Brendan Hodge, trong bản tin ngày 12 tháng 9, 2026 của tạp chí The Pillar, đặt vấn đề: Trong một xã hội mà các biện pháp tránh thai nhân tạo được phổ biến và chấp nhận rộng rãi, việc có một gia đình đông con ngày càng được xem là lựa chọn chủ yếu của những người nằm ngoài xu hướng chính, thường là vì lý do tôn giáo.
Nhưng liệu thực tế có phải như vậy?
Nhà xã hội học Ryan Burge gần đây đã xem xét vấn đề này trên trang web của mình, *Graphs About Religion* (Biểu đồ về Tôn giáo), và đi đến kết luận: "Có thể nói rằng các gia đình đông con có xu hướng đi lễ nhà thờ nhiều hơn, nhưng mức chênh lệch không quá lớn."
Ông nhận thấy rằng 33% các gia đình có từ bốn con trở lên đi lễ ít nhất mỗi tuần một lần, trong khi tỷ lệ này ở các gia đình nói chung (bất kể số lượng con) là 29%.
Vậy, liệu mối liên hệ giữa gia đình đông con và lòng sùng đạo có phải chỉ là một quan niệm sai lầm? Còn hình ảnh quen thuộc về chiếc xe van cỡ lớn chở cả một "đội quân" trẻ nhỏ đến dự Thánh lễ thì sao?
*The Pillar* sẽ cùng xem xét các số liệu này.

Burge lấy dữ liệu từ *Cooperative Election Survey* (Khảo sát Bầu cử Hợp tác - CES) năm 2024; đây là một cuộc khảo sát quy mô lớn, chủ yếu phục vụ phân tích chính trị nhưng cũng thu thập thông tin về nhân khẩu học và tôn giáo.
Cuộc khảo sát này có quy mô rất lớn, phỏng vấn khoảng 60,000 người mỗi hai năm một lần. Điều này rất hữu ích, vì việc phân tích các nhóm dân số nhỏ đòi hỏi cỡ mẫu càng lớn càng tốt.
Để đạt được độ tin cậy và sức mạnh thống kê tối đa trong phân tích, chúng tôi đã sử dụng dữ liệu từ ba đợt khảo sát CES gần nhất – năm 2024, 2022 và 2020 – và gộp chúng lại thành một bộ dữ liệu duy nhất.
Mục tiêu của chúng tôi trong phân tích này là xem xét các đặc điểm của những gia đình đông con. Để phân biệt giữa gia đình đông con và gia đình ít con, chúng tôi cần xác định độ tuổi mà ở đó mọi người thường không còn sinh thêm con nữa. Tuy nhiên, chúng tôi cũng muốn so sánh những người thuộc cùng một thế hệ. Nếu trộn lẫn những người sinh năm 1980 với những người sinh năm 1940, kết quả sẽ bị sai lệch do sự kiện các gia đình đông con phổ biến hơn vào 40 năm trước, đồng thời thế hệ sinh thập niên 1940 nhìn chung cũng sùng đạo hơn thế hệ sinh thập niên 1980. Điều này có thể vô tình khiến các gia đình đông con trông có vẻ sùng đạo hơn, trong khi thực tế là các gia đình đã lập gia đình từ lâu thường vừa đông con hơn vừa sùng đạo hơn.
Vì vậy, để xác định một nhóm đối tượng nhất quán cho việc phân tích dữ liệu khảo sát CES, chúng tôi tập trung vào những người ở độ tuổi 40–55 tại thời điểm khảo sát. Đây là nhóm người có khả năng đã hoàn tất việc sinh con nhưng vẫn chưa quá xa thời kỳ sinh nở. Do các cuộc khảo sát được thực hiện từ năm 2020 đến 2024, nhóm này bao gồm những người sinh trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến 1984.
