Phát Triển Toàn Diện

Vũ Mộng Lan, Ph. D.

LTS: Chúng tôi vừa nhận được bài viết của Chị Vũ Mộng Lan do một thân hữu gửi tới. Vũ Mộng Lan tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh Tế Học tại Université de Paris-I (Panthéon-Sorbonne), chuyên khoa "Phát Triển Kinh Tế". Tốt nghiệp tại Ecole Polytechnique Féminine, chuyên khoa "Điện Toán". Huấn nghiệp về phát triển quốc tế. Đã giảng dạy tại Université de Paris XII, từng là chuyên gia trong ngành Điện toán, thiết kế hệ thống nhu liệu cho các Ngân hàng. Làm việc tại Agence Française de Développement, cơ quan phát triển quốc tế của Pháp, trong lãnh vực Quản Trị Nhân Dụng, Kinh Tế Vĩ Mô và Hệ Thống Tin Học. Hiện là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị của Hội Chuyên Gia Việt Nam.

Bài sau đây trình bày quan niệm cá nhân về phát triển toàn diện. Tác giả xin chân thành cảm tạ tất cả những người bạn trong và ngoài Hội Chuyên Gia VN đã góp ý và giúp cho quan niệm này thành hình. Tác giả cũng mong mỏi rằng những điều sau đây phản ảnh những suy nghĩ của những người có lòng, có quan tâm đến hiện tình đất nước và ấp ủ hoài bão canh tân Việt Nam
.


Dẫn nhập : Phát triển là gì ?

Trong ngữ vựng phổ thông, từ "Tăng trưởng kinh tế" (Croissance économique, economic growth) thường hay được đồng nghĩa với "Phát triển Kinh tế" (développement économique, economic development).

Sự đồng nghĩa này có từ cái thời các kinh tế gia có khuynh hướng đo lường những tiến bộ trên mặt kinh tế qua những thống kê, đặc biệt qua sự gia tăng của Tổng Sản lượng quốc gia (PNB, GDP). Đối với những vị tiên phong này, gia tăng sản lượng công nghiệp chế biến là chỉ dấu của thịnh vượng và nói lên sự cải thiện của đời sống người dân trong nước. Cách suy xét này không khác chi nhìn một cái cồn cây từ xa, xanh um tươi tốt, nhưng thực tế tới gần là tình trạng cây dại mọc tốt xum xuê, cành trái còi cọc, dây gai chằng chịt và hoa cỏ bị sâu.

Bản tường trình của Liên Hiệp Quốc ra đời vào năm 1989 nói lên sự chênh lệch càng ngày càng rộng lớn trên thế giới và tỉ lệ người nghèo càng ngày càng đông đảo trong một kỷ nguyên được coi như phát triển vẻ vang. Bản tường trình này đã nhấn mạnh rằng phát triển phải đem lại đảm bảo cho những quyền căn bản chứ không phải là một tiến trình tăng trưởng thuần vật chất. Nghèo đói gắn liền với sự bất bình đẳng trong các khả năng căn bản, với sự thiếu vắng các quyền sơ đẳng. Từ đó, quan niệm Phát Triển Nhân Bản chào đời với các mức chuẩn đánh dấu tiến bộ xã hội qua sự thịnh vượng cá nhân, qua hy vọng sẽ sống được bao nhiêu năm và qua trình độ giáo dục của người dân. Sau đó, một số khía cạnh khác được đưa vào phát triển như tình trạng nghèo đói của quốc gia, mức độ bình đẳng phái tính...

(Tôi quan niệm phát triển như 1 tiến trình gia tăng các tự do đích thực mà con người có thể được hưởng. Qua tự do đích thực, tôi muốn nói tất cả những khả năng tối thiểu, như khả năng tránh đói khát, tránh thiếu dinh dưỡng, tránh chết yểu, tránh những bệnh nan-y, cũng như tất cả những tự do mà giáo dục, sự tham gia vào đời sống chính trị, tự do ngôn luận đem tới...( (A. Sen).

Đồng thời, tình trạng ô nhiễm không khí, vấn đề các chất phế thải, khuynh hướng tăng nhiệt của quả địa cầu đã đưa đến mối quan tâm về triển vọng tồn tại của tiến trình phát triển, sự bảo tồn môi sinh.

Năm 1987, "Uỷ Ban Thế Giới về Môi sinh và Phát triển" có phổ biến bản tường trình đòi hỏi rằng phát triển phải có tính cách bền vững (sustainable development, développement durable) thoả mãn nhu cầu của hiện tại nhưng đồng thời, không được phương hại tới các thế hệ sau.

Ngày hôm nay chúng ta thừa hưởng tất cả những khám phá vừa nêu, khiến chúng ta chờ đợi rằng phát triển kinh tế phải là tiến trình đa dạng nhằm đem lại cho con người không những sự thoải mái kinh tế, sự xung mãn tâm linh mà còn phải cải thiện cuộc sống qua việc nâng cao lợi tức, tình trạng sức khoẻ, trình độ giáo dục, văn hoá, tôn trọng môi sinh và bảo đảm quyền lợi của các thế hệ sau, và giúp con người hội nhập tốt đẹp vào xã hội.Trên lý thuyết là thế.

Thế nhưng, tại sao đường vào phát triển lại lắm chông gai ?

Chủ đề của Đại Hội Âu Châu năm nay đã nhấn mạnh trên những nguy cơ trên các mặt tâm linh, kinh tế, môi trường, y tế...khiến phát triển kinh tế mất tính cách toàn diện và bền vững. Bên cạnh những nguy cơ đã được những diễn giả có thẩm quyền trình bày qua những khoá hội thảo của Đại Hội, bài viết này xin nêu ra hai điều kiện để đạt được phát triển toàn diện :

Thứ nhất, phát triển phải đi đôi với sự bảo toàn chủ quyền quốc gia

Thứ nhì, phát triển kinh tế phải phù hợp với văn hoá và hoàn cảnh của dân tộc.

Trong phần thứ ba, bài viết sẽ phác hoạ vài phương hướng để phát triển quốc gia đáp ứng được với hai điều kiện này.

I - Phát triển đi đôi với sự bảo toàn của chủ quyền quốc gia

I.1 - Viện trợ quốc tế và các chính sách điều hành vĩ mô

Trong các thập niên 50-60 hai chữ phát triển thường được áp dụng cho các quốc gia lạc hậu, các định chế chuyên về phát triển kinh tế liên quan tới các quốc gia chậm tiến chào đời như Ngân Hàng Thế Giới, Chương Trình của Liên Hiệp Quốc cho Phát Triển (PNUD,hay UNDP)...

Đến khi phát triển kinh tế bắt đầu được hiểu như tiến trình phức tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, phẩm cũng như lượng, thì người ta lại khám phá rằng không những rất nhiều quốc gia trên thế giới không biết phát triển là gì, mà ngay tại các quốc gia gọi là tiên tiến, phát triển cũng không có tính cách hoàn hảo, và mẫu đồ phát triển dựa trên công nghiệp bị chỉ trích nặng nề : có nhiều diễn đàn chính thức như Câu Lac Bộ Rome từng nêu thẳng vấn đề "Có nên từ bỏ tăng trưởng hay không "? vào đầu thập niên 70.

Nhìn lại quá khứ, thì chúng ta sẽ thấy rằng Kinh tế Phát Triển là một ngành tương đối mới của Kinh Tế Học, và các định chế quốc tế chuyên về phát triển, đã tỏ ra mềm dẻo, sẵn sàng thay đổi tư duy về phát triển, mỗi khi gặp phải thất bại.

Trong thời kỳ phôi thai của Kinh tế Phát Triển, quan niệm thường được chấp nhận rộng rãi tại các định chế quốc tế mang sứ mệnh giúp đỡ cho các quốc gia Đệ Tam Thế Giới phát triển, là :

phát triển đòi hỏi nhiều vốn ngoại quốc và chuyển nhượng kỹ năng,

song song với sự bảo vệ một số kỹ nghệ nội địa qua hàng rào quan thuế.

Và ai ai cũng tin tưởng rằng chỉ việc áp dụng công thức này thì tự nhiên trong vòng hai thế hệ, các quốc gia đang mở mang sẽ bắt kịp các quốc gia đã kỹ nghệ hoá. Thế nhưng, các cuộc khủng hoảng trên thế giới đã soi mòn niềm tin này. Từ đó các định chế quốc tế mới nhận thức thêm rằng cần phải có những căn bản vĩ mô lành mạnh như ngân quỹ cân bằng, kiềm chế lạm phát, chính sách tiền tệ thận trọng. Kèm theo các chính sách điều hành cơ cấu này (structural adjustment policy, politique d’ajustement structurel), là việc tư hữu hoá các xí nghiệp quốc doanh, và chấp nhận các qui luật của cạnh tranh tự do, tức là mở rộng thị trường cho hàng hoá nước ngoài.

Những khuyến cáo của Ngân Hàng Thế Giới hay Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dành cho các quốc gia mở mang dựa trên những tiền đề này. Kể ra thì khi áp dụng tại các quốc gia kia, chính sách điều hành cơ cấu cũng đưa dến một số kết quả khả quan nếu xét trên phương diện thuần tuý kinh tế (nghĩa là qua sự gia tăng của tổng sản lượng). Cái kẹt, là những chính sách tài chánh tốt này lại mang lại nhiều hậu quả xấu cho xã hội, khiến những sự chênh lệch trong xã hội thêm sâu rộng. Bãi bỏ trợ cấp cho nông nghiệp trong nước khiến ngân quỹ quốc gia có nhẹ gánh thật, luật thị trường có tung hoành tự do thật, nhưng giới nông dân của một số quốc gia đang phát triển không cạnh tranh nổi với hàng nhập cảng, bị phá sản, mất ruộng và phải đổ về thành thị để kiếm ăn, gây ra vấn đề xã hội nhức óc. Thêm vào đó, sự giảm thiểu chi phí điều hành quốc gia (bỏ bớt công chức, nhân viên công lực, chi phí quốc phòng...) đã là một trong những lý do khiến các chính quyền mất chủ quyền, các sức mạnh ly tâm tha hồ níu đẩy [1].

Nói khác đi là tăng trưởng kinh tế theo các công thức tiền định, đã không nhất thiết dẫn tới phát triển, mà trong trường hợp của một số quốc gia, đã cộng hưởng vào các yếu tố hiện hữu đưa đến sự mất mát chủ quyền..

Để tài trợ cho phát triển trong một bối cảnh thiếu hụt vốn nội địa, một quốc gia đang phát triển trông đợi vào viện trợ, đầu tư quốc tế hay những nguồn tiền do kiều bào đang sống tại hải ngoại gửi về.

Muốn nhận viện trợ từ những định chế quốc tế, phải tuân theo một số điều kiện do họ áp đặt, như mở thị trường cho hàng hoá và đầu tư ngoại quốc. Trên lý thuyết, chấp nhận sự cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu là nhằm mục đích nâng cao hiệu năng của kỹ nghệ bản xứ. Cũng như theo lý thuyết, đầu tư ngoại quốc sẽ gia tăng công ăn việc làm.

Bên cạnh những ưu thế kinh tế này, nguy cơ mất chủ quyền chính trị đã được kinh tế gia Bùi Đông Triều phân tích rất rõ ràng [2] trong hai trường hợp, Madagascar và Phi Luật tân. Sau đây là một đoạn liên quan tới Mã Đảo (Madagascar) trích dẫn từ cuốn này :

"...Lần chót tôi trở lại Mã Đảo là năm 1989. Xã Hội Chủ Nghĩa đang biến thể. Dành chỗ cho các cơ cấu thị trường. Nhưng tương lai, tưởng đầy hứa hẹn, vẫn mù mịt.

Các công-ty quốc doanh được bán lại cho tư nhân. Dân bản xứ ít vốn, thành thử chỉ có ngoại kiều mới đủ tư cách mua lại quốc doanh. Một vài Pháp Kiều đã trở về đảo, để thành chủ nhân ông !

Quốc doanh nào không bán được, lại thua lỗ, đều bị đóng cửa. Công nhân, công chức mất việc hàng loạt. Theo đúng lý thuyết, số người bị sa thải đáng lý được thu nhập bởi thành phần kinh tế tư nhân mới lập. Tuy nhiên, trên thực tế, ngành công thương của tư nhân chưa phát triển đúng mức, nên không thu dụng được hết những người bị đào thải : nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng. Ra đường, đầy rẫy người ăn xin...

...NHTG và QTTQT đã khuyên Mã Đảo đổi hối suất để đẩy mạnh những ngành xuất khẩu. Tuy nhiên, sản phẩm xuất khẩu của Mã Đảo như cà-phê, tiêu, vanille không được giá trên thị trường quốc tế : có đổi hối xuất, tổng số ngoại tệ thu nhập cũng không tăng gia như ý muốn ! Mặt khác, khi nhận viện trợ, Mã Đảo đã chấp nhận sự cạnh tranh thương mãi, nên phải mở rộng thị trường quốc nội, cho tự do nhập khẩu các hàng hoá ngoại quốc. Hàng nhập khẩu, những máy móc sản xuất từ Âu Mỹ thì giá càng ngày càng cao, nhất là sau khi đổi hối suất.Mã Đảo lúng túng vì thu ít nhưng lại chi ra nhiều. ! Lại cầu khẩn xin thêm viện trợ !...

...Có rõ dã tâm của ngoại nhân, song ngửa tay viện trợ chưa chắc đã là điều quấy, nếu biết dùng vốn viện trợ cho đúng cách. Nghĩ cho cùng, điều quan trọng là nên thực tế ! "

"...Song chính sách viện trợ - dù song phương hay đa phương- luôn luôn có những điều kiện đính kèm [3]. Chẳng hạn như phải mua thiết bị, dụng cụ của nước viện trợ sản xuất.. hoặc phải thuê chuyên viên do cơ quan viện trợ chỉ định. Trừ qua trừ lại số tiền viện trợ thật sự tới tay người nhận cũng bị thuyên giảm rất nhiều...Chính sách viện trợ song phương của nước tiên tiến cũng nhắm củng cố quyền lợi của chính mình trước đã..."

Bùi Đông Triều cho biết rằng từ 1885 tới 1992, tổng số viện trợ thuần (sau khi trừ hết tiền lãi và tiền vốn phải hoàn) châu Phi nhận từ NHTG và Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã ước lượng gần 50 tỷ MK âm, tức là châu Phi đã viện trợ cho hai định chế quốc tế này chứ không phải là ngược lại.

Vào năm 1913, Rosa Luxembourg đã đưa ra thuyết tích luỹ tư bản, biện chứng rằng tư bản để tồn tại cần khai thác các xã hội không tư bản.

Trong thập niên 60, quan điểm này đã được những tác giả Âu Mỹ lấy lại, trong đó có Samir Amin và Arghiri Emmanuel [4] qua chủ đề những trao đổi bất bình đẳng.

P. Jolée [5] nhấn mạnh trên sự việc các trao đổi Bắc - Nam càng ngày càng tệ hại cho Đệ Tam Thế Giới trong hai thập niên 50 và 60. Tính cách bất tương xứng của quan hệ Bắc - Nam đã mang lại sự trù phú cho Bắc bán cầu tư bản qua sự lạc hậu ngày càng gia tăng của Nam bán cầu [6].

Trong tác phẩm "Công-ty đa quốc và hệ thống viễn thông" [7], A. Mattelard cho rằng các công-ty đa quốc, dưới sự kiểm soát của Hoa Kỳ, là cột trụ của sự khai thác tư bản trên thế giới. Sự thống trị văn hoá thể hiện qua những đầu tư khổng lồ trong lãnh vực truyền thông, và các sinh hoạt văn hoá đã giúp cho sự phổ biến rộng rãi những mô hình tiêu thụ tư bản.

Ngày hôm nay, hậu bối của những tác giả vừa nêu, là những phong trào chống toàn cầu hoá (như ATTAC [8]...) với những yêu sách rời rạc và những cơ sở lý luận đi từ việc đòi bãi bỏ viện trợ có tính cách chính trị cho châu Phi, bãi bỏ các chính sách điều hành cơ cấu, xoá nợ quốc tế cho các quốc gia đang mở mang, tới việc nông nghiệp hoá châu Phi.

I.2 - Ngân Hàng Phát Triển Á Châu ADB phục vụ ai ?

Các tổ chức phi chính quyền tụ tập tại Chiang Mai năm 2000 đã phê bình rằng những dự án của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) "thiếu chuẩn bị, quản lý dở, và không thực tế".

ADB thường bị coi như đất dụng võ của Nhật Bản, và nhất là của các đại công-ty Nhật. Thậm chí có quan sát viên còn tuyên bố rằng : "Thật ra chẳng ai có quyền chất vấn ADB, từ những người cung cấp tiền cho ADB hoạt động, tức người dân đóng thuế tại các quốc gia như Nhật và Úc, cho tới những người được hưởng các dự án tức là người dân địa phương, và các quốc gia được tài trợ ".

Để trả lời câu hỏi "ADB phục vụ ai ?", chúng ta thử xem các dự án đập thuỷ điện dọc sông Cửu Long. ADB coi thủy điện như thượng sách để mở mang kinh tế tại các quốc gia nằm ở khu vực dưới của sông Cửu Long hoặc các nhánh của Cửu Long, và đã liệt kê ra 50 đập có thể xây cất.

Thật ra thì bên cạnh nguồn năng lượng và lợi nhuận khá mà các đập mang lại, phải kể những hậu quả tai hại trên môi sinh. Thí dụ của dòng Snowy tại Úc cho thấy rằng đập thủy điện có tác dụng làm khối lượng nước giảm đáng kể ở cuối nguồn (chỉ còn lại 1% của lượng nước trước kia), nhiều nơi nước tù hãm và rong rêu nổi lềnh bềnh, lượng muối gia tăng và số cá ít hẳn đi. Khi biết rằng có khoảng 65 triệu người Á Châu sống trong khu vực dưới của sông Cửu Long, họ sống nhờ chài lưới, họ lấy nước uống từ sông, và di chuyển nhờ con sông, chúng ta không khỏi giật mình. Việc xây cất những đập thuỷ điện sẽ làm xáo trộn môi trường sinh sống của họ, mà chưa chắc rằng họ có thể thoả mãn với những cuộc di dân, bắt họ rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn, làng, rừng, sông thân thuộc.

Dĩ nhiên ADB đã không hỏi ý kiến của họ khi đưa ra các dự án thuỷ điện kia. Phó chủ tịch ADB là ông Myoung-Ho Shin đã công nhận với 1 số tổ chức phi chính quyền rằng có một số dự án của ADB không làm ai hài lòng cả. Theo các tổ chức này, nhiều dự án xây cất đập tại Thái Lan và VN của ADB đã là "những tai hoạ cho người dân (địa phương)". Còn những thành phần được lợi trong dự án này là dân thành phố lớn có thể bỏ tiền mắc điện, các công-ty ngoại quốc được thầu và các giới hữu trách tại các quốc gia nhận tín dụng/viện trợ nhờ hối lộ.

Chúng ta hãy thử xem xét thí dụ thứ nhì, là dự án Đại Học Quốc Tế tại Tân Phong (thành phố HCM) được ADB chấp nhận ngày 26 tháng 4, 2001. Số tiền ADB sẽ cho mượn là 7,5 Triệu MK. Đại Học này được Royal Melbourne Institute of Technology (RMIT) nhận đảm bảo về mặt phẩm chất, và sẽ đào tạo kỹ sư bách khoa, sẽ dạy về kỹ thuật tin học và quản trị xí nghiệp. Đại học này sẽ có khả năng thu nhận 4000 sinh viên. Một cư xá với tất cả những tiện nghi cần thiết dành cho sinh viên và giáo sư sẽ được xây cất, tổng cộng tất cả là 65 Triệu MK. Ngoài ADB, sẽ có thêm sự đóng góp của IFC (thuộc Ngân Hàng Thế Giới) và RMIT.

Dường như học phí sẽ khoảng 3600-4800 MK mỗi năm. Khi biết rằng lợi tức bình quân đầu người của VN khoảng 400 MK [9] mỗi năm và 80% dân số sống tại các nông thôn, khi nghĩ rằng chỉ có khoảng 4 người trên 10 bước vào trung học thì sẽ hiểu ngay ai là đối tượng của dự án này. Tại một nước chỉ có 0,34 bác sĩ cho 1000 người, cho mỗi 1000 trẻ sơ sinh sống sót thì có 42 bị chết, trên 10 trẻ em dưới 5 tuổi thì có gần 4 em thiếu dinh dưỡng, hẳn là không thiếu gì dự án khác có tác dụng nâng cao mức sống của đa số người dân ! Cho dù trong năm 2000, ADB cũng đã tài trợ cho một số dự án, liên quan tới y tế nông thôn, tín dụng nông thôn, đa dạng hoá nông nghiệp, lọc nước... có tính cách xã hội và tác dụng trên công cuộc chống đói giảm nghèo.

Nói chung là các định chế quốc tế đến giờ này mới nhận thức rằng từ xưa tới nay, họ tự cho mình sứ mệnh phác họa sách lược phát triển, mà quên bẵng rằng tác nhân chính là quốc gia nhận viện trợ cần đóng vai trò chủ động, và nhất là người dân trong quốc gia này, qua các đại diện tiêu biểu (xí nghiệp, dân biểu, tổ chức nghề nghiệp, nghiệp đoàn, tổ chức phi chính quyền, đại diện tôn giáo...), tức "xã hội dân sự " phải được tham khảo ý kiến và trực tiếp tham gia vào việc bàn thảo chính sách phát triển quốc gia.

Hãy nghe một giải Nobel Kinh Tế phát biểu về Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế :

"...Tâm thức thực dân - tức là sự tin tưởng rằng mình biết rõ hơn các nước đang mở mang điều gì tốt nhất cho họ - vẫn tồn tại....

... Sự thay đổi trong nhiệm vụ được giao phó và mục tiêu, mặc dù có diễn tiến kín đáo, nhưng không được khéo léo : Chuyển từ việc phục vụ quyền lợi kinh tế chung sang việc phục vu quyền lợi của tài phiệt quốc tế... ". (J. Stiglitz) [10]

I.3 - Đầu tư ngoại quốc và các công - ty đa quốc

Là công cụ toàn cầu hoá hữu hiệu, các công ty đa quốc bành trướng mạnh trên mặt nhân sự cũng như trên mặt phạm vi hoạt động (địa dư, khu vực kinh tế).

"...Trên 100 thực thể kinh tế trên thế giới, non phân nửa là những quốc gia. Phần còn lại là những công ty đa-quốc. Nhờ những đầu tư quốc tế và quyền lực tài chánh phi thường, họ áp chế các quốc gia thuộc Nam bán cầu, ảnh hưởng trên các quyết định của các định chế quốc tế, và ảnh hưởng vào vận mệnh kinh tế và xã hội của các quốc gia qua các chính sách tái phối trí của họ..." [11]

Họ đã và đang tiếp tục kiểm soát trọn vẹn nhiều khu vực cổ truyền (hoá học chuyên về nông nghiệp, dược phẩm, gỗ, lọc và cung cấp nước...) cũng như tân kỳ (tin học, viễn thông...) của kinh tế thế giới. Những công ty đa quốc ảnh hưởng trên phương hướng của các công cuộc nghiên cứu khoa học, chi phối các chính sách nội địa cũng như luật lệ tại các quốc gia. Những hội nhập công ty đã xảy ra do nhu cầu thực hiện những đơn vị sản xuất với kích thước càng ngày càng vĩ đại, nhằm gia tăng sản xuất hàng loạt. Cuộc chạy đua theo lợi nhuận, mà mức độ được ấn định bởi một cổ đông, đưa tới sự trải rộng và phân phối các thao tác trong tiến trình sản xuất hàng hoá trên nhiều quốc gia. Sách lược bành trướng của các công ty đa quốc được ban quản đốc nằm dưới sự kiểm soát của cổ đông, ấn định trong khuôn khổ của kinh tế thế giới. Do đó, và do sự việc quyền lực tối cao nằm trong tay những người nắm cổ phiếu, các công - ty đa quốc có thể có những quyết định đầu tư hoặc giải tư không trực tiếp liên quan tới tình hình kinh tế tại một địa phương. Để đảm bảo sản xuất, đương nhiên họ cần kiểm soát các nguồn cung cấp nguyên liệu, tức các quốc gia nhược tiểu sản xuất, qua nhiều phương cách, có thể đi từ áp lực, lũng đoạn tới hối lộ.

Trong đoạn này, chúng ta vừa thấy rằng đầu tư và viện trợ quốc tế, là những phương tiện tối cần thiết để giúp một quốc gia đang mở mang cất cánh, thực chất là con dao hai lưỡi, cần được sử dụng một cách tinh tế và khôn khéo.

"...Con đường Cái Quan của Đệ Tam Thế Giới đã trở thành con đường mòn khúc khuỷu của thế thăng bằng bấp bênh giữa sự thịnh vượng trong vòng lệ thuộc, và nền độc lập trong cảnh túng quẩn..." (B. Đ. Triều)

Xin xem tiếp kỳ tới:

II - Phát triển phù hợp với văn hoá dân tộc

Liên hệ giữa văn hoá và phát triển kinh tế

"Những giá trị Á đông" hư thực ra sao ?

III - Vài đề nghị

Kết luận