biến dạng thành một xã hội đầy kịch tính, một xã hội của giả tạo và của nghi kỵ Trong xã hội ấy, động lực làm việc là sự sợ hãi, sự miễn cưỡng, sự bắt buộc, và sư khủng bố. Tinh thần vị kỷ trở nên thịnh hành và phổ biến, trong khi ý thức trách nhiệm thì hầu như hoàn toàn bị tiêu diệt. Dưới chế độ Cộng sản, người ta thường nhầm lẫn cái định nghĩa giữa tinh thần trách nhiệm và sự hăng say vì cuồng tín của con người.
Sau một thời gian xây dựng CNXH, người ta thấy tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm, và tinh thần thiếu nhân bản bắt đầu hình thành, dần dần lấn tính nhân bản cao quý và những đức tính tự nhiên tốt đẹp khác của người dân miền Bắc. Tinh thần vị kỷ và vô trách nhiệm đã khống chế mọi sinh hoạt hàng ngày trong xã hội. Đây là một sắc thái đặc trưng trong xã hội miền Bắc suốt thời kỳ CNXH được hô hào xây dựng ở phần đất này. Nói một cách khác, nền văn hoá lâu đời và tinh thần dân tộc của người dân miền Bắc được xây đắp suốt mấy ngàn năm, đã bị phế bỏ, và hầu như bị tiêu diệt chỉ vỏn vẹn trong ba thập niên xây dựng CNXH.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngoài việc áp dụng chế độ bao cấp và chế độ hộ khẩu ở miền Nam, công trình tiêu diệt nền văn hoá và huỷ diệt tinh thần dân tộc được tiếp tục với chính sách học tập cải tạo và chương trình kinh tế mới. Để tiến hành giai đoạn hai trong việc huỷ diệt tinh thần dân tộc của cả nước, nhà tù và trại cải tạo được xây dựng khắp nơi trên toàn quốc. Nghĩa là nơi nào có con người thì nơi ấy có nhà tù hoặc trại cải tao. Thật vậy, một mặt vì e rằng việc sử dụng chính sách diệt chủng và tàn sát tập thể có thể gây bất lợi cho đảng CSVN đối với quốc tế. Mặt khác, họ cũng e ngại rằng việc tàn sát tập thể có thể tạo nên một cuộc nổi dậy của người dân miền Nam, vốn đã sống dưới chế dộ tự do dân chủ trong một thời gian khá lâu. Do vậy, nhà tù, trại cải tạo, vùng kinh tế mới, cộng thêm các nhãn hiệu “phản động” và “tư sản mại bản”, tất cả những thứ ấy, được xem là phương pháp hữu hiệu, được dùng đầy đoạ thể xác và huỷ diệt tinh thần dân tộc của người dân miền Nam.
Miền Bắc bất hạnh hơn miền Nam. Vừa thoát khỏi chế độ phong kiến và thực dân, chưa được hưởng một giây phút không khí tự do dân chủ nào cả, thì bị buộc đi xây dựng CNXH. Do vậy, chủ nghĩa Cộng sản dễ dàng thâm nhập vào xã hội miền Bắc vì sự vắng bóng của một nền tảng dân chủ. Trái lại, miền Nam may mắn hơn, có cơ hội sống và tiếp xúc với thế giới tự do, nên những nghịch lý của chủ nghĩa Cộng sản khó lòng được tuyên truyền và thâm nhập một cách nhanh chóng. Hoàn cảnh miền Nam đòi hỏi đảng CSVN phải tìm một phương pháp huỷ diệt tinh thần dân tộc khác, thích hợp hơn, so với những phương pháp đã được sử dụng để cải tạo người dân miền Bắc trước đây. “Phản động” và “tư sản mại bản” là những từ ngữ được nghiên cứu cẩn thận, và được chọn cho kế sách phá vỡ tư tưởng tự do dân chủ, tiêu diệt nền văn hoá, và huỷ diệt tinh thần dân tộc của miền Nam.
Từ ngữ phản động và tư sản mại bản thoạt tiên còn mới mẻ, xa lạ với người dân miền Nam, nhưng dần dần trở nên phổ biến và quen thuộc. Từ ngữ phản động hoặc tư sản mại bản đồng nghĩa với tử hình hoặc tịch thu tài sản, tương đương với cải tạo hoặc đi kinh tế mới. Nói chung, người dân miền Nam rất dễ bị gán ghép vào thành phần phản động và thành phần tư sản mại bản. Nhất là những người mà bản thân hoặc gia đình đã từng làm việc cho chính quyền hoặc phục vụ trong quân đội của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, kể cả những gia đình thuộc thành phần tiểu tư sản hoặc tư bản.
Nói chung, từ ngữ phản động và tư sản mại bản rất tiện lợi cho chính quyền Cộng sản trong việc chiếm đoạt tài sản của người dân miền Nam. Đây là những từ ngữ có thể đại diện cho pháp luật, cho phép họ bắt bớ và giam cầm con người bất kỳ lúc nào và bất kỳ ơ đâu. Ngoài ra, phản động và tư sản mại bản còn là những từ ngữ có khả năng thay thế cả tư pháp và hiến pháp một cách danh chính ngôn thuận, trong chủ trương xua đuổi người dân miền Nam đi vào những nơi rừng thiêng nước độc, những vùng được gọi bằng danh từ khá mỹ miều là vùng kinh tế mới. Đối với quốc tế, từ ngừ “cải tạo” còn cho phép những người Cộng sản đày đoạ và tiêu diệt lần mòn thành phần quân nhân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hoà trong các trại tập trung một cách hợp pháp. Hiện nay, từ ngữ phản động vẫn còn uy lực, được dùng để giải thích với quốc dân và quốc tế, trong việc khủng bố, giam cầm các công nhân lãnh đạo những cuộc đình công, các nông dân và những người bình dân lãnh đạo các cuộc khiếu kiện đất đai, thành phần tu sĩ, và những người đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước.
Khéo léo hơn chế độ Đức quốc xã, không sử dụng hơi ngạt và lò thiêu, người Cộng sản Việt Nam mượn sự phong toả và cô lập, lao động khổ sai, muỗi mòng và vi trùng, sốt sét và bệnh tật, đói khát và suy nhược để khuất phục và huỷ diệt tinh thần người dân miền Nam. Sau 10 năm xây dựng CNXH, tính nhân bản của người dân phía Nam vĩ tuyến 17 cũng đã bị sứt mẻ. Những hiện tượng tố cáo và chụp mũ lẫn nhau trong các sinh hoạt hàng ngày của họ càng trở nên phổ biến hơn. Những hiện tượng này càng ngày càng gia tăng, tỉ lệ thuận với nhịp độ xây dưng CNXH ở miền Nam. Chẳng hạn việc phân chia không đồng đều một ống kem đánh răng nội địa, hoặc một chiếc vỏ xe đạp Trung quốc, cũng có thể đưa đến việc tố cáo và chụp mũ lẫn nhau một cách dễ dàng.
Nói tóm lại, chính sách học tập cải tạo, chính sách kinh tế mới, chế độ bao cấp, chế độ hộ khẩu, hình thức chụp mũ phản động, ghép tội tư sản mại bản, đi đôi với bạo lực, khiến tinh thần người dân bị tổn thương nặng nề. Điều này khiến xã hội miền Nam bị biến dạng một cách đáng ngạc nhiên so với hoàn cảnh xã hội của phần đất này trước năm 1975. Tương tư như miền Bắc, xã hội miền Nam cũng bắt đầu được phủ lên một sắc thái nghi ky, tinh thần vị kỷ và tinh thần vô trách nhiệm. Tuy nhiên, vì một phần người dân đã từng sống dưới chế độ tự do dân chủ, thêm vào đó, được sự tiếp sức của người Việt hải ngoại về tinh thần lẫn vật chất, nên mức độ biến dạng của xã hội miền Nam tương đối nhẹ nhàng hơn, so với những thay đổi khắc nghiệt mà xã hội miền Bắc phải hứng chịu trước đây. Thế nhưng, người ta vẫn có thể nhận ra tinh thần dân tộc ở phía Nam vĩ tuyến 17 bắt đầu lung lay sau một thập niên xây dựng CNXH.
Sự sụp đổ giây chuyền của chế độ Cộng sản ơ các nước Đông Âu và Liên Bang Sô Viết khiến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của đảng Cộng sản Việt Nam bị khựng lai. Sự sụp đổ này giúp họ nhận ra những sai lầm nghiêm trọng trong chủ nghĩa Cộng sản, những sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, và những sai lầm trong chính sách cai trị đất nước của họ trong sáu thập niên qua.
Sau khi nhận ra những sai lầm này, người Cộng sản tiên đoán chế độ có nguy cơ sụp đổ nếu vẫn còn tiếp tục theo đuổi công cuộc xây dựng CNXH. Để xoay chuyển tình thế, bắt chước đảng Cộng sản Trung quốc, đảng Cộng sản Việt Nam cũng chuyển hoá hòng kéo dài chế độ và sự tồn tại của đảng. Sự chuyển hoá của đảng Cộng sản trong 20 năm qua, giải toả gánh nặng xây dựng CNXH cho người dân, nhưng một lần nữa, đã làm biến dạng xã hội Việt Nam theo một chiều hướng phức tạp và hỗn loạn hơn. Sự biến dạng này là do sự chi phối, ảnh hưởng, và tác động của thế hệ XHCN lên chính quyền và xã hội trong chính sách đổi mới của CSVN.
Ngoài việc nhắc lại cái hào quang của trận Điện Biên Phủ năm xưa, đảng Cộng sản lờ đi, không nhắc gì đến thành quả từ năm 1985 trở về trước. Người Cộng sản giờ này chỉ tuyên truyền và xưng tụng thành quả của họ từ năm 1986 trở về sau. Những thành quả trong 20 năm qua, được cho là tốt đẹp và thành công nhất, kể từ khi họ mang chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam. Thành quả của người Cộng sản trong hai thập niên qua là được tiếp xúc với thế giới tự do, làm ăn với tây phương, xây dựng một số cơ sở vật chất, làm sở hữu chủ cơ sở thương mại, đất đai, nhà lầu, xe hơi, xe gắn máy. Không còn phải lo âu về nỗi đói mỗi ngày, không còn phải xếp hàng mỗi ngày để mua nhu yếu phẩm, không còn phải lo sợ, lén lút khi ăn một bữa ăn ngon, đặc biệt là không còn phải đấu tố lẫn nhau nữa
Thế nhưng, khi xưng tụng và hãnh diện về những thành quả đó, có lẽ người Cộng sản đã vội quên rằng, những thứ ấy, người dân miền Nam đã từng có trước năm 1975.
Dẫu vậy, nền kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây quả có phát triểnn hơn so với thời kỳ bao cấp. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ lại những thành quả mà người Cộng sản đang hãnh diện, thì người ta nhận thấy hình như các thành quả ấy không phải là do công lao của họ. Công lao của người Cộng sản, nếu có, chỉ là việc hé mở bức màn sắt đã nhốt và cô lập người dân với thế giới bên ngoài suốt bốn thập niên. Thật vậy, tất cả những thành quả đó, nghĩa là làm cho nền kinh tế quốc gia có vẻ khá lên trong 20 năm qua, chỉ là do sức bật, là do bản năng sinh tồn, là do sức sống tư nhiên của người dân khi bức màn sắt được hé mở.
Thay vì xưng tụng những thành quả vật chất trong 20 năm qua, người Cộng sản có thể hãnh diện về hành động trả một phần quyền tư hữu lại cho người dân mà họ đã tước đoạt trong suốt 40 năm. Quyền tư hữu đã chuyển hoá tinh thần thụ động và lệ thuộc của người dân, làm sống lại bản năng kinh tế tự nhiên đã bị kềm hãm, giam cầm suốt bốn thập niên. Với quyền tư hữu này, chính người dân, không phải những người Cộng sản, đã vực dậy nền kinh tế bao cấp thoi thóp ấy.
Tựu trung, thành quả thu lượm được trong hai thập niên vừa qua, một phần dựa vào các nguồn tài chánh từ bên ngoài, và phần kia nhờ vào sự kỳ diệu của quyền tư hữu. Thật vậy, sự góp mặt của quyền tư hữu trong 20 năm qua khẳng định các quyền căn bản của con người có ảnh hưởng và liên hệ mật thiết đến sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia. Do vậy, nếu người Cộng sản can đảm trả lại tất cả các quyền căn bản cho người dân, nền kinh tế Việt Nam ắt hẳn sẽ khã quan hơn, và người Cộng sản sẽ có cơ hội hãnh diện về những thành quả kinh tế thực sư trong tương lai, so với những thành quả tạm bợ trong 20 năm qua. Trái lại, nếu tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), chắc chắn họ sẽ mất cơ hội để xưng tụng, vì nền kinh tế ấy không bền vững, vì nó không có một nền tảng, không có một cơ sở lý luận kinh tế vững chắc nào cả.
Thật vậy, nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN không thể tồn tại lâu dài. Vì lý thuyết kinh tế này chỉ là một lý thuyết góp nhặt, một sự kết hợp miễn cưỡng và không hợp lý giữa chủ nghĩa Cộng sản và lý thuyết kinh tế Tư bản. Một lý thuyết kinh tế không hề được giảng dạy ở bất kỳ đại học nào trên thế giới Nơi duy nhất giảng dạy lý thuyết kinh tế ấy chính là bộ chính trị của đảng Cộng sản Trung quốc.
Kinh tế thi trường theo định hướng XHCN của đảng Cộng sản Trung quốc là một nền kinh tế dựa trên lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa Tư bản, nhưng được kiểm soát và lèo lái bởi con người xã hội chủ nghĩa. Nói một cách khác, xã hội và nền kinh tế của Việt Nam trong 20 năm qua được sinh hoạt, được kiểm soát, được lèo lái, và được chỉ đạo bởi tính thần phi nhân bản, tinh thần vị kỷ và tinh thần vô trách nhiệm của thế hệ XHCN. Nền tảng không vững chắc của nền kinh tế hiện thời chính là thế hệ XHCN ấy Ngoài ra, những hiện thực trong xã hội Việt Nam của 20 năm qua, chứng minh đất nước, kinh tế và người dân của quốc gia này cũng đang là nạn nhân của thế hệ đó.
Thật vậy, nền kinh tế quốc doanh của người Cộng sản là nạn nhân đầu tiên của thế hệ này Người ta không lấy làm lạ khi thấy nền kinh tế quốc doanh bị phá sản và chính sách kinh tế này bị huỷ bỏ. Cũng như họ không ngạc nhiên lắm khi thấy người Cộng sản chẳng hề nuối tiếc và nhắc nhở gì đến nó nữa. Bởi lẽ, nguyên nhân đưa đến sự phá sản của nền kinh tế này là tổng hợp của sự đục khoét phát xuất tư tinh thần vị kỷ, tính thiếu nhân bản. trong lối quản lý và đối tác, cộng thêm tinh thần vô trách nhiệm trong cách tổ chức và điều hành của thế hệ XHCN.
Trong 20 mươi năm qua, thế hệ XHCN đã làm thế giới phải kinh ngạc về sự đục khoét tài tình, sức tàn phá nhanh chóng tài nguyên đất nước, và phong cách làm việc thiếu trách nhiệm của họ Từ năm 1986 đến năm 2005, không ít những công ty ngoại quốc, từ nhỏ đến lớn, đều bị bòn rút và đục khoét một cách âm thầm hoặc công khai, đến nỗi bị phá sản, phải đóng cửa và bỏ chạy khỏi Việt Nam.
Từ sự lỗ lã, mất mát, phá sản của các công ty ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam, từ số ngoại tệ của khối người Việt tư do hải ngoại gửi về, từ những khoản viện trợ nhân đạo cho dân nghèo, và từ những ngân khoản vay mượn của quốc tế để phát triển đất nước, những nguồn tài chánh này vô hình chung đã làm nền kinh tế Việt Nam phát triển trong hai thập niên qua. Đồng thời, chính sách đổi mới đã mặc nhiên hợp thức hoá quyền tư hữu, cộng thêm sự đục khoét có hệ thống, đã tạo nên một giai cấp mới, một tầng lớp tư sản và tư bản trong hàng ngũ đảng Cộng sản, trong hàng ngũ chính quyền Cộng sản, và một thiểu số khác trong xã hôi.
Nói tóm lại, trong 20 năm đổi mới, thế hệ XHCN không những làm nản lòng các công ty ngoại quốc, làm hoảng sợ giới đầu tư của người Việt hải ngoại, làm quốc gia mang tiếng với thế giới, mà còn làm đời sống người dân bị xáo trộn, xã hội bị hỗn loạn, qua chính sách quy hoạch đất đai trong hơn một thập niên qua.
Bắt chước cuộc cải cách ruộng đất trước đây, nhưng khéo léo và tinh vi hơn, thế hệ XHCN đưa ra chính sách quy hoạch đất đai và cho phát động trên toàn quốc. Chính sách quy hoạch đất đai ôn hoà hơn cuộc cải cách ruộng đất. Chính sách này không sử dụng hình thức đấu tố, nhưng có cùng một mục tiêu là soán đoạt nhà cửa, đất đai, ruộng vườn của người dân một cách hợp pháp, và hợp lý hơn cuộc cải cách ruộng đất năm xưa. Tóm lại, chính sách quy hoạch đất đai trong thời gian qua, phản ảnh đầy đủ tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm, và đặc biệt là tinh thần phi nhân bản của thế hệ XHCN đối với người dân của ho.
Sự phát triển không hợp lý của nền kinh tế Việt Nam đã tạo ra một khoảng cách đột ngột giữa mức độ giầu và nghèo trong xã hôi. Con số người giầu và người nghèo còn quá chênh lệch, lợi tức của đại đa số người dân vẫn còn thấp dưới mức trung bình. Do đó, chính sách đổi mới và những nhu cầu phát sinh sau này của thành phần giầu có và quyền lực, đã thúc đẩy xã hội vào một sự hỗn loạn về kinh tế và làm đảo ngược giá trị đạo đức. Trong sự hỗn loạn ấy, người ta đặt nặng giá trị của kinh tế và vật chất, xem nhẹ giá trị đạo đức con ngượi Thành quả của nền kinh tế trong 20 năm qua là sự khinh thường giá trị đạo đức của xã hôi. Tinh thần dân tộc trở nên bạc nhược và suy thoái thêm, dẫn đến sự mục ruỗng trong nền tảng của nền kinh tế Việt Nam.
Thật vậy, hầu như hàng ngày, qua báo chí trong nước, người ta đều thấy loan tin về giám đốc của công ty này bị truy tố, cán bộ của huyện kia bị cách chức. Điều đáng chú ý là đa số các vụ cách chức và truy tố đều liên quan đến tội tham ô và hối lộ. Mặt khác, nếu có dịp đi một vòng thăm viếng đất nước này, từ Nam ra Bắc, người ta cũng không khỏi ngạc nhiên khi thấy tầng lớp khả kính nhất của một quốc gia, thành phần giáo chức, cũng ra sức khai thác bóc lột người khác. Người khác, nghĩa là đối tượng của sự khai thác bóc lột, chính lại là học trò của thành phần khã kính kịa
Nguy hiểm hơn nữa, dường như mọi tầng lớp của thế hệ xã hội chủ nghĩa, từ cấp nhỏ đến cấp lớn, trong mọi lãnh vực, trong mọi công ty, trong mọi nghành nghề, ngày và đêm, đầu óc họ có lẽ luôn bận rộn, suy nghĩ, tìm tòi những phương thức nào đó để đục khoét xã hội một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất. Nói tóm lại, những hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xã hội Việt Nam có tính cách thường xuyên, hằng ngày, hằng giờ, và bất kỳ ở đâu, trong nhà, ngoài đường, trong lớp học, bệnh viện, văn phòng làm việc, quán cà phê, quán nhậu, khách sạn, vũ trường, vv…. Khiến người ta có cái cảm giác các hiện tượng ấy là một trong những phong tục tập quán của nền văn hoá ở xứ sở này
Thật vậy, nền văn hoá Cộng sản quốc tế và tinh thần XHCN có thể được quan sát và tìm hiểu qua thái độ, hành vi và phong thái làm việc của một số cán bộ cao cấp, cấp thứ trưởng hoặc tương đương, của chế độ Cộng sản, qua những sự kiện và các vụ án không thể ém nhẹm hoặc không còn cách để che dấu. Điển hình là từ thái độ hằn học, thiếu trách nhiệm và thiếu giáo dục của một cán bộ cao cấp nghành hàng không khi trả lời phỏng vấn của một phóng viên thuộc một cơ quan truyền thông hải ngoại trong năm 2005, đến việc một cán bộ cao cấp ngành thể dục thể thao cưỡng hiếp một bé gái cũng vào năm ấy, và mới đây, vụ cá độ lên đến hàng triệu đô la của một cán bộ cao cấp khác của nghành giao thông vận tải trong đầu năm 2006.
Hãy lưu ý rằng, các cán bộ cao cấp ấy là tiêu biểu của thành phần lãnh đạo, là đại diện của thế hệ XHCN. Dù cách chức, bỏ tù, hoặc thay thế họ bằng những người khác, người ta cũng sẽ không giải quyết được vấn nạn này. Bởi lẽ, tất cả những con người ấy đều giống nhau, tất cả đều là sản phẩm khuôn mẫu của người Cộng sản, là sản phẩm của quá trình xây dựng CNXH và quá trình huỷ diệt tinh thần dân tộc trước đây.
Tinh thần XHCN thiếu tính nhân bản, nhưng dân tộc Việt Nam là một dân tộc của tinh thần nhân bản. Trong suốt mấy ngàn năm lich sử của dân tộc này, trong suốt một ngàn một trăm năm bị Tầu và Pháp đô hộ, trong bất kỳ triều đại hoặc chế độ nào, và trong những giai đoạn nguy kịch, khó khăn nhất của đất nước, chưa bao giờ người ta thấy người phụ nữ Việt Nam bị dân tộc họ đầy ải và gả bán cho ngoại quốc làm nô lệ cả. Thế nhưng, với nền văn minh nhân loại trong thế kỷ 21, người ta khó mà tưởng tượng, cũng như khó mà giải thích được khi khám phá ra rằng, có những bé gái và những thiếu nữ, những bà mẹ Việt Nam tương lai, đang bị thế hệ XHCN này, những người cùng chủng tộc với các cô gái khốn khổ ấy, đang dồn họ vào đường cùng, xua đuổi, và gã bán họ để làm nô lệ, dưới mọi hình thức, ở một số quốc gia lân cận trong hai thập niên quạ
Sự kiện này là một điều đáng buồn cho truyền thống và thân phận của người phụ nữ, là niềm tuổi hổ cho tuổi trẻ, và là một sĩ nhục cho quốc giạ Việc xua đuổi và gã bán người con gái Việt Nam đi làm nô lệ ở xứ người, một lần nữa, khẳng định tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm, và đặc biệt là tinh thần phi nhân bản của thế hệ XHCN ấy Hãy lưu ý rằng, tinh thần phi nhân bản đó không phải là bản chất của dân tộc này, mà nó chỉ là sản phẩm của chính sách tiêu diệt nền văn hoá và huỷ diệt tinh thần dân tộc của quốc gia đó, khởi đầu bằng cuộc cải cách điền địa và phong trào đấu tố, trong quá trình xây dựng CNXH của người Cộng sản Việt Nam.
Theo một sự nghiên cứu mới đây của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), ông IL Houng Lee, đại diện của tổ chức này ở Việt Nam, nhận định rằng, nền kinh tế của quốc gia ấy phải mất một thời gian dài mới mong bắt kịp được nền kinh tế của một số quốc gia khác trong vùng. Trong cuộc nghiên cứu, nền kinh tế của xứ sở này chỉ được so sánh với một số nước nhược tiểu, và cuộc nghiên cứu được dừng lại ở Singapore, một nước nhỏ, theo thể chế dân chủ, trong vùng Đông Nam Á.
Tuy Singapore chỉ là một nước nhỏ, nhưng theo ông IL Houng Lee, Việt Nam cũng phải cần đến 197 năm, nghĩa là cần đến 8 thế hệ, mới mong bắt kịp nền kinh tế của quốc gia này Sự nghiên cứu ấy được dừng lại ở Singapore, vì con số đó sẽ lớn hơn nhiều, nếu phải so sánh với Đài Loan, Nhật Bản, hoặc một số cường quốc tây phương. Những con số này không cần thiết cho cuộc nghiên cứu, cũng như không mấy hữu ích cho việc nghiên cứu sự phát triểnn kinh tế Việt Nam. Thật vậy, 197 năm là một giới hạn, một tầm nhìn khá rộng rãi của một công trình nghiên cứu phát triển kinh tế cho bất kỳ quốc gia nào
Nói một cách khác, ông IL Houng Lee ngụ ý rằng, Việt Nam khó lòng trở thành một cường quốc kinh tế. Tệ hơn nữa, quốc gia này còn phải tiếp tục đóng vai trò một nước nhược tiểu trong nhiều thập niên nữa Vì lẽ đó, một cách tế nhị, những nhà nghiên cứu của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã tránh so sánh nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế của các quốc gia dân chủ tiến bộ khác trên thế giới
Cũng trong cuộc nghiên cứu ấy, ông IL Houng Lee đã đề nghị 3 yếu tố cơ bản cho nền kinh tế Việt Nam, đồng thời nhận định rằng, nền kinh tế của quốc gia này có nguy cơ phát triển không bền vững nếu thiếu 3 yếu tố ấy. Đó là yếu tố “cải thiện vốn con người”, yếu tố “quản lý”, và yếu tố cuối cùng bao gồm các tinh thần “kỷ luật”, “tiết kiệm, và “liêm chính”. Một điều khẳng định là, người ta sẽ luôn luôn tìm thấy 3 yếu tố đó trong xã hội của bất kỳ một quốc gia tiến bộ hay một quốc gia đã phát triển. Tuy nhiên, người ta khó lòng tìm thấy cả 3 yếu tố ấy ở các nước nhược tiểu, chậm tiến, hoặc đang phát triển.
Nói một cách khác, cuộc nghiên cứu khẳng định rằng, cả 3 yếu tố trên hoàn toàn vắng bóng trong xã hội Việt Nam. Nghĩa là các nhà nghiên cứu của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã quan sát tính không liêm chính qua sự đục khoét, tính không tiết kiệm qua sự phung phí và phá hoại; tất cả được thể hiện qua tinh thần vị kỷ trong xã hội của quốc gia nạy Họ còn thấy tính vô kỷ luật trong việc quản lý thể hiện qua tinh thần vô trách nhiệm của thế hệ XHCN. Cuối cùng, yếu tố “cải thiện vốn con người” đã được các nhà nghiên cứu kinh tế đặt làm điều kiện sinh tử cho việc phát triển nền kinh tế Việt Nam. Lời góp ý này khẳng định rằng thế hệ XHCN phải được giáo dục và giáo hoá trở lại, hoặc phải xây dựng một lớp người mới, có nghĩa là hãy nên thay đổi chế độ hiện tại bằng một chế độ tiến bộ hơn. Chế độ tiến bộ ấy không gì khác hơn là một chế độ tự do dân chủ.
Nói chung, cuộc nghiên cứu đã khẳng định sự hiện hữu của tinh thần vị kỷ, tinh thần vô trách nhiệm, tinh thần phi nhân bản trong xã hội Việt Nam, thể hiện qua thế hệ XHCN. Đồng thời, cuộc nghiên cứu cũng xác nhận mối di hại lâu dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển nền kinh tế của quốc gia này do những con người ấy gây ra.
Tinh thần dân tộc là một thông số quan trọng trong cuộc nghiên cứu của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Ngoài một số yếu tố khác, thông số này ắt hẳn được dùng làm cơ sở giải thích và chứng minh con số 197 năm hay 8 thế hệ, thời gian cần thiết cho Việt Nam phát triển, và bắt kịp nền kinh tế của một quốc gia nhỏ hơn Việt Nam cả về lãnh thổ lẫn dân số. Tóm lại, người ta khẳng định tinh thần dân tộc của một quốc gia là một thông số quan trọng, có khả năng điều chỉnh, rút ngắn hoặc kéo dài thời gian phát triển nền kinh tế của quốc gia đó.
Từ sự nghiên cứu ấy, người ta có thể hiểu rằng, các nhà kinh tế của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đang nhắc nhở, khuyến cáo Việt Nam cấp bách xây dựng những thế hệ mới. Tối thiểu, những thế hệ này phải có những đức tính căn bản như tinh thần vị tha, tinh thần trách nhiệm, và tinh thần nhân bản. Thế hệ XHCN là chứng cớ không thể phủ nhận của sự thất bại trong việc đào tạo và xây dựng con người của đảng CSVN. Vì quyền lợi của quốc gia dân tộc, người Cộng sản hãy chấm dứt việc xây dựng các thế hệ XHCN. Hãy để tinh thần dân tộc ngàn năm, nền văn hoá lâu đời của Việt Nam, và thể chế dân chủ tiến bộ của nhân loại, xây dựng những con người hữu ích, có khả năng vực dậy một Việt Nam yếu kém về mọi mặt, để phát triển đất nước thành một quốc gia vững mạnh trong những thập niên tới.
Sự di hại của thế hệ XHCN không chỉ giới hạn trong lãnh vực kinh tế, mà còn ảnh hưởng đến sự tồn vong của đất nước. Thật vậy, trong quá trình lịch sử nhân loại, các nước nhược tiểu hoặc các quốc gia có tinh thần dân tộc bạc nhược thường là mục tiêu chính của các thế lực mạnh hơn. Người ta không thể bảo đảm rằng, loài người sẽ được sống mãi trong hoà bình. Cũng như người ta cần phải nhớ lại bài học diệt vong của vương quốc Chiêm Thành, bài học một ngàn năm làm nô lệ dưới chủ nghĩa Đại Hán, bài học một trăm năm làm nô lệ dưới chế độ thuộc địa, bài học cải cách điền địa, bài học cải tạo tập trung, và mới đây là bài học bỏ nước ra đi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 của người dân miền Nam. Ngoài ra, người ta cũng nên noi gương sự vươn lên với những thành quả có tầm vóc quốc tế, đáng được ca tụng của dân tộc và giới lãnh đạo Nam Hàn trong 30 năm qua.
Trong vài trăm năm tới, nếu có bất kỳ biến động lớn nào xảy ra trên thế giới, nếu có một khuynh hướng thống trị mới nào xuất hiện trên địa cầu, thì các quốc gia nhược tiểu và các quốc gia có tinh thần dân tộc yếu kém như Việt Nam hiện nay, sẽ có nguy cơ bị mất nước. Vì thế, người ta cần phải có một giải pháp ngay từ bây giờ, trước khi đất nước bị xô đẩy đi sâu vào băng hoại, khó phục hồi, và đó là dấu hiệu, là tấm bảng chỉ đường đi đến sự diệt vong.
Hai giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và miền Nam trong bốn thập niên, bắt đầu từ năm 1945, không những đã tiêu diệt nền văn hoá và huỷ diệt tinh thần dân tộc được bồi đắp suốt mấy ngàn năm, mà còn để lại một di hại và hiểm hoạ không nhỏ đối với việc phát triển một Việt Nam đang tụt hậu trong nhiều thập niên tới. Thế hệ XHCN chính là sư di hại và mối hiểm hoạ ấy. Họ là kết quả của 40 năm xây dựng CNXH, là nguy cơ của quốc gia và xã hội, và đang là trở lực chính trong mọi nổ lực phát triển đất nước.
Thật vậy, đối với tình trạng Việt Nam hiện nay, mọi nổ lực canh tân đất nước sẽ uổng phí và thất bại, một khi thế hệ XHCN ấy được sử dụng làm nền tảng cho các nỗ lực này.
Nguyên lý căn bản để phát triển một Việt Nam vững mạnh là phải xây dựng lại nền tảng quốc gia. Phải tìm ra những lổ hổng, những sai lầm, những khuyết điểm, những thiếu sót trong quá khứ, và bắt đầu xây dựng lại từ những cái căn bản nhất.
Do vậy, cho dù phải mất nhiều thời gian, cho dù phải mất nhiều thập niên, cho dù phải bắt tay lại từ đầu, nhưng đừng bao giờ nản lòng và đừng bao bỏ qua những chi tiết căn bản dù là nhỏ nhặt nhất, vì đó là quá trình xây dựng cho một sự bền vững lâu dài hàng nghìn năm của một quốc gia. Chính những thiếu sót nhỏ nhặt nhưng vô cùng căn bản ấy đã làm Việt Nam không đứng vững, luôn luôn là một nước nhược tiểu, thường bị xâm lược, thường bị đô hộ, thường là nạn nhân của các xu hướng chính trị quốc tế, suốt từ thuở lập quốc cho đến nay. Nền tảng của quốc gia là con người, vì vậy, hãy xây dựng những thế hệ tương lai dựa trên nguyên lý căn bản ấy. Những thế hệ có khả năng trong mọi lãnh vực văn hoá, kinh tế, khoa học, chính tri, xã hôi, những thế hệ của tinh thần hy sinh và bất khuất, sẳn sàng giải quyết những nan đề của quốc gia, những thế hệ của tinh thần kỷ luật, có trách nhiệm với nền đạo đức và luân lý của xã hôi, và những thế hệ của tinh thần chỉ huy lãnh đạo có khả năng phát triển đất nước, bảo vệ tổ quốc và chế ngự được mọi thế lực muốn xâm lược Việt Nam.
Tháng 4 năm 2006
([7]) ĐGH Gioan-Phaolô II, Thông điệp Bách Chu Niên, 01.5.1991, Lời giới thiệu, số 2
([8]) Lưu Vũ. Chủ nghĩa cộng sản là tội ác của nhân loại. (trích đăng từ nguồn : www.danchimviet.com)
Ngày 24 tháng 1 năm 2006, các nghị sĩ của Nghị viện châu Âu đã tranh luận gay gắt trước phán quyết cho một giai đoạn lịch sử vô cùng quan trọng đã làm thay đổi cục diện thế giới trong gần suốt thế kỷ XX. Đó là giai đoạn thống trị của chủ nghĩa cộng sản tại châu Âu và trên toàn thế giới.
Với 99 phiếu thuận và 42 phiếu chống, nghị quyết chính thức của 46 nước thành viên Nghị viện châu Âu đã ra đời, xác định: chủ nghĩa cộng sản là tội ác.
Châu Âu, nơi đẻ ra học thuyết, xâm nhập và bành trướng chủ nghĩa cộng sản, bằng nghị quyết số 1481, ngày 24/01/2006, đã đào mô chôn vĩnh viễn một chủ nghĩa khát máu mang đến không biết bao nhiêu tai ương và thảm hoạ cho nhân loại.
Cũng nên nhắc lại rằng, sau khi chế độ cộng sản bị xoá bỏ, từ 1994, hiến pháp của nước Cộng Hoà Ba Lan đã đặt chủ nghĩa cộng sản bên cạnh chủ nghĩa phát xít (Nazi), chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và cấm mọi hình thức hoạt động, tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản.
Nghị quyết của Nghị viện châu Âu khẳng định ‘‘sự cần thiết thiết lập một toà án quốc tế xét xử tội ác của chủ nghĩa toàn trị cộng sản”.
Ngoài ra nghị quyết cũng kêu gọi các đảng cộng sản và hậu cộng sản phải làm sạch quá khứ lịch sử của chính mình.
Nghị quyết của Nghị viện châu Âu ngày 24/01/2006 ra đời là từ dự thảo của nghị sĩ người Sweden (Thuỵ Điển) trên cơ sở đề nghị của nghị sĩ các nước cộng hoà Baltic. Với các nước này, chủ nghĩa cộng sản là ý thức hệ mà theo đó, những người lính Nga với quân kỳ đỏ đã sát nhập Estonia, Latvia và Lithuania vào đế quốc Xô-Viết.
Không ai phủ nhận được rằng, ‘‘chủ nghĩa toàn trị cộng sản” đã tạo nên những chế độ bạo tàn. Vì thế, đại đa số các nghị sĩ thuộc khối Liên Xô cũ đã không đưa ra nhiều khuyến cáo đối với các đồng nghiệp phương Tây trước khi biểu quyết.