Trong ba năm khảo sát đó, có tổng cộng 38,300 người ở độ tuổi 40–55 đã cung cấp thông tin về số lượng con cái của họ; số liệu chi tiết về số lượng con cái của nhóm này như sau:
Số con nơi những người 40-45 tuổi
| 0: 35% |
| 1: 18% |
| 2: 24% |
| 3: 13% |
| 4: 6% |
| 5: 2% |
| 6: 1% |
| 7+: 1% |
(Chart: PillarCatholic.comSource: Cooperative Election Survey 2020, 2022, 2024Created with Datawrapper)
Một yếu tố quan trọng trong quá trình phân tích này là việc xem xét tình trạng hôn nhân. Khi hình dung về một "gia đình đông con và sùng đạo", người ta thường nghĩ đến một cặp vợ chồng có nhiều con chung. Tuy nhiên, có những trường hợp khác dẫn đến quy mô gia đình lớn: chẳng hạn như hai người có con riêng từ các mối quan hệ trước đó, hoặc một người độc thân có nhiều con với những người khác nhau.
Khảo sát CES không đặt câu hỏi phân biệt giữa con chung với người phối ngẫu hiện tại và con riêng từ các mối quan hệ khác, nhưng lại có câu hỏi về tình trạng hôn nhân; do đó, chúng ta có thể phân tích số lượng con cái dựa trên tình trạng mối quan hệ hiện tại của họ.
Không có gì ngạc nhiên khi những người hiện không kết hôn (bao gồm người chưa từng kết hôn, người sống chung không kết hôn, người đã ly hôn hoặc ly thân) có tỷ lệ không có con cao hơn so với các cặp vợ chồng. Trong số các cặp vợ chồng, phổ biến nhất là gia đình có hai con. Xét về các gia đình đông con, 5.1% các cặp vợ chồng có từ năm con trở lên, trong khi tỷ lệ này ở nhóm người không kết hôn là 2.9%.
Số con của những người 40-55 tuổi
Theo bậc hôn nhân
| Kết hôn/Góa % Không kết hôn% |
| 0: 20.3% 51.6% |
| 1: 18.8% 16.7% |
| 2: 31.9% 15.5% |
| 3: 16.7% 8.9% |
| 4: 7.3% 4.4% |
| 5: 2.7% 1.6% |
| 6: 1.2% 0.7% |
| 7+: 1.2% 0.6% |
Trong số 1,476 người tham gia khảo sát có từ năm con trở lên, 65% đã kết hôn hoặc góa bụa, còn 35% hiện không kết hôn.
Khi xem xét nhóm người thường xuyên tham dự các nghi lễ tôn giáo, ta thấy có sự khác biệt rõ rệt về xu hướng giữa người đã kết hôn và người chưa kết hôn. Trong nhóm người đã kết hôn ở độ tuổi 40-55 không có con, 17% tham gia các buổi lễ tôn giáo ít nhất một lần mỗi tuần; tỷ lệ này gần như tương đương với nhóm người chưa kết hôn không có con (16%).
Tuy nhiên, theo dữ liệu CES, đối với những người đã kết hôn, tần suất tham gia các buổi lễ tôn giáo (ít nhất một lần mỗi tuần) có xu hướng tăng theo số lượng con cái. Nhóm có từ năm con trở lên có tỷ lệ tham gia cao nhất, với 44% đi lễ ít nhất một lần mỗi tuần.
Ngược lại, đối với những người chưa kết hôn, tỷ lệ tham gia các hoạt động tôn giáo không tăng theo số lượng con cái. Trong số những người có từ năm con trở lên, 16% tham gia lễ tôn giáo ít nhất một lần mỗi tuần – ngang bằng với tỷ lệ ở nhóm người chưa kết hôn không có con.
Điều này cho thấy việc thường xuyên đi lễ phổ biến hơn ở những người đã kết hôn có đông con. Tuy nhiên, xét về tổng thể, số lượng các gia đình đông con vẫn còn ít. Liệu có đúng là người ta có thể chờ mong để thấy nhiều đáng kể hơn các gia đình đông con tại nhà thờ so với môi trường thế tục hay không?
Câu trả lời không hoàn toàn nghiêng về một phía. Trong số những người đã kết hôn ở độ tuổi 40-55 thường xuyên tham gia các nghi thức tôn giáo (ít nhất mỗi tuần một lần), các bậc cha mẹ có từ năm con trở lên chỉ chiếm 8% tổng số. Tuy nhiên, tỷ lệ này cao gấp đôi so với nhóm người cùng độ tuổi và tình trạng hôn nhân nhưng hiếm khi hoặc không bao giờ tham gia các nghi thức tôn giáo; ở nhóm này, tