Từ Gương Sáng Thánh Nhân. (tiếp theo và hết).
Tôi tin tất cả chúng ta đều đồng ý với nhau rằng sự ngưỡng mộ ĐGH Gioan Phaolô II đã lên đến đỉnh cao nhất tại lễ tang Ngài. Trong số muôn vàn lời ca tụng Ngài, tôi thích nhất lời phát biểu của ông Gô-ba-chóp “Con người nhân bản nhất thời đại chúng ta đã qua đi”.
Lý do tôi thích lời phát biểu này nhất bởi vì theo tôi nghĩ đó là lời phát biểu rất thành thật, không vương tính ngoại giao hay chính trị. Đó là lời phát biểu của một nhân vật lãnh đạo một thể chế chính trị mang tính toàn cầu mà ĐGH Gioan Phaolô II ghét cay ghét đắng. Vậy mà ông đã ca tụng ĐGH là ‘nhân bản nhất’ thời đại chúng ta, hay nói cách khác, ông quan niệm rằng không có một nhân vật nào trong thời đại chúng ta có tính ‘nhân bản’ như ĐGH.
Quả vậy. trong một thế giới chưa có nhiều thuận thảo, một thế giới vẫn còn nhiều xung khắc, xung đột, thù hận, một thế giới còn nhiều đau thương, tang tóc, ĐGH Gioan Phaolô II, với trái tim mở rộng, đã nỗ lực gieo rắc tình thương khắp nơi, đã nỗ lực mang lại những thông cảm, những hàn gắn. Nỗ lực của Ngài tuy chưa mang lại kết quả như Ngài mong muốn, nhưng thế giới loài người đã cảm nhận được con đường đúng nên theo, và phải theo, để mang lại sự bình an, sự thịnh vượng cho mọi người.
Thế giới phải ngưỡng mộ Ngài khi Ngài đã can đảm và thành thật xác nhận những lỗi lầm của chính Giáo-hội Công-giáo đối với tha nhân và thay mặt Giáo-hội xin lỗi tha nhân. Đó chính là cách ứng xử tiêu biểu của một thánh nhân trong việc mang lại sự thông cảm, sự hàn gắn, với mong muốn mang lại một thế giới hài hòa hơn. Thiên Chúa đã chúc lành cho loài người “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Thực hiện lời Chúa, ĐGH Gioan Phaolô II trong thời đại chúng ta đã suốt đời đi đánh thức cái ‘thiện tâm’, ngay cả đi tạo ‘cái thiện tâm’ trong con người để mang lại bình an cho con người.
Noi gương ĐGH Gioan Phaolô II, Giáo-hội Công-giáo Việt Nam, mà Hội-đồng Giám-mục VN là đại diện, đã thực hiện ‘con đường đi đúng’ của Ngài như thế nào?
Trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam hiện nay, tôi rất vui mừng khi được nghe, được đọc, đưọc biết những tin tức về HĐGMVN đã đi đúng con đường của ĐGH Gioan Phaolô II: Đối thoại với Nhà Nước Việt Nam, chứ không đối đầu, để mang lại sự thông cảm và hàn gắn, hòng mong mang lại cuộc sống thịnh vượng và bình an cho mọi người dân Việt, trong đó có giáo dân Việt.
Trong cuộc phỏng vấn Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt do LM Trần Công Nghị thực hiện cách đây ít lâu, Đức TGM đã khẳng định rằng không có vấn đề nào mà không thể giải quyết được qua đối thoại, rằng chúng ta chưa hiểu rõ phúc âm nên có những đòi hỏi vượt ra ngoài phúc âm. Đức TGM Nguyễn Như Thể cũng quan niệm ‘phá bỏ nghi kỵ và ngăn cách’. Và trong thời gian ở Rôma, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã được đặt câu hỏi đại ý là tại sao Giáo hội Công giáo trong nước không có ‘thái độ cứng rắn hơn’ đối với Nhà Nước VN, điển hình là đối với pháp lệnh 36. Và ĐHY đã thẳng thắn trả lời rằng GHCG trong nước, không giống như tập thể giáo dân ở nước ngoài, chủ trương ‘đối thoại’, chứ không ‘đối đầu’.
