SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân
NHÀ XUẤT BẢN IGNATIUS PRESS SAN FRANCISCO
PHẦN I
Phân biệt sự thật và hư cấu
Chương 3. Sự đầu độc đầu óc công chúng
Năm 2018, tôi đã có một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh với John Steigerwald, một nhân vật nổi tiếng ở Pittsburgh, về vấn nạn lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Ông nói rằng trong suốt những năm làm việc tại các trường Công Giáo, ông chưa từng nghe nói đến bất cứ trường hợp lạm dụng tình dục nào của linh mục. Điều đó không có gì lạ; số lượng linh mục phạm tội rất nhỏ. Tuy nhiên, ông đã nhận được một loạt chỉ trích vì những gì ông nói. (1) Điều này rất đáng chú ý. Nó cho thấy rằng nhiều người tin, bất chấp sự thật, rằng số lượng linh mục phạm tội là rất lớn.
Điều gì gây ra sự đầu độc nhận thức công chúng này? Bốn yếu tố giải thích tại sao nhận thức của công chúng về vụ tai tiếng bị bóp méo: vai trò của truyền thông, vai trò của Hollywood, vai trò của báo cáo của bồi thẩm đoàn Pennsylvania và vai trò của luật sư và người bào chữa cho nạn nhân.
Vai trò của các phương tiện truyền thông
Khi nói đến Giáo hội, một số phương tiện truyền thông dường như không bao giờ ghi nhận những đóng góp xứng đáng. Ví dụ, hãy xem một bài xã luận đáng chú ý năm 2019 trên tờ Washington Post cáo buộc Giáo hội đã không báo cáo những kẻ lạm dụng tình dục. Bài báo nói rằng “những hành vi lạm dụng và che đậy trong quá khứ thường bị các nhà báo, chính quyền hoặc nạn nhân và những người bênh vực họ phơi bày, nhưng hiếm khi do chính Giáo hội làm vậy.” (2) Bài báo đưa ra ví dụ về việc cựu Hồng Y Theodore McCarrick là một kẻ lạm dụng tình dục trẻ em. Đó là một ví dụ tồi tệ.
Chính Hồng Y Timothy Dolan đã vạch trần McCarrick—chứ không phải giới truyền thông. Chính Chương trình Hòa giải và Bồi thường Độc lập của ngài đã thu thập được thông tin từ một nạn nhân của McCarrick, và chính Dolan là người đã công khai thông tin đó.(3) Có bao nhiêu kẻ hiếp dâm làm việc trong giới truyền thông—hãy nghĩ đến CBS và NBC—đã bị một trong những viên chức cấp cao của họ tố cáo? Không có ai cả.
Giới truyền thông nhận thức được rằng số lượng linh mục lạm dụng tình dục trẻ em là rất nhỏ so với nhiều thập niên trước, nhưng thay vì thừa nhận điều này, nhiều phóng viên và nhà bình luận lại tìm cách mới để bôi nhọ Giáo hội. Đây là cách trò chơi được diễn ra.
Năm 2019, một công ty luật, Seeger Weiss, đã thống kê số tiền mà Giáo hội chi cho các nhà vận động hành lang ở các tiểu bang, (4) và những phát hiện này đã được giới truyền thông đưa tin. Câu chuyện gây phẫn nộ nhất trong số đó được đăng trên tờ USA Today. Theo hai phóng viên viết bài này, việc các giám mục chống lại luật pháp nhắm vào Giáo Hội Công Giáo theo một đạo luật đình chỉ thời tiêu trong các vụ án lạm dụng tình dục là vô cảm, nếu không muốn nói là tàn nhẫn. (5)
Mỗi khi một tổ chức bị tấn công, các nhà lãnh đạo đều thuê các chuyên gia quan hệ công chúng, luật sư và nhà vận động hành lang để giảm thiểu thiệt hại—điều này càng đúng hơn khi cuộc tấn công là không công bằng. Sẽ thật sốc nếu họ không làm vậy. Giới truyền thông chắc chắn cũng làm điều này khi họ bị vướng vào một vụ tai tiếng. Vậy thì tại sao họ lại tỏ ra kinh hoàng khi biết rằng Giáo Hội Công Giáo cũng thuê những người này? Thông điệp không thể nhầm lẫn là Giáo hội không có quyền tự vệ. Điều khiến bài báo của USA Today gây kinh ngạc là, mãi đến tháng 12 năm 2016, tờ báo này đã làm rất tốt việc phơi bày nạn lạm dụng tình dục trong các trường công lập, thế nhưng lại không hề nhắc đến các trường công lập trong bài viết về Giáo Hội Công Giáo. Nếu công bằng, tờ báo lẽ ra phải nói rằng những thay đổi về thời hạn khởi kiện hầu như không bao giờ áp dụng cho các trường công lập.
Hãy thử nghĩ điều gì sẽ xảy ra nếu điều ngược lại là đúng. Điều gì sẽ xảy ra nếu các trường công lập bị soi xét kỹ lưỡng còn các tổ chức tôn giáo lại được bỏ qua? Các trường công lập sẽ làm mọi cách, và ai sẽ trách họ? Điều này đặt ra một câu hỏi liên quan: Tại sao các trường công lập lại được miễn trừ khi thời hạn khởi kiện được kéo dài?
Trừ khi có quy định rõ ràng khác, khu vực công được bảo vệ bởi cái gọi là học thuyết miễn trừ chủ quyền. Điều này có nghĩa là nạn nhân bị cáo buộc lạm dụng tình dục trong các trường công lập chỉ có 90 ngày để nộp đơn khiếu nại. Sau đó, không còn cách nào để khắc phục. Quy tắc này là kết quả của quyền lực mà các công đoàn trường công lập và các nhà lập pháp thân thiện của họ tại các thủ phủ tiểu bang nắm giữ. Đoán xem ai nhận được tiền của công đoàn vào thời điểm bầu cử?
Khi luật về thời tiêu được sửa đổi để cho phép một khoảng thời gian “xem xét lại” – cho phép các nạn nhân bị cáo buộc khởi kiện về các hành vi phạm tội xảy ra hàng thập niên trước – điều khoản này không áp dụng cho khu vực công. Nói cách khác, luật pháp cố tình phân biệt đối xử với khu vực tư nhân, và thường là chỉ nhắm vào Giáo Hội Công Giáo.
Ngay cả khi điều khoản “xem xét lại” bao gồm cả các trường công lập, khiến chúng dễ bị kiện tụng, như trường hợp ở New York với Đạo luật Nạn nhân Trẻ em, hầu hết các vụ kiện vẫn nhắm vào Giáo Hội Công Giáo. Tại sao? Bởi vì hồ sơ của giáo viên thường không ghi rõ lý do tại sao một giáo viên có vấn đề lại bị chuyển đến một học khu khác hoặc bị sa thải. Hơn nữa, nhiều tầng lớp quan liêu của trường công lập mà các luật sư phải vượt qua để tìm kiếm thông tin gây bất lợi khiến Giáo Hội Công Giáo trở thành mục tiêu dễ dàng hơn nhiều. Thêm vào đó là yếu tố tư tưởng – thành kiến chống Công Giáo là định kiến cuối cùng được xã hội chấp nhận.
Các phương tiện truyền thông có xu hướng kể lại những câu chuyện cũ về lạm dụng trong khi tạo ấn tượng rằng việc lạm dụng vẫn đang tiếp diễn. Đài phát thanh công cộng Wisconsin đã làm điều này vào tháng 11 năm 2019. (6) Tháng sau, CNN cũng vậy. Cả Đài phát thanh công cộng Wisconsin lẫn CNN đều không đề cập đến việc số lượng các vụ việc hiện tại được chứng thực chống lại giới giáo sĩ gần như không tồn tại; điều đó sẽ cản trở việc họ lên án Giáo hội. Câu chuyện của CNN thiếu chính xác đến mức khiến tôi đặt câu hỏi: “Tại sao CNN lại ghét Giáo Hội Công Giáo?” (7)
Tất nhiên, các hãng tin có thể đăng tải hàng loạt câu chuyện về lạm dụng tình dục trong các định chêkhác, nhưng họ hiếm khi làm vậy. USA Today đã gần như làm được điều đó khi chấm điểm F cho các trường công lập Wisconsin về cách họ chia sẻ thông tin về các giáo viên lạm dụng được chuyển đến trường khác, nhưng lại không đăng một bài báo riêng về chính các giáo viên đó. (8) Tháng sau, CNN tiếp tục với một câu chuyện riêng về các vụ việc cũ trong Giáo Hội Công Giáo.
Công chúng không đánh giá cao giới truyền thông. Một lý do cho điều này là xu hướng của các phóng viên viết những câu chuyện giật gân hoặc phiến diện. Năm 2019, AP đã phỏng vấn những người Công Giáo xuất hiện trước một trong những hội đồng xem xét của giáo phận được giao nhiệm vụ đánh giá các cáo buộc lạm dụng tình dục. Mỗi người được phỏng vấn đều có điều gì đó tiêu cực để nói. Hơn nữa, không có dữ liệu tóm tắt; toàn bộ bài báo dựa trên những giai thoại. Bài báo cũng cố gắng biến những người tố cáo thành nạn nhân, chỉ đơn giản vì họ bị các luật sư đại diện cho Giáo hội thẩm vấn. Những người tố cáo nên bị thẩm vấn. Khi ai đó đưa ra cáo buộc nghiêm trọng về một linh mục (người thậm chí có thể không còn sống) hoặc bất cứ ai khác, gánh nặng chứng minh thuộc về người tố cáo để đưa ra một vụ việc đáng tin cậy. Điều đó đòi hỏi phải thẩm vấn kỹ lưỡng. Đương nhiên, AP chưa bao giờ chỉ ra rằng việc các linh mục bị cáo buộc có quyền được xét xử công bằng cần được tôn trọng. (9)
Ngoài việc lên án Giáo hội vì tự vệ, giới truyền thông cũng lên án Giáo hội vì không giám sát các linh mục mà họ đã đuổi ra. Không có định chế nào khác bị ràng buộc bởi tiêu chuẩn này. Tuy nhiên, trong quý cuối năm 2019, đã có một số câu chuyện như vậy.
