Lễ Tạ Ơn Mở Tay của Tân Linh Mục F.-X. Nguyễn văn Thương
Tại Bố Liêu, một giáo xứ thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, ngày 04.01.08, Tân Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thương, dâng Thánh lễ Mở tay Tạ Ơn.
Đồng tế với Tân Linh mục, có các Cha thuộc Hạt Quảng Trị, các Cha giáo sư Đại Chủng Viện Xuân Bích Huế, cùng nhiều linh mục bạn trong Tổng Giáo Phận Huế.
Sau đây là bài giảng của linh mục Giuse Hồ Thứ, giáo sư đại Chủng Viện Xuân Bích Huế, trong Thánh lễ Tạ Ơn Mở Tay nầy.
“Con hãy về nhà với thân quyến, và loan truyền cho họ biết những gì Thiên Chúa đã làm cho con và đã thương con”.
Hôm nay là ngày lễ tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân linh mục Người đã ban cho một người anh em trong chúng ta: Cha Phanxicô Xavie Nguyễn văn Thương. Và trong giây phút này, nếu chúng ta xin Tân Linh Mục “loan truyền những gì Thiên Chúa đã làm cho ngài và đã thương ngài” thì có lẽ Thánh lễ nầy sẽ kéo dài không biết đến bao giờ mới dứt, vì hồng ân Thiên Chúa thì nhiều vô kể!
Vâng, thưa anh chị em, ơn Thiên Chúa, làm sao chúng ta có thể kể hết được. Nhưng trong bầu khí phụng vụ đầm ấm sâu lắng sáng nay, hồng ân cao cả và khó hiểu nhất mà mỗi người chúng ta đều muốn kể ra và cảm tạ Chúa cách đặc biệt, chắc chắn không gì khác ngoài hồng ân linh mục mà Chúa vừa thương ban cho người anh em của chúng ta đây. Và để lời tri ân cảm tạ của chúng ta được cụ thể hơn, sâu xa hơn, phong phú hơn, chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ cách đơn sơ vắn gọn về hai câu hỏi: hồng ân linh mục LÀ gì và hồng ân linh mục để LÀM gì.
1. Trước tiên, hồng ân linh mục LÀ gì ?
Thưa: khi một tạo vật mỏng dòn yếu đuối được Đức Giám mục “đặt tay” và đọc “lời truyền chức linh mục” thì trứoc tiên, điều đó có nghĩa là ứng viên đó, không những nhận lãnh một bí tích, mà còn hơn thế, có thể nói: cả con người đó đã trở thành một bí tích, một bí tích sống động, một bí tích di động, nghĩa là cái thân phận thụ tạo mỏng manh yếu đuối đó bỗng trở thành “dấu chỉ bề ngoài” để ban “ơn thánh sủng bên trong” cho người khác (K. Rahner).
Nói cách tượng hình hơn, khi ban hồng ân linh mục cho ai thì có nghĩa là Thiên Chúa đã không ngần ngại đặt các ân sủng vô cùng cao vời của Người trong đôi tay hết sức nhỏ bé của một con người, mà con người đó có khi rất tầm thường, đặt chân lý vô cùng cao siêu của Người trên môi miệng mọn hèn của một con người, mà con người đó có khi rất chểnh mảng, và nhất là không ngần ngại sai kẻ nghèo hèn túng quẫn đó ra đi làm sứ giả “của Người”, sứ giả của chính "Thiên Chúa ba lần Thánh" ! Thật khủng khiếp biết bao !
Thưa anh chị em, như thế, thánh lễ hôm nay thật vô cùng ý nghĩa: chúng ta tạ ơn Chúa đơn giản chỉ vì Người là Thiên Chúa, một Thiên Chúa không như chúng ta nghĩ, tạ ơn Chúa vì Người đã không ngần ngại đóng ấn vĩnh viễn trên thụ tạo bụi tro bất xứng là linh mục. Tạ ơn Chúa vì một linh mục, dù có tội lỗi đến mức nào đi nữa, do lòng Chúa xót thương, vẫn là linh mục đời đời. Tạ ơn Chúa vì ơn sủng của Người vẫn nguyên xi, dù phải qua bàn tay mọn hèn của linh mục phân phát. Tạ ơn Chúa vì ánh sáng của Người vẫn không ngừng rạng rỡ chiếu soi và chuyển hóa đêm đen chết chóc thành bình minh cứu độ, cho dù ánh sáng đó phải xuyên qua những tấm kính có khi xám xịt mịt mờ của người linh mục.
Tóm lại, chúng ta không ngớt tạ ơn Chúa vì chính nhờ tình thương bao la của Người mà tất cả con người linh mục không ngừng trở thành một bí tích, bí tích mang ơn cứu độ.
Nơi linh mục, công việc không thể tách rời khỏi con người. Đó là lý do đầu tiên và quan trọng nhất khiến chúng ta không ngừng ngợi khen cảm tạ Chúa, vì chỉ có Chúa mời làm nên điều kỳ diệu và khủng khiếp đó.
Hơn nữa, hiểu được điều đó, linh mục sẽ biết rằng mình không bao giờ được phép cậy dựa vào chính bản thân mình, vào tài đức cá nhân của mình. Linh mục, rốt cuộc chỉ là một đầy tớ mọn hèn và vô dụng trong tay Thiên Chúa toàn năng và yêu thương mà thôi.
Sau cùng, biết được điều đó, chúng ta sẽ tiếp tục nguyện cầu nhiều thật nhiều cho Tân Linh mục để ngài không ngừng trở nên “bí tích” như lòng Chúa mong ước.
2. Nhưng hồng ân linh mục để LÀM gì ?
Sách Giáo lý của HTCG (bản toát yếu) số 336 cho ta câu trả lời thật đơn sơ: “chính vì để phục vụ các tín hữu mà Đức Kitô đã thiết lập chức tư tế thừa tác”, tức chức linh mục. Nói cách khác, linh mục có ra là vì người khác. Dĩ nhiên các bí tích đều giúp người lãnh nhận mở ra với ngừơi khác (bí tích Rửa tội, Thêm sức, Mình Thánh Chúa, Hòa giải đều đưa người lãnh nhận đến với tha nhân, bí tích Hôn phối giúp đôi vợ chồng không những sống với nhau, cho nhau, mà còn với người khác và cho người khác), nhưng có thể nói, không bí tích nào mang đặc tính “vì người khác” cách rõ nét cho bằng bí tích truyền chức thánh. Để minh họa đặc tính độc đáo này xin được phép kể lại câu chuyện mà có lẽ một số anh chị em đã biết.
Chuyện kể rằng có một bà mẹ hỏi con trai: Theo con, trong con người, phần thân thể nào là cần thiết nhất ? _ Đôi mắt, vì nhờ có đôi mắt con mới thấy mẹ. _ Chưa đúng ! _ Lỗ tai, vì có lỗ tai con mới có thể nghe tiếng chim hót, nghe tiếng mẹ gọi, nghe tiếng mẹ nói “mẹ yêu con” ! _ Cũng chưa đúng _ Vậy thì đôi chân, vì có đôi chân con mới có thể đến trường để học và sau này có thể đi làm để nuôi mẹ. _ Cũng chưa đúng. Thôi con chỉ nói một lời cuối cùng nữa thôi: Trái tim, vì có trái tim con mới có thể yêu mẹ. _ Cũng chưa đúng! Vậy thì con đành “bó tay.com”! Bấy giờ người mẹ mới nhẹ nhàng trả lời: "Bờ vai, bởi vì tất cả các phần thân thể vừa kể là cần thiết, rất cần thiết, nhưng là cần thiết cho chính mình, còn bờ vai thì lại cần thiết cho người khác. Sở dĩ mẹ có tư tưởng đó là nhờ ngày ông nội của con mất. Lúc đó cơn đau đã làm cho ba con không còn đứng nõi nữa. Ba con khóc. Khóc nhiều. Khóc lớn. Và khi ba con biết rằng mình không còn có thể chịu nỗi cơn đau nữa mới quờ quạng tìm mẹ, không phải tìm đôi mắt của me, đôi chân của mẹ, cũng chẳng tìm con tim của mẹ, mà tìm.. ... chính bờ vai của mẹ, rồi tựa đầu vào đó. Và rồi ba con bớt khóc, ba con bớt đau. Từ đó mẹ mới chợt nhận ra rằng: bờ vai không quan trọng cho mình nhưng quan trọng cho người khác biết bao."
Như thế, chúng ta có thể mạo muội nói rằng nếu trong các hội nghị, người ta thường vẽ hình ảnh đôi bàn tay siết chặt vào nhau, nếu trong ngày lễ hôn phối, người ta thường khắc họa hình trái tim, hoặc hai trái tim quyện vào nhau, thì trong ngày lễ TẠ ƠN như hôm nay, có lẽ một trong những hình ảnh được nhắc nhở nhiều nhất, phải là hình ảnh của bờ vai, một bờ-vai-cho-người-khác, bờ vai mang nặng gánh mục vụ, bờ vai của Người Mục Tử vui tươi vác chiên lạc về ràn, bờ vai của Đấng Cứu Thế vác lấy Thập Giá đi lên đồi Canvê.