Tôi tin rằng đối thoại mang tính thuyết phục, trong khi đối đầu mang tính tiêu diệt. Tôi tin rằng chính nhờ đối thoại mà, theo ĐHY Phạm Minh Mẫn, GHCG trong nước vẫn phát triển và đã mang lại những con cái mới cho Chúa từ ngay trong hàng ngũ ‘công chức Nhà Nước’. Tôi cũng tin rằng chính các nhà lãnh đạo chính quyền VN cũng đã nhận thấy sự ‘lỗi thời’ của chú nghĩa CS. Tôi tin rằng chính họ cũng muốn thay đổi nhưng vì vẫn còn những ‘đối đầu mang tính tiêu diệt’ và do đó họ không muốn, hay chưa thể, thực sự thay đổi trong chiều hướng tích cực hơn để sớm mang lại sự thịnh vượng cho đất nước.
Trong chuyến viếng thăm quê hương lần thứ hai mới đây, Đức TGM Nguyễn văn Tốt, sứ thần Tòa Thánh tại một số nước Phi châu, đã được phỏng vấn và đã trả lời đại ý ‘ngày nay không còn sự hận thù nữa’. Tôi xin phép Ngài để suy diễn rằng Ngài đã xa gần nhắn nhủ với Nhà Nước VN rằng họ không sợ bị đối đầu và tiêu diệt nữa, và họ nên thẳng thắn và cởi mở trong đối thoại để sớm mang lại phồn vinh thực sự cho đất nước.
Đạo Chúa khi mới vào nước Nhật đã bị bách hại như thế nào? Thế mà giáo dân Nhật không hận thù, góp tay xây dựng một nước Nhật hùng cường như ngày nay. Đạo Chúa khi vào Triều Tiên đã bị bách hại như thế nào? Thế mà giáo dân Triều Tiên không hận thù, dành trọn tim óc của mình cùng với dân tộc Triều Tiên (tuy mới một nửa) bắt kịp các nước tiên tiến như ngày nay. Và Đạo Chúa khi vào Việt Nam đã bị các vua nhà Nguyễn bách hại như thế nào? Thế mà giáo dân Việt không hận thù nhà Nguyễn, sống hài hòa với dân tộc, góp phần xây dựng đất nước. Thật là không may, kể từ ngày có cuộc cách mạng chống thực dân Pháp để giành lại độc lập cho Tổ quốc thì Đạo Chúa đã bị ‘hiểu lầm - nghi kỵ - và ngăn cách’, để rồi gây ra những ‘đáng tiếc’ làm dây dưa những hận thù cho tới ngày hôm nay.
Tôi đã đọc đi đọc lại cuốn Tôi Phải Sống của LM Nguyễn Hữu Lễ, một nhân chứng sống điển hình của ‘những đáng tiếc’ mang tính lịch sử trong giai đoạn lịch sử vừa qua của đất nước. Tôi nghĩ rằng những tàn bạo của sự bách hại Đạo Chúa xa hơn trong lịch sử đã mang lại những cái chết cho vô số những nạn nhân, nhưng tất cả những nạn nhân đều đã qua đi, không ai còn sống sót để kể lại những tàn bạo của con người đối với con người như LM Nguyễn Hữu Lễ. Vậy mà LM NHL cũng đã tha thứ, không còn hận thù tất cả những ai đã muốn tiêu diệt ngài, một đại diện của Đạo Chúa.
Tôi nghĩ rằng khi đọc bài của linh mục Trần Công Nghị trên Vietcatholic.net ngày 5/10/2005 về cuộc phỏng vấn ĐGH Gioan Phaolô II do một ký giả Ba Lan thực hiện năm 1988, chúng ta sẽ có một cái nhìn rõ hơn để rồi sẽ dễ dàng xóa bỏ hận thù hơn đối với ‘những đáng tiếc’ trong lịch sử VN kể từ ngày xuất hiện chủ nghĩa CS tại VN.
Tôi xin trích lại một vài đoạn phát biểu của ĐGH: “Một số người cho rằng cách chung thì Stalin có khả năng vĩ đại hơn Hitle. Trên quan điểm luân lý mà nói thì cả hai đều đáng trách. Nếu Stalin được phán đoán tốt hơn thì chỉ vì chủ thuyết Cộng sản có một kế hoạch hỗ trợ guồng máy sâu xa hơn nhiều so với chủ thuyết Xã hội quốc gia. Chủ nghĩa Xã Hội Quốc Gia (Đức) và chủ nghĩa Fat-xít (Ý) thực sự có liên hệ rất gần gũi, và là những chủ thuyết vô nhân bản, quá đơn thuần và còn phiến diện nữa. Chủ thuyết Cộng Sản đã và luôn luôn được nhận biết như một hệ thống muốn cổ võ công bình xã hội hơn”.
Cái tư tưởng ‘một xã hội công bằng hơn’ này đã hấp dẫn một số người VN khiến họ đã mang chủ thuyết Công sản vào Việt Nam với một ‘hoài bão’ mang tính chính đáng là sự công bình hơn cho xã hội VN. Và với chiêu bài ‘xã hội công bình’ này, người Cộng sản VN đã tập trung được giới bần cố nông, giai cấp bị bóc lột và chiếm đa số tại VN. Những người CSVN đã dễ dàng thành công trong việc tập trung sức người này với khẩu hiệu đầy thuyết phục “Được thì được cả giang sơn. Mất thì chỉ mất cái khố rách”.
Thế nhưng… Vâng, thế nhưng, theo sự phân tích thêm của ĐGH Gioan Phaolô II: “… Sau này người Cộng Sản giải thoát mình khỏi giới bần cố nông và cất đi quyền của giới vô sản, rồi họ lại vẽ ra hệ thống độc quyền đảng trị, tạo ra tầng lớp độc quyền dành cho các đảng viên, và hệ thống này còn tiếp tục cho đến ngày nay. Qua nhiều thập niên, lý thuyết này tạo nên một lớp người giai cấp mới, giai cấp trưởng giả mới”.
Thực tế đã xảy ra đúng như vậy và đó là lý do ĐGH Gioan Phaolô II ‘ghét cay ghét đắng’ chủ thuyết CS giả hình nhân đức này. Và đó cũng là lý do khiến ĐGH đã góp phần mình vào việc giải thể chủ thuyết CS mà thế giới tư bản đã tốn hao bao công sức mà không thực hiện được.
Buồn thay cho đất nước VN vì các nhà lãnh đạo Nhà Nước vẫn còn bám víu lấy chiêu bài ‘xã hội công bằng’ giả hình của chủ thuyết này khiến đại đa số nhân dân vẫn còn chưa được hưởng sự công bằng xã hội như họ được hứa hẹn khi họ đem sức mình đóng góp vào việc đem lại độc lập và thống nhất cho đất nước.
Nhưng may thay, ngoài một số còn quyền hành sinh sát và cố bám víu vào chủ thuyết này để tạo đặc quyền đặc lợi cho bản thân mình, cho gia đình mình, và cho phe phái mình, thì chúng ta đã thấy một khuynh hướng ‘trở về nguồn’ đáng trân trọng của giới trẻ trong nước. Với tinh thần Đại Việt, với tinh thần Thánh Gióng, chứ không với tinh thần nào khác, giới trẻ trong nước, không bao gồm những ‘con ông cháu cha’, đang phấn đấu vươn lên và đang thành công trong nhiều lãnh vực. Họ sẽ là những người mang lại sự phồn vinh thực sự cho đất nước. Họ sẽ là những người rửa cái nhục nghèo nàn lạc hậu cho đất nước.
Vậy thì với đời sống ‘Đức tin và Tình yêu’, với tinh thần ‘Kitô dấn thân’, với gương sáng của ĐGH Gioan Phaolô II, mọi giáo dân Việt ở bất cứ nơi đâu đều có bổn phận hỗ trợ đường đi đúng của GHCGVN trong việc đối thoại với Nhà Nước VN trong giai đoạn tế nhị hiện nay, hòng sớm mang lại cuộc sống thực sự hạnh phúc, ấm no cho đồng bào. Tôi ao ước và tôi cũng tin rằng mọi giáo dân Việt sẽ đồng hành với giới trẻ VN trong đường đi đúng của họ nhằm đưa đất nước đi lên vì đó cũng là đường đi đúng của chính mình, của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.