AP đã mở đầu vào tháng 10 với kết quả cuộc điều tra kéo dài chín tháng về các cựu linh mục bị cáo buộc có hành vi sai trái tình dục một cách đáng tin cậy. Họ kết luận rằng khi một linh mục bị giải thoát khỏi thừa tác vụ, Giáo hội không theo dõi người đó. (10) Đúng vậy. Cũng không có định chế nào khác làm vậy: không có định chế nào giám sát những nhân viên bị sa thải vì hành vi sai trái tình dục.
AP cũng chỉ trích Giáo hội vì một số linh mục bị tước chức đã nhận việc ở các trường công lập hoặc các ngành nghề khác làm việc với thanh thiếu niên. Tại sao lại là lỗi của Giáo hội? Lẽ ra lỗi phải thuộc về những người tuyển dụng chứ? Họ không chịu trách nhiệm kiểm tra lý lịch sao? Lời chỉ trích đáng kinh ngạc nhất là việc chỉ trích Giáo hội vì không liệt kê những linh mục bị cách chức vì hành vi sai trái bị cáo buộc nhưng chưa được chứng minh là tội phạm tình dục. (11) Các phóng viên có biết rằng không có người bị cáo buộc nào được liệt kê là tội phạm tình dục trừ khi người đó đã bị kết án không? Không chắc chắn liệu đây là do sự thiếu hiểu biết hay là thành kiến chống Công Giáo.
Vào tháng 11 năm 2019, USA Today đã công bố kết quả cuộc điều tra kéo dài chín tháng về cùng chủ đề này. (12) Họ đã thuê 39 phóng viên để viết về một linh mục 85 tuổi bị cáo buộc lạm dụng vào những năm 1970. Câu chuyện này còn gì nữa không? Không, chỉ có vậy thôi. Bài báo cũng trích dẫn lời một người tỏ ra khó chịu khi biết rằng một linh mục bị buộc tội sống gần nhà ông ở Florida lại không có tên trong danh sách tội phạm tình dục. Rõ ràng là các phóng viên không hề nghĩ đến việc vì ông ta chưa bao giờ bị kết tội, nên ông ta không cần phải đăng ký là tội phạm tình dục. Cũng như trường hợp của các phóng viên AP, không rõ liệu sự thiếu hiểu biết hay sự cố chấp là nguyên nhân.
Khi đài WCPO-TV Cincinnati (một chi nhánh của ABC) đưa tin về việc Giáo hội không “giám sát” các cựu linh mục bị cáo buộc hành vi sai trái tình dục, tôi đã lên tiếng chỉ ra những thiếu sót của nó. (13) May mắn thay, một cư dân Cincinnati đã đọc những gì tôi nói và báo cho tôi biết điều mà tôi không biết. WCPO đã sa thải một trong những phóng viên điều tra của mình, Stephen Hill, vì hành vi sai trái tình dục. Cuộc điều tra của riêng tôi cho thấy rằng khi ông ta được thả khỏi tù năm 2009, tổng giám đốc lúc đó đã từ chối nói chuyện với tờ Cincinnati Enquirer về bất cứ cơ hội việc làm tiềm năng nào mà Hill có thể có. (14) Đài truyền hình đã không làm gì để “giám sát” ông ta.
Năm 2020, ProPublica, một tổ chức điều tra phi lợi nhuận theo khuynh hướng tự do trên Internet, được tài trợ bởi các quỹ nổi tiếng, đã hợp tác với tờ Houston Chronicle để thực hiện một bài báo khác về các linh mục bị cáo buộc đã rời bỏ Giáo hội. Liệu các phương tiện truyền thông này có mong đợi Giáo Hội Công Giáo nên gắn thiết bị theo dõi lên các linh mục bị cáo buộc trước đây để truyền thông có thể giám sát họ? ProPublica thậm chí còn khoe khoang rằng họ đã phát triển một cơ sở dữ liệu tương tác để tìm kiếm các linh mục bị cáo buộc. (15) Họ không cho chúng ta biết lý do tại sao họ không phát triển một cơ sở dữ liệu tương tự cho các cựu nhân viên trường công lập bị cáo buộc.
Không phải tất cả các phóng viên đều tệ như đã đề cập ở đây, nhưng thật không may là có quá nhiều người hoặc là thiếu năng lực, hoặc là thiên vị, hoặc cả hai. Những nhà báo này góp phần tạo nên nhận thức rằng vụ tai tiếng vẫn đang tiếp diễn, do đó làm sai lệch sự thật.