Thật vậy, nếu Đức Kitô là người mục tử nhân lành, người mục tử “đẹp” [kalos], người mục tử hiến mạng sống mình vì đàn chiên chứ không như người chăn thuê, thì con người linh mục chỉ nhân lành, đời người linh mục chỉ “đẹp” khi sống trọn vẹn "đức ái mục tử” [charité pastorale].
Khác với tình yêu vợ chồng là tình yêu tự bẩm sinh được ghi dấu nhờ tính cách hổ tương, “đức ái mục tử” hoàn toàn mang tính hướng tha, không giữ lại điều gì cho riêng mình. Quả vậy linh mục không phải chỉ là người lo việc thờ phượng, cũng không phải chỉ là ngừơi chăm sóc các linh hồn [cura animarum], mà còn là người luôn sẵn sàng làm đầy tớ mọi người. Vì không bao giờ hành động với sức riêng mình, “người linh mục luôn sẵn lòng tuân phục lệnh Chúa, bất chấp sự nhạo cười của thế gian, vẫn cứ mãi miết diễu hành quanh thành quách Giêricô các linh hồn cho đến khi chính Chúa khiến thành lũy ấy sụp đổ, để không một phàm nhân nào dám vênh vang trước mặt Chúa” (Rahner). Chính lúc đó, chúng ta mới có thể hiểu được rằng đối với linh mục, cầu nguyện là bí quyết trên hết mọi bí quyết, phương pháp trên hết mọi phương pháp. Đó là phương thế độc nhất vô nhị để tiếp cận các linh hồn.
Hiểu rõ điều đó, thưa anh chị em, chúng ta lại càng có lý do để cảm tạ Thiên Chúa cách sâu xa hơn vì Người đã thương ban hồng ân linh mục cho Giáo Hội, cho người anh em của chúng ta đây, đồng thời chúng ta cũng hãy cầu nguyện nhiều thật nhiều cho Tân linh mục. Khi cùng ngài dâng Thánh lễ đầu tiên tại quê nhà Bố Liêu này, chúng ta hãy sốt sắng dâng ngài cho Chúa cùng với hương hoa bánh rượu, để đời ngài liên lỉ thành của lễ, thành tấm bánh không ngừng bẻ ra cho anh chị em. Amen.(Bài giảng của LM. Giuse Hồ Thứ)
Tại Bố Liêu, một giáo xứ thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, ngày 04.01.08, Tân Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thương, dâng Thánh lễ Mở tay Tạ Ơn.
Đồng tế với Tân Linh mục, có các Cha thuộc Hạt Quảng Trị, các Cha giáo sư Đại Chủng Viện Xuân Bích Huế, cùng nhiều linh mục bạn trong Tổng Giáo Phận Huế.Sau đây là bài giảng của linh mục Giuse Hồ Thứ, giáo sư đại Chủng Viện Xuân Bích Huế, trong Thánh lễ Tạ Ơn Mở Tay nầy.
“Con hãy về nhà với thân quyến, và loan truyền cho họ biết những gì Thiên Chúa đã làm cho con và đã thương con”.
Hôm nay là ngày lễ tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân linh mục Người đã ban cho một người anh em trong chúng ta: Cha Phanxicô Xavie Nguyễn văn Thương. Và trong giây phút này, nếu chúng ta xin Tân Linh Mục “loan truyền những gì Thiên Chúa đã làm cho ngài và đã thương ngài” thì có lẽ Thánh lễ nầy sẽ kéo dài không biết đến bao giờ mới dứt, vì hồng ân Thiên Chúa thì nhiều vô kể!
Vâng, thưa anh chị em, ơn Thiên Chúa, làm sao chúng ta có thể kể hết được. Nhưng trong bầu khí phụng vụ đầm ấm sâu lắng sáng nay, hồng ân cao cả và khó hiểu nhất mà mỗi người chúng ta đều muốn kể ra và cảm tạ Chúa cách đặc biệt, chắc chắn không gì khác ngoài hồng ân linh mục mà Chúa vừa thương ban cho người anh em của chúng ta đây. Và để lời tri ân cảm tạ của chúng ta được cụ thể hơn, sâu xa hơn, phong phú hơn, chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ cách đơn sơ vắn gọn về hai câu hỏi: hồng ân linh mục LÀ gì và hồng ân linh mục để LÀM gì.