Tôi tin tất cả chúng ta đều đồng ý với nhau rằng sự ngưỡng mộ ĐGH Gioan Phaolô II đã lên đến đỉnh cao nhất tại lễ tang Ngài. Trong số muôn vàn lời ca tụng Ngài, tôi thích nhất lời phát biểu của ông Gô-ba-chóp “Con người nhân bản nhất thời đại chúng ta đã qua đi”.
Lý do tôi thích lời phát biểu này nhất bởi vì theo tôi nghĩ đó là lời phát biểu rất thành thật, không vương tính ngoại giao hay chính trị. Đó là lời phát biểu của một nhân vật lãnh đạo một thể chế chính trị mang tính toàn cầu mà ĐGH Gioan Phaolô II ghét cay ghét đắng. Vậy mà ông đã ca tụng ĐGH là ‘nhân bản nhất’ thời đại chúng ta, hay nói cách khác, ông quan niệm rằng không có một nhân vật nào trong thời đại chúng ta có tính ‘nhân bản’ như ĐGH.
Quả vậy. trong một thế giới chưa có nhiều thuận thảo, một thế giới vẫn còn nhiều xung khắc, xung đột, thù hận, một thế giới còn nhiều đau thương, tang tóc, ĐGH Gioan Phaolô II, với trái tim mở rộng, đã nỗ lực gieo rắc tình thương khắp nơi, đã nỗ lực mang lại những thông cảm, những hàn gắn. Nỗ lực của Ngài tuy chưa mang lại kết quả như Ngài mong muốn, nhưng thế giới loài người đã cảm nhận được con đường đúng nên theo, và phải theo, để mang lại sự bình an, sự thịnh vượng cho mọi người.
Thế giới phải ngưỡng mộ Ngài khi Ngài đã can đảm và thành thật xác nhận những lỗi lầm của chính Giáo-hội Công-giáo đối với tha nhân và thay mặt Giáo-hội xin lỗi tha nhân. Đó chính là cách ứng xử tiêu biểu của một thánh nhân trong việc mang lại sự thông cảm, sự hàn gắn, với mong muốn mang lại một thế giới hài hòa hơn. Thiên Chúa đã chúc lành cho loài người “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Thực hiện lời Chúa, ĐGH Gioan Phaolô II trong thời đại chúng ta đã suốt đời đi đánh thức cái ‘thiện tâm’, ngay cả đi tạo ‘cái thiện tâm’ trong con người để mang lại bình an cho con người.
Noi gương ĐGH Gioan Phaolô II, Giáo-hội Công-giáo Việt Nam, mà Hội-đồng Giám-mục VN là đại diện, đã thực hiện ‘con đường đi đúng’ của Ngài như thế nào?
Trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam hiện nay, tôi rất vui mừng khi được nghe, được đọc, đưọc biết những tin tức về HĐGMVN đã đi đúng con đường của ĐGH Gioan Phaolô II: Đối thoại với Nhà Nước Việt Nam, chứ không đối đầu, để mang lại sự thông cảm và hàn gắn, hòng mong mang lại cuộc sống thịnh vượng và bình an cho mọi người dân Việt, trong đó có giáo dân Việt.
Trong cuộc phỏng vấn Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt do LM Trần Công Nghị thực hiện cách đây ít lâu, Đức TGM đã khẳng định rằng không có vấn đề nào mà không thể giải quyết được qua đối thoại, rằng chúng ta chưa hiểu rõ phúc âm nên có những đòi hỏi vượt ra ngoài phúc âm. Đức TGM Nguyễn Như Thể cũng quan niệm ‘phá bỏ nghi kỵ và ngăn cách’. Và trong thời gian ở Rôma, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã được đặt câu hỏi đại ý là tại sao Giáo hội Công giáo trong nước không có ‘thái độ cứng rắn hơn’ đối với Nhà Nước VN, điển hình là đối với pháp lệnh 36. Và ĐHY đã thẳng thắn trả lời rằng GHCG trong nước, không giống như tập thể giáo dân ở nước ngoài, chủ trương ‘đối thoại’, chứ không ‘đối đầu’.