Vai trò của Hollywood
Năm 2013, sau khi hai anh em Hồi giáo đánh bom Boston, tất cả mọi người từ tổng giám mục Boston Seán O’Malley đến ngoại trưởng John Kerry đều khẩn cầu người Mỹ đừng đổ lỗi cho tất cả người Hồi giáo. Đó là lời khuyên tốt. Những người khác còn đi xa hơn, nói rằng Hồi giáo không liên quan gì đến vụ việc. Trung tâm Luật Nghèo Đói Phương Nam còn chế giễu ý tưởng cho rằng những người Hồi giáo cực đoan có liên quan đến vụ thảm sát, cáo buộc những người đưa ra nhận xét như vậy là đang đổ lỗi cho “ông ngoáo ộp”. (16) Hơn nữa, không có bất cứ lời nói đùa hay nhận xét mỉa mai nào về người Hồi giáo trên bất cứ chương trình trò chuyện đêm khuya nào. Mọi người đều làm theo sự dẫn dắt của Tổng thống George W. Bush sau vụ 11/9: đừng đưa ra những khái quát hóa bừa bãi đổ lỗi cho người Hồi giáo về hành vi của một vài kẻ khủng bố.
Loại phản ứng này trái ngược hoàn toàn với cách người ta nói về các linh mục sau vụ tai tiếng. Những lời chế giễu tồi tệ nhất được đưa ra về các linh mục nói chung, đổ lỗi cho toàn bộ giáo sĩ về tội lỗi của một số ít người. Không có gì đáng ngạc nhiên, điều này khiến công chúng có cảm giác rằng chẳng có gì thay đổi. Cảm nhận này sai lầm, nhưng như nhà xã hội học W. I. Thomas đã nói, “Nếu con người định nghĩa các tình huống là có thật, thì chúng sẽ có thật trong hậu quả của chúng.” (17)
Hollywood chắc chắn đã góp phần tạo nên những miêu tả và định kiến tàn bạo nhất về Giáo Hội Công Giáo. Phần lớn điều đó liên quan đến sự thù địch của ngành kỹ nghệ giải trí đối với Kitô giáo nói chung. Michael Medved đã theo dõi sự thù địch này tốt hơn bất cứ ai, và ông chỉ ra một “bong bóng” thế tục ở Hollywood. Ông nói: “Vấn đề ở đây là phương tiện truyền thông phản ảnh cuộc sống của một phần nhỏ người Mỹ, và sau đó phát sóng sự phản ảnh đó cho tất cả mọi người”. Mang Kitô giáo đến Hollywood giống như mang nó đến “những vùng xa xôi nhất của Ecuador, nơi người dân chưa bao giờ, chưa bao giờ gặp bất cứ điều gì như thế này trước đây”. (18)
Tình trạng này đã kéo dài từ lâu. Năm 1997, John Dart viết một bài báo cho tờ Los Angeles Times nói rằng “Hollywood và các tôn giáo có tổ chức đã nhìn nhau với sự nghi ngờ sâu sắc, và đôi khi là thù địch công khai, kể từ những ngày phim câm chập chờn.” (19) Nữ diễn viên Jennifer O’Neill đã nói ngắn gọn khi bà nói, “Nếu bạn nhắc đến Chúa Giê-su Ki-tô ở Hollywood, mọi chuyện sẽ trở nên hỗn loạn.” (20) Năm 2021, diễn viên Kevin Sorbo nhận xét rằng “là một người theo đạo Kitô và là một người bảo thủ ở Hollywood, điều đó giống như bị mắc bệnh hủi kép vậy.” (21) Mel Gibson đã học được bài học này khi ông cố gắng tìm một hãng phim cho bộ phim The Passion of the Christ.
Các nhà sản xuất truyền hình rất cẩn thận để không tạo ra những định kiến về người thiểu số và người đồng tính, nhưng khi nói đến các linh mục, họ không ngừng quảng bá những hình ảnh tục tĩu nhất. South Park có thể rất thú vị để xem, nhưng khi nó miêu tả các linh mục như những kẻ săn mồi, nó cho thấy mặt tối của mình. Trong nhiều năm, các nữ MC của chương trình The View, đặc biệt là Joy Behar, Whoopi Goldberg và Elisabeth Hasselbeck, đã công kích Giáo hội một cách không kiềm chế, tất cả đều dưới sự chấp thuận của nhà sản xuất Barbara Walters. Trong nhiều thập niên, David Letterman, Jay Leno, Jon Stewart và Trevor Noah đã sử dụng các chương trình trò chuyện đêm khuya của họ để bôi nhọ các linh mục.
Nhưng không ai có thể vượt qua Bill Maher, người có những lời lẽ thô tục đã trở thành huyền thoại. (22) Trong số các nhà làm phim, Harvey Weinstein và anh trai Bob là một trong những người công kích Công Giáo mạnh mẽ nhất ở Hollywood. Priest, Dogma, 40 Days and 40 Nights, The Magdalene Sisters và Philomena—những bộ phim này đều khắc họa hình ảnh rập khuôn về các linh mục hoặc người tu hành và chế giễu Công Giáo.
The Magdalene Sisters cố tình xuyên tạc các nhà giặt Magdalene ở Ireland, vốn là những ngôi nhà do các nữ tu điều hành dành cho những cô gái và phụ nữ bị tước đoạt quyền lợi, thường là những người hư hỏng. Hầu hết cư dân đều được đối xử tốt: không ai bị giết, bị bỏ tù hoặc bị ép buộc ở lại. Không có lao động nô lệ. Không một người phụ nữ nào bị nữ tu lạm dụng tình dục. Sự đối xử khắc nghiệt được miêu tả trong phim The Magdalene Sisters là một lời nói dối. Làm sao chúng ta biết điều đó? Bởi vì bằng chứng đã được ghi chép đầy đủ trong cái gọi là Báo cáo McAleese, một nỗ lực của chính phủ nhằm tìm ra sự thật. (23)
Tương tự, bộ phim Philomena cũng là một sự bịa đặt. Bộ phim khẳng định rằng Philomena Lee đã bị các nữ tu tham lam ép buộc phải từ bỏ con trai mình và cuối cùng bà đã tìm thấy con trai ở Hoa Kỳ. Trên thực tế, bà đã tự nguyện từ bỏ con trai khi cả bà và gia đình đều không thể chu cấp cho con, và bà đã ký một hợp đồng giao quyền nuôi dưỡng cho các nữ tu khi bà 22 tuổi. Bà chưa bao giờ tìm thấy con trai mình: cậu bé mất năm 1995 và được chôn cất trong khuôn viên của chính tu viện đã chào đón bà khi bà cần giúp đỡ. Bà không hề tìm kiếm con trai mình suốt 50 năm như bộ phim tuyên bố. Thật vậy, lần đầu tiên bà đặt chân đến Hoa Kỳ là vào tháng 11 năm 2013, khi bà đến Los Angeles để quảng bá bộ phim của mình. (24)
Điều có lẽ gây phẫn nộ nhất về cách Hollywood miêu tả các linh mục lạm dụng tình dục là việc họ từ chối làm một bộ phim như Spotlight về vấn nạn lạm dụng tình dục ở kinh đô điện ảnh. Nhà sản xuất Matthew Valentinas đến từ Boston muốn thu hút sự chú ý đến các đường dây ấu dâm tràn lan ở Hollywood, và vì mục đích đó, ông đã mời Amy Berg thực hiện bộ phim. Cô ấy là một người kỳ cựu: cô ấy đã được đề cử giải Oscar cho bộ phim tài liệu của mình về các linh mục lạm dụng tình dục, Deliver Us from Evil (xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ).
Bộ phim An Open Secret của Berg là một cái nhìn tàn khốc về cách những kẻ săn mồi ở Hollywood thao túng, đe dọa và cưỡng hiếp các diễn viên nhí đầy triển vọng. Những kẻ hiếp dâm không phải là người lạ—chúng là những người hướng dẫn. Cụ thể hơn, chúng là những người quản lý, người phụ trách quan hệ công chúng và người đại diện, những người được mọi người kính trọng, kể cả các diễn viên nhí và người mẫu mà chúng đã xâm hại.
Valentinas cho rằng sẽ không khó để tìm được nhà phân phối quan tâm đến bộ phim của mình. Anh đã nhầm. “Chúng tôi đã tiếp cận hầu hết các hãng phim và tất cả đều từ chối. Chúng tôi nghĩ, chúng tôi có một đạo diễn tuyệt vời, mọi thứ đã được phê duyệt và kiểm tra pháp lý—tại sao lại là một mạo hiểm cho một công ty nhận nó?” (25) Không ai chịu nhận. Điều này kéo dài nhiều năm; cuối cùng, bộ phim được công chiếu ở một vài thành phố, nhưng nó chưa bao giờ được phát hành rộng rãi. Sự phản đối rất mạnh mẽ và trên diện rộng. Giới thượng lưu Hollywood không hề quan tâm đến việc phơi bày sự suy đồi của chính họ. (26)
Vai trò của Đại bồi thẩm đoàn Pennsylvania
Những phát hiện trong báo cáo của đại bồi thẩm đoàn Pennsylvania năm 2018 đã nhận được sự chú ý chưa từng có, và báo cáo này đã góp phần củng cố nhận thức sai lầm rằng không có gì thay đổi hơn bất cứ yếu tố nào trong thời gian gần đây. Thật khó để sự thật được phơi bày giữa tất cả những lời bàn tán tiêu cực.
Vào ngày 14 tháng 8 năm 2018, tổng chưởng lý Pennsylvania Josh Shapiro đã công bố báo cáo của đại bồi thẩm đoàn về sáu trong số tám giáo phận Công Giáo trong tiểu bang. Các bài báo cho biết ông đã tìm thấy bằng chứng về 301 linh mục lạm dụng hơn 1,000 trẻ em trong khoảng thời gian bảy mươi năm. Như tôi đã nói vào thời điểm đó, những câu chuyện đó sai ba lần: (1) không phải tất cả những người bị cáo buộc phạm tội đều là linh mục; (2) hầu hết các nạn nhân bị cáo buộc là thanh thiếu niên, không phải trẻ em; và (3) báo cáo không mang tính bằng chứng—nó mang tính điều tra—có nghĩa là các linh mục bị cáo buộc không bao giờ có cơ hội để bác bỏ các cáo buộc. Hơn nữa, khoảng 3% các cáo buộc xảy ra sau khi các cải cách Dallas năm 2002 được thông qua. (27) Đủ cho thấy chuyện tai tiếng vẫn đang tiếp diễn.
Điều quan trọng là, không thể làm gì được đối với hầu hết những người thực sự có tội. Gần như tất cả những người bị buộc tội đều đã chết hoặc bị đuổi khỏi chức linh mục, như tôi đã lưu ý vào thời điểm đó. (28) Điều này hiếm khi được thừa nhận. Không có gì lạ khi Shapiro chỉ có thể truy tố được hai linh mục. (29) Ông biết điều này ngay từ đầu, nhưng ông đã sử dụng báo cáo để thúc đẩy việc đình chỉ thời tiêu truy tố. Ông chưa bao giờ nhấn mạnh rằng các trường công lập cũng phải được đối xử theo cách tương tự.
Việc tập trung hẹp hòi vào Giáo Hội Công Giáo ở Pennsylvania bắt đầu hơn một thập niên trước nỗ lực của Shapiro. Nó bắt đầu khi luật sư quận Philadelphia, Lynne M. Abraham, trở thành công tố viên đầu tiên ở Pennsylvania sử dụng hệ thống bồi thẩm đoàn để phơi bày các vụ lạm dụng tình dục của giáo sĩ kéo dài hàng thập niên. Bà bắt đầu cuộc điều tra vào năm 2001 và ban hành báo cáo vào năm 2005. Bà được giao nhiệm vụ cụ thể điều tra việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên trong tất cả các tổ chức tôn giáo, nhưng bà chỉ điều tra Giáo Hội Công Giáo. Vào ngày 31 tháng 3 năm 2011, tôi đã gửi cho Abraham một lá thư qua đường bưu điện chuyển phát nhanh. Tôi đã viết khá cụ thể: “Trong báo cáo của Đại bồi thẩm đoàn ngày 26 tháng 9 năm 2001 (Khu vực Tư pháp thứ nhất, Phân khu Xét xử Hình sự), có ghi rằng Đại bồi thẩm đoàn được giao nhiệm vụ ‘điều tra việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên bởi các cá nhân có liên quan đến các tổ chức và giáo phái tôn giáo.’ Bà là Công tố viên Quận vào thời điểm đó. Bà có thể xác định những ‘tổ chức và giáo phái tôn giáo’ nào mà bà đã theo đuổi, ngoài Giáo Hội Công Giáo La Mã không? Việc xác định thông tin chính xác rất quan trọng đối với quá trình này.” (30) Bà ấy không bao giờ trả lời.
Abraham chưa bao giờ truy tố một linh mục nào. Bà ấy biết ngay từ đầu rằng mình bị ràng buộc bởi luật thời tiêu, nhưng bà ấy đã có thể sử dụng báo cáo của đại bồi thẩm đoàn để bôi nhọ Giáo hội trên báo chí (được tờ Philadelphia Inquirer hoan nghênh), bỏ qua tất cả các tôn giáo khác, vi phạm rõ ràng nhiệm vụ của bà.
Năm 2011, người kế nhiệm của Abraham, Seth Williams, tiếp tục công việc dang dở của bà, cố gắng hạ bệ tổng giám mục Philadelphia. Ông ta cũng thất bại trong việc hạ bệ Giáo hội. Nhưng tòa án thì không thất bại trong việc kết tội ông ta. Năm 2017, ông ta bị kết án 5 năm tù vì nhận hối lộ. (31) Quan trọng hơn là thiệt hại mà ông ta gây ra cho những người đàn ông vô tội bằng cách dựa vào những câu chuyện bịa đặt của Danny Gallagher, tức “Billy Doe”, người tự nhận mình là nạn nhân. Nhà báo Ralph Cipriano mô tả Gallagher là “một cựu người nghiện ma túy, buôn bán heroin, kẻ nói dối kinh niên, kẻ lừa đảo và trộm cắp hạng ba [người] đã bịa đặt toàn bộ câu chuyện. Và cả bốn người đàn ông vào tù—bao gồm cả một linh mục đã chết ở đó—đều vô tội.” (32) Cipriano đã nói sự thật. Trên thực tế, ông ấy xứng đáng nhận giải Pulitzer cho công việc tận tụy của mình.