1. Trước tiên, hồng ân linh mục LÀ gì ?
Thưa: khi một tạo vật mỏng dòn yếu đuối được Đức Giám mục “đặt tay” và đọc “lời truyền chức linh mục” thì trứoc tiên, điều đó có nghĩa là ứng viên đó, không những nhận lãnh một bí tích, mà còn hơn thế, có thể nói: cả con người đó đã trở thành một bí tích, một bí tích sống động, một bí tích di động, nghĩa là cái thân phận thụ tạo mỏng manh yếu đuối đó bỗng trở thành “dấu chỉ bề ngoài” để ban “ơn thánh sủng bên trong” cho người khác (K. Rahner).
Nói cách tượng hình hơn, khi ban hồng ân linh mục cho ai thì có nghĩa là Thiên Chúa đã không ngần ngại đặt các ân sủng vô cùng cao vời của Người trong đôi tay hết sức nhỏ bé của một con người, mà con người đó có khi rất tầm thường, đặt chân lý vô cùng cao siêu của Người trên môi miệng mọn hèn của một con người, mà con người đó có khi rất chểnh mảng, và nhất là không ngần ngại sai kẻ nghèo hèn túng quẫn đó ra đi làm sứ giả “của Người”, sứ giả của chính "Thiên Chúa ba lần Thánh" ! Thật khủng khiếp biết bao !
Thưa anh chị em, như thế, thánh lễ hôm nay thật vô cùng ý nghĩa: chúng ta tạ ơn Chúa đơn giản chỉ vì Người là Thiên Chúa, một Thiên Chúa không như chúng ta nghĩ, tạ ơn Chúa vì Người đã không ngần ngại đóng ấn vĩnh viễn trên thụ tạo bụi tro bất xứng là linh mục. Tạ ơn Chúa vì một linh mục, dù có tội lỗi đến mức nào đi nữa, do lòng Chúa xót thương, vẫn là linh mục đời đời. Tạ ơn Chúa vì ơn sủng của Người vẫn nguyên xi, dù phải qua bàn tay mọn hèn của linh mục phân phát. Tạ ơn Chúa vì ánh sáng của Người vẫn không ngừng rạng rỡ chiếu soi và chuyển hóa đêm đen chết chóc thành bình minh cứu độ, cho dù ánh sáng đó phải xuyên qua những tấm kính có khi xám xịt mịt mờ của người linh mục.
Tóm lại, chúng ta không ngớt tạ ơn Chúa vì chính nhờ tình thương bao la của Người mà tất cả con người linh mục không ngừng trở thành một bí tích, bí tích mang ơn cứu độ.
Nơi linh mục, công việc không thể tách rời khỏi con người. Đó là lý do đầu tiên và quan trọng nhất khiến chúng ta không ngừng ngợi khen cảm tạ Chúa, vì chỉ có Chúa mời làm nên điều kỳ diệu và khủng khiếp đó.
Hơn nữa, hiểu được điều đó, linh mục sẽ biết rằng mình không bao giờ được phép cậy dựa vào chính bản thân mình, vào tài đức cá nhân của mình. Linh mục, rốt cuộc chỉ là một đầy tớ mọn hèn và vô dụng trong tay Thiên Chúa toàn năng và yêu thương mà thôi.
Sau cùng, biết được điều đó, chúng ta sẽ tiếp tục nguyện cầu nhiều thật nhiều cho Tân Linh mục để ngài không ngừng trở nên “bí tích” như lòng Chúa mong ước.
2. Nhưng hồng ân linh mục để LÀM gì ?
Sách Giáo lý của HTCG (bản toát yếu) số 336 cho ta câu trả lời thật đơn sơ: “chính vì để phục vụ các tín hữu mà Đức Kitô đã thiết lập chức tư tế thừa tác”, tức chức linh mục. Nói cách khác, linh mục có ra là vì người khác. Dĩ nhiên các bí tích đều giúp người lãnh nhận mở ra với ngừơi khác (bí tích Rửa tội, Thêm sức, Mình Thánh Chúa, Hòa giải đều đưa người lãnh nhận đến với tha nhân, bí tích Hôn phối giúp đôi vợ chồng không những sống với nhau, cho nhau, mà còn với người khác và cho người khác), nhưng có thể nói, không bí tích nào mang đặc tính “vì người khác” cách rõ nét cho bằng bí tích truyền chức thánh. Để minh họa đặc tính độc đáo này xin được phép kể lại câu chuyện mà có lẽ một số anh chị em đã biết.
Chuyện kể rằng có một bà mẹ hỏi con trai: Theo con, trong con người, phần thân thể nào là cần thiết nhất ? _ Đôi mắt, vì nhờ có đôi mắt con mới thấy mẹ. _ Chưa đúng ! _ Lỗ tai, vì có lỗ tai con mới có thể nghe tiếng chim hót, nghe tiếng mẹ gọi, nghe tiếng mẹ nói “mẹ yêu con” ! _ Cũng chưa đúng _ Vậy thì đôi chân, vì có đôi chân con mới có thể đến trường để học và sau này có thể đi làm để nuôi mẹ. _ Cũng chưa đúng. Thôi con chỉ nói một lời cuối cùng nữa thôi: Trái tim, vì có trái tim con mới có thể yêu mẹ. _ Cũng chưa đúng! Vậy thì con đành “bó tay.com”! Bấy giờ người mẹ mới nhẹ nhàng trả lời: "Bờ vai, bởi vì tất cả các phần thân thể vừa kể là cần thiết, rất cần thiết, nhưng là cần thiết cho chính mình, còn bờ vai thì lại cần thiết cho người khác. Sở dĩ mẹ có tư tưởng đó là nhờ ngày ông nội của con mất. Lúc đó cơn đau đã làm cho ba con không còn đứng nõi nữa. Ba con khóc. Khóc nhiều. Khóc lớn. Và khi ba con biết rằng mình không còn có thể chịu nỗi cơn đau nữa mới quờ quạng tìm mẹ, không phải tìm đôi mắt của me, đôi chân của mẹ, cũng chẳng tìm con tim của mẹ, mà tìm.. ... chính bờ vai của mẹ, rồi tựa đầu vào đó. Và rồi ba con bớt khóc, ba con bớt đau. Từ đó mẹ mới chợt nhận ra rằng: bờ vai không quan trọng cho mình nhưng quan trọng cho người khác biết bao."
Như thế, chúng ta có thể mạo muội nói rằng nếu trong các hội nghị, người ta thường vẽ hình ảnh đôi bàn tay siết chặt vào nhau, nếu trong ngày lễ hôn phối, người ta thường khắc họa hình trái tim, hoặc hai trái tim quyện vào nhau, thì trong ngày lễ TẠ ƠN như hôm nay, có lẽ một trong những hình ảnh được nhắc nhở nhiều nhất, phải là hình ảnh của bờ vai, một bờ-vai-cho-người-khác, bờ vai mang nặng gánh mục vụ, bờ vai của Người Mục Tử vui tươi vác chiên lạc về ràn, bờ vai của Đấng Cứu Thế vác lấy Thập Giá đi lên đồi Canvê.
Thật vậy, nếu Đức Kitô là người mục tử nhân lành, người mục tử “đẹp” [kalos], người mục tử hiến mạng sống mình vì đàn chiên chứ không như người chăn thuê, thì con người linh mục chỉ nhân lành, đời người linh mục chỉ “đẹp” khi sống trọn vẹn "đức ái mục tử” [charité pastorale].
Khác với tình yêu vợ chồng là tình yêu tự bẩm sinh được ghi dấu nhờ tính cách hổ tương, “đức ái mục tử” hoàn toàn mang tính hướng tha, không giữ lại điều gì cho riêng mình. Quả vậy linh mục không phải chỉ là người lo việc thờ phượng, cũng không phải chỉ là ngừơi chăm sóc các linh hồn [cura animarum], mà còn là người luôn sẵn sàng làm đầy tớ mọi người. Vì không bao giờ hành động với sức riêng mình, “người linh mục luôn sẵn lòng tuân phục lệnh Chúa, bất chấp sự nhạo cười của thế gian, vẫn cứ mãi miết diễu hành quanh thành quách Giêricô các linh hồn cho đến khi chính Chúa khiến thành lũy ấy sụp đổ, để không một phàm nhân nào dám vênh vang trước mặt Chúa” (Rahner). Chính lúc đó, chúng ta mới có thể hiểu được rằng đối với linh mục, cầu nguyện là bí quyết trên hết mọi bí quyết, phương pháp trên hết mọi phương pháp. Đó là phương thế độc nhất vô nhị để tiếp cận các linh hồn.
Hiểu rõ điều đó, thưa anh chị em, chúng ta lại càng có lý do để cảm tạ Thiên Chúa cách sâu xa hơn vì Người đã thương ban hồng ân linh mục cho Giáo Hội, cho người anh em của chúng ta đây, đồng thời chúng ta cũng hãy cầu nguyện nhiều thật nhiều cho Tân linh mục. Khi cùng ngài dâng Thánh lễ đầu tiên tại quê nhà Bố Liêu này, chúng ta hãy sốt sắng dâng ngài cho Chúa cùng với hương hoa bánh rượu, để đời ngài liên lỉ thành của lễ, thành tấm bánh không ngừng bẻ ra cho anh chị em. Amen.(Bài giảng của LM. Giuse Hồ Thứ)