Tôi tin rằng đối thoại mang tính thuyết phục, trong khi đối đầu mang tính tiêu diệt. Tôi tin rằng chính nhờ đối thoại mà, theo ĐHY Phạm Minh Mẫn, GHCG trong nước vẫn phát triển và đã mang lại những con cái mới cho Chúa từ ngay trong hàng ngũ ‘công chức Nhà Nước’. Tôi cũng tin rằng chính các nhà lãnh đạo chính quyền VN cũng đã nhận thấy sự ‘lỗi thời’ của chú nghĩa CS. Tôi tin rằng chính họ cũng muốn thay đổi nhưng vì vẫn còn những ‘đối đầu mang tính tiêu diệt’ và do đó họ không muốn, hay chưa thể, thực sự thay đổi trong chiều hướng tích cực hơn để sớm mang lại sự thịnh vượng cho đất nước.
Trong chuyến viếng thăm quê hương lần thứ hai mới đây, Đức TGM Nguyễn văn Tốt, sứ thần Tòa Thánh tại một số nước Phi châu, đã được phỏng vấn và đã trả lời đại ý ‘ngày nay không còn sự hận thù nữa’. Tôi xin phép Ngài để suy diễn rằng Ngài đã xa gần nhắn nhủ với Nhà Nước VN rằng họ không sợ bị đối đầu và tiêu diệt nữa, và họ nên thẳng thắn và cởi mở trong đối thoại để sớm mang lại phồn vinh thực sự cho đất nước.
Đạo Chúa khi mới vào nước Nhật đã bị bách hại như thế nào? Thế mà giáo dân Nhật không hận thù, góp tay xây dựng một nước Nhật hùng cường như ngày nay. Đạo Chúa khi vào Triều Tiên đã bị bách hại như thế nào? Thế mà giáo dân Triều Tiên không hận thù, dành trọn tim óc của mình cùng với dân tộc Triều Tiên (tuy mới một nửa) bắt kịp các nước tiên tiến như ngày nay. Và Đạo Chúa khi vào Việt Nam đã bị các vua nhà Nguyễn bách hại như thế nào? Thế mà giáo dân Việt không hận thù nhà Nguyễn, sống hài hòa với dân tộc, góp phần xây dựng đất nước. Thật là không may, kể từ ngày có cuộc cách mạng chống thực dân Pháp để giành lại độc lập cho Tổ quốc thì Đạo Chúa đã bị ‘hiểu lầm - nghi kỵ - và ngăn cách’, để rồi gây ra những ‘đáng tiếc’ làm dây dưa những hận thù cho tới ngày hôm nay.
Tôi đã đọc đi đọc lại cuốn Tôi Phải Sống của LM Nguyễn Hữu Lễ, một nhân chứng sống điển hình của ‘những đáng tiếc’ mang tính lịch sử trong giai đoạn lịch sử vừa qua của đất nước. Tôi nghĩ rằng những tàn bạo của sự bách hại Đạo Chúa xa hơn trong lịch sử đã mang lại những cái chết cho vô số những nạn nhân, nhưng tất cả những nạn nhân đều đã qua đi, không ai còn sống sót để kể lại những tàn bạo của con người đối với con người như LM Nguyễn Hữu Lễ. Vậy mà LM NHL cũng đã tha thứ, không còn hận thù tất cả những ai đã muốn tiêu diệt ngài, một đại diện của Đạo Chúa.
Tôi nghĩ rằng khi đọc bài của linh mục Trần Công Nghị trên Vietcatholic.net ngày 5/10/2005 về cuộc phỏng vấn ĐGH Gioan Phaolô II do một ký giả Ba Lan thực hiện năm 1988, chúng ta sẽ có một cái nhìn rõ hơn để rồi sẽ dễ dàng xóa bỏ hận thù hơn đối với ‘những đáng tiếc’ trong lịch sử VN kể từ ngày xuất hiện chủ nghĩa CS tại VN.