Một trong những khía cạnh kỳ quặc nhất trong việc đưa tin của giới truyền thông về báo cáo của đại bồi thẩm đoàn năm 2018 là việc họ không giải thích được điều gì đã dẫn đến báo cáo ngay từ đầu. Không phải cơ quan thực thi pháp luật tìm ra thủ phạm: mà chính là một giám mục đã khởi xướng tất cả.
Vào tháng 11 năm 2011, Giám mục Mark Bartchak, người đứng đầu Giáo phận Altoona-Johnstown, đã biết về những hành vi phạm tội do Thầy Stephen Baker gây ra vào những năm 1990 tại trường Bishop McCort Ca. Trường Trung học Công Giáo ở Johnstown. Ngài lập tức thông báo cho chính quyền. Cảnh sát không bao giờ liên hệ với công tố viên quận Cambria, Kathleen Callihan. Nhưng khi biết về vụ việc này, bà quyết định không bắt đầu cuộc điều tra của bồi thẩm đoàn. Thay vào đó, bà yêu cầu một cuộc điều tra cấp tiểu bang, giao vấn đề cho Tổng chưởng lý Kathleen Kane.
Bây giờ hãy tưởng tượng nếu một hiệu trưởng trường công lập ở miền trung Pennsylvania tố cáo một giáo viên bị cho là đã lạm dụng tình dục một học sinh. Hãy tưởng tượng thêm rằng công tố viên địa phương quyết định liên hệ với tổng chưởng lý tiểu bang—thay vì tự mình tiến hành cuộc điều tra—và điều này dẫn đến một cuộc điều tra đối với mọi học khu trong tiểu bang. Và điều đó, đến lượt nó, kích hoạt các cuộc điều tra cấp tiểu bang đối với các trường công lập trên toàn quốc. Điều đó sẽ không xảy ra, dù trong mơ cũng không bao giờ. Cần lưu ý rằng Shapiro đã can thiệp sau khi Kane bị kết án tù vào năm 2016 vì làm rò rỉ các tài liệu bí mật, được niêm phong của bồi thẩm đoàn, không liên quan đến Giáo Hội Công Giáo, cho giới truyền thông và sau đó khai man dưới lời thề. (33)
Shapiro nhận được gì cho những nỗ lực của mình? Ông biết rằng thời tiêu khởi tố đã ngăn cản ông truy tố hầu hết những người có tội, nhưng mục tiêu của ông dường như là làm nhục Giáo hội, (34) đặc biệt là vì ông đã bỏ qua mọi định chế khác.
Phản ứng của nhiều người bảo thủ, những người vốn là những nhà văn có tư duy sâu sắc, đối với báo cáo của bồi thẩm đoàn thật đáng kinh ngạc. George Will bắt đầu bài công kích của mình chống lại Giáo Hội Công Giáo bằng cách đưa ra những cáo buộc sai sự thật: “‘Trò đùa’, một thuật ngữ để chỉ hành vi hiếp dâm trẻ em, theo Tổng chưởng lý Pennsylvania Josh Shapiro, là một phần của từ điển uyển ngữ nham hiểm mà bộ máy quan liêu của Giáo Hội Công Giáo sử dụng để che đậy ‘mô hình lạm dụng’ và âm mưu im lặng của Giáo hội.” (35) Nhưng hầu hết các nạn nhân bị cáo buộc không phải là trẻ em, và hầu hết không bị hiếp dâm: hành vi đụng chạm không phù hợp—điều không thể bào chữa—là tội danh điển hình. Ngoài ra, từ “đùa giỡn” không phải là một phần trong từ vựng của các viên chứcGiáo hội: nó chỉ xuất hiện một lần trong hơn 1,300 trang của báo cáo, và được sử dụng để mô tả hành vi của một chủng sinh. (36)
Việc phân biệt giữa các hành vi vi phạm tình dục nhỏ và hiếp dâm là một thông lệ khá phổ biến trên các phương tiện truyền thông. Nhà báo Leslie Stahl của CBS nhấn mạnh điều này, lập luận rằng những người phạm tội nhẹ không nên bị hủy hoại cuộc sống vì hậu quả đó. (37) Tuy nhiên, khi tôi đưa ra sự phân biệt đó, lưu ý rằng hầu hết các nạn nhân bị cáo buộc không bị hiếp dâm, nhà báo Andrew Ferguson đã nổi giận, tuyên bố rằng báo cáo của bồi thẩm đoàn “chứa đầy những tuyên bố thực tế”. (38) Trên thực tế, không có điều gì trong báo cáo của bồi thẩm đoàn nên được coi là sự thật.
Cựu giáo sư Luật Harvard Alan Dershowitz hiểu rõ hơn: “Đại bồi thẩm đoàn có một chức năng cụ thể. Chức năng của nó chỉ là truy tố hoặc không truy tố. Thực tế, các công tố viên thường không đưa ra báo cáo vì lý do đó, bởi vì họ chỉ nghe một phía của vụ án. Họ không nghe phía còn lại. Không có sự thẩm vấn chéo các nhân chứng. Đó là lý do tại sao việc các công tố viên đưa ra báo cáo được coi là sai trái.” (39)
Chính vì báo cáo của đại bồi thẩm đoàn không mang tính khách quan mà Liên đoàn Công Giáo đã đệ trình bản kiến nghị ủng hộ thách thức quyền của báo cáo đại bồi thẩm đoàn Pennsylvania trong việc công khai tên của mười một linh mục, những người cho rằng việc làm như vậy sẽ vi phạm quyền về danh tiếng của họ được hiến pháp tiểu bang đảm bảo. Vào ngày 3 tháng 12 năm 2018, vụ kiện của chúng tôi, do các luật sư của Jones Day tại Pittsburgh xử lý, đã thắng: Tòa án Tối cao Pennsylvania đã phán quyết 6-1 có lợi cho chúng tôi. (40) Vào tháng 11 năm 2019, một nhóm đặc nhiệm của Tòa án Tối cao Pennsylvania, được thành lập hai năm trước đó, đã chứng minh nỗ lực của chúng tôi là đúng đắn: họ khuyến nghị bãi bỏ các báo cáo của đại bồi thẩm đoàn. (41)
Ngay cả một số người Công Giáo có khuynh hướng tự do hơn cũng đã nhìn thấu báo cáo của đại bồi thẩm đoàn. Cựu phóng viên tôn giáo của tờ New York Times, Peter Steinfels, đã mổ xẻ nó từng phần. Việc tuyên bố, như báo cáo đã nói, rằng “tất cả các nạn nhân đều bị bỏ qua, ở mọi nơi trong tiểu bang, bởi các viên chức giáo hội, những người thích bảo vệ những kẻ lạm dụng và các tổ chức của họ hơn tất cả” là không thể chấp nhận được. Ông gọi nó là “sai lệch nghiêm trọng, vô trách nhiệm, không chính xác và bất công”. Ông cũng coi báo cáo “như một vũ khí trong cuộc tranh luận về vấn đề này”, trích dẫn lời lẽ “xấu xí, bừa bãi và kích động” và những cáo buộc vô căn cứ, “chưa kể đến bằng chứng mà báo cáo bỏ qua”. Ông kết luận rằng điều này “thực sự không xứng đáng với một cơ quan tư pháp” vốn “chịu trách nhiệm về công lý vô tư”. (42)
Steinfels đã nhận thấy một cách chính xác rằng việc sử dụng đại bồi thẩm đoàn như một vũ khí đã được một số tiểu bang áp dụng, một số trong đó thậm chí còn vượt xa việc sửa đổi luật về thời tiêu: họ tìm cách phá vỡ sự kín đáo của lời thú tội. Các nhà lập pháp ở Kentucky, Maryland, Kansas, Nevada và Mississippi đã theo đuổi các nỗ lực nhằm chấm dứt đặc quyền giữa linh mục và người xưng tội, tất cả đều nhân danh việc tìm hiểu về các trường hợp lạm dụng tình dục. Sự đạo đức giả đã được thể hiện rõ ràng ở New Hampshire, khi hội đồng lập pháp tiểu bang bỏ phiếu chấm dứt đặc quyền giữa linh mục và người xưng tội trong khi vẫn giữ nguyên các biện pháp bảo vệ cho đặc quyền luật sư-khách hàng. (43)
Cuộc đối đầu kéo dài nhất xảy ra khi cơ quan lập pháp California tìm cách phá vỡ ấn tín tòa giải tội. Nỗ lực ngăn chặn dự luật này do Tổng giám mục Los Angeles José Gomez dẫn đầu. Liên đoàn Công Giáo cũng đóng một vai trò bằng cách huy động hàng chục nghìn người Công Giáo gửi email cho các nhà lập pháp tiểu bang. Cá nhân tôi đã yêu cầu Thượng nghị sĩ tiểu bang California Jerry Hill, người bảo trợ dự luật, “cung cấp cho văn phòng của tôi tài liệu để hỗ trợ tuyên bố” rằng “đặc quyền giáo sĩ-người xưng tội đã bị lạm dụng trên quy mô lớn, dẫn đến việc lạm dụng trẻ em có hệ thống và không được báo cáo đầy đủ trên nhiều giáo phái và tín ngưỡng khác nhau”. Ông ấy không thể, và cuối cùng, ông ấy đã bỏ cuộc và rút lại dự luật của mình. (44)
Còn tiếp