Phương thức thanh toán với quá khứ đã không được một số nghị sĩ cánh tả châu Âu thích thú. Họ cho rằng không thể làm nhục hết mọi người cộng sản bằng cách gán gép‘‘tất cả những người cộng sản là những tên giểt người”. Nhà xã hội học, nghị sĩ Spain (Tây Ban Nha) Luis Yanez-Barnueè Garcia nói: ‘‘Không phải mọi nơi chủ nghĩa cộng sản đều gây tội ác. Có một số nước mà những người cộng sản bị truy bức và giết hại. Chúng ta đã không có được nghị quyết chỉ trích chế độ của tướng Franco”. Xin mở ngoặc: trong thời gian cai trị Tây Ban Nha tướng độc tài không cộng sản Franco đã đàn áp thẳng tay cánh tả, trong đó có nhiều đảng viên đảng cộng sản Tây Ban Nha bị giết hại.
Tưởng cũng cần biết rằng, trong quá trình biểu quyết, những người hoạt động cánh tả của Greece (Hy Lạp) va France (Pháp) đã tổ chức biểu tình trước nghị viện Châu Âu tại Strasburg. Họ ra yêu sách về việc đánh giá ‘‘chính xác hơn” lịch sử mới nhất của châu Âu mà trong đó, chủ nghĩa toàn trị không đồng nhất với ý thức hệ cộng sản. Họ hô to khẩu hiệu: ‘‘Cánh tả là cuộc chiến đấu cho công lý chứ không phải là chủ nghĩa toàn trị Stalin”.
Những người bỏ phiếu chống nghị quyết chủ yếu là các nghị sĩ của Nga. Nhiều người trong số họ cho rằng ‘‘chủ nghĩa cộng sản” có nghĩa là ‘‘Liên Xô và sự bảo vệ học thuyết Marx”. Họ phải đứng về phía lịch sử của chính mình. Quá khứ và hậu quả hiện đang đè lên vai quá nặng khiến họ không thể thanh thản và trung thực biểu hiện lập trường của mình. Người Nga rất e ngại các nước cộng hoà Baltic lấy nghị quyết làm cớ để bắt Nga phải xin lỗi vì hiệp ước Ribbentrop-Molotov và giai đoạn rất khó xử hậu chiến tranh. Với Ba Lan, hiệp ước Ribbentop –Molotov đã được quốc hội Ba Lan, trong dịp 60 năm chiến thắng phát xít (5/2005) mô tả trong một nghị quyết ‘‘là con dao đâm sau lưng dân tộc Ba Lan” của Stalin và Hitler, tạo tiền đề cho Đức quốc xã nổ súng xâm lược Ba Lan 9/1939, mở màn cho đại chiến thế giới II.
Trưởng đoàn nghị sĩ Nga tại Nghị Viện châu Âu Constantin Kosachov đã thuyết phục mọi người như sau: ‘‘Quá khứ của chúng tôi sẽ không bị xét xử dưới ánh sáng của nghị quyết này”.
Chính vì một số nguyên do trên, Nghị viện châu Âu đã không đạt được 2/3 số phiếu cho dự án các hoạt động cụ thể như: toà án xét xử sẽ được thiết lập ra sao; chuẩn bị tổ chức các hội nghị quốc tế của 46 nước châu Âu với đề tài tội ác của chủ nghĩa cộng sản; thực hiện các chiến dịch tuyên truyền ở mức độ toàn châu lục về ‘‘tội ác đỏ” và các cuộc hội thảo về lịch sử của thế kỷ XX. Ngoài ra dự án cũng đề nghị các nước thuộc hệ thống Liên Xô cũ thành lập các hội đồng chuyên môn để thu thập tài liệu của thời quá khứ máu sắt.
Tuy nhiên các chương trình hành động trên sẽ còn được tiếp tục thảo luận trong tương lai.
Dầu sao, 16 năm sau khi hệ thống cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu tan rã, một nhận định chính thức về lịch sử đã được đại đa số các nước toàn châu Âu phán quyết. Một dấu chấm hết không có biện minh.
Goobye Marx! Goobye Lenin!
Nghịch lý thay, chủ nghĩa cộng sản bị tiêu diệt ngay nơi mảnh đất sinh ra nó thì ngày nay vẫn còn rơi rớt lại ở vài nơi mà nền văn minh và văn hoá của những xứ đó hoàn toàn xa lạ với châu Âu.
Vài kẻ độc tài ngoan cố, can tâm ‘‘cõng rắn cắn gà nhà”, lấy chủ nghĩa cộng sản ngoại lai làm nền tảng lừa gạt, áp đặt thống trị lên dân tộc tại 4 nước Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba và Việt Nam, đang cố tình giả mù, giả điếc.
Những kẻ này không bao giờ bơi ngược được dòng lịch sử đang chảy xiết. Càng ngu ngốc bám víu, tội của chúng với dân tộc càng lớn và nhất định sẽ không trốn tránh được sự trừng phạt của thế hệ tương lai. Và không loại trừ khả năng chúng sẽ phải đứng trước vành móng ngựa quốc tế như Slobodan Milosevich, nhà độc tài cộng sản Yugoslavia (Nam Tư cũ).
Warsaw 26/01/2006.
----------------------------------------------
Tin của hãng thống tấn Ba Lan PAP, Reteurs và nhật báo Gazeta Wyborcza 25/01/2006.
([9]) Xem L.G, Chương II, Dân thiên Chúa, từ số 9-17