Tôi xin trích lại một vài đoạn phát biểu của ĐGH: “Một số người cho rằng cách chung thì Stalin có khả năng vĩ đại hơn Hitle. Trên quan điểm luân lý mà nói thì cả hai đều đáng trách. Nếu Stalin được phán đoán tốt hơn thì chỉ vì chủ thuyết Cộng sản có một kế hoạch hỗ trợ guồng máy sâu xa hơn nhiều so với chủ thuyết Xã hội quốc gia. Chủ nghĩa Xã Hội Quốc Gia (Đức) và chủ nghĩa Fat-xít (Ý) thực sự có liên hệ rất gần gũi, và là những chủ thuyết vô nhân bản, quá đơn thuần và còn phiến diện nữa. Chủ thuyết Cộng Sản đã và luôn luôn được nhận biết như một hệ thống muốn cổ võ công bình xã hội hơn”.
Cái tư tưởng ‘một xã hội công bằng hơn’ này đã hấp dẫn một số người VN khiến họ đã mang chủ thuyết Công sản vào Việt Nam với một ‘hoài bão’ mang tính chính đáng là sự công bình hơn cho xã hội VN. Và với chiêu bài ‘xã hội công bình’ này, người Cộng sản VN đã tập trung được giới bần cố nông, giai cấp bị bóc lột và chiếm đa số tại VN. Những người CSVN đã dễ dàng thành công trong việc tập trung sức người này với khẩu hiệu đầy thuyết phục “Được thì được cả giang sơn. Mất thì chỉ mất cái khố rách”.
Thế nhưng… Vâng, thế nhưng, theo sự phân tích thêm của ĐGH Gioan Phaolô II: “… Sau này người Cộng Sản giải thoát mình khỏi giới bần cố nông và cất đi quyền của giới vô sản, rồi họ lại vẽ ra hệ thống độc quyền đảng trị, tạo ra tầng lớp độc quyền dành cho các đảng viên, và hệ thống này còn tiếp tục cho đến ngày nay. Qua nhiều thập niên, lý thuyết này tạo nên một lớp người giai cấp mới, giai cấp trưởng giả mới”.
Thực tế đã xảy ra đúng như vậy và đó là lý do ĐGH Gioan Phaolô II ‘ghét cay ghét đắng’ chủ thuyết CS giả hình nhân đức này. Và đó cũng là lý do khiến ĐGH đã góp phần mình vào việc giải thể chủ thuyết CS mà thế giới tư bản đã tốn hao bao công sức mà không thực hiện được.
Buồn thay cho đất nước VN vì các nhà lãnh đạo Nhà Nước vẫn còn bám víu lấy chiêu bài ‘xã hội công bằng’ giả hình của chủ thuyết này khiến đại đa số nhân dân vẫn còn chưa được hưởng sự công bằng xã hội như họ được hứa hẹn khi họ đem sức mình đóng góp vào việc đem lại độc lập và thống nhất cho đất nước.
Nhưng may thay, ngoài một số còn quyền hành sinh sát và cố bám víu vào chủ thuyết này để tạo đặc quyền đặc lợi cho bản thân mình, cho gia đình mình, và cho phe phái mình, thì chúng ta đã thấy một khuynh hướng ‘trở về nguồn’ đáng trân trọng của giới trẻ trong nước. Với tinh thần Đại Việt, với tinh thần Thánh Gióng, chứ không với tinh thần nào khác, giới trẻ trong nước, không bao gồm những ‘con ông cháu cha’, đang phấn đấu vươn lên và đang thành công trong nhiều lãnh vực. Họ sẽ là những người mang lại sự phồn vinh thực sự cho đất nước. Họ sẽ là những người rửa cái nhục nghèo nàn lạc hậu cho đất nước.
Vậy thì với đời sống ‘Đức tin và Tình yêu’, với tinh thần ‘Kitô dấn thân’, với gương sáng của ĐGH Gioan Phaolô II, mọi giáo dân Việt ở bất cứ nơi đâu đều có bổn phận hỗ trợ đường đi đúng của GHCGVN trong việc đối thoại với Nhà Nước VN trong giai đoạn tế nhị hiện nay, hòng sớm mang lại cuộc sống thực sự hạnh phúc, ấm no cho đồng bào. Tôi ao ước và tôi cũng tin rằng mọi giáo dân Việt sẽ đồng hành với giới trẻ VN trong đường đi đúng của họ nhằm đưa đất nước đi lên vì đó cũng là đường đi đúng của chính mình, của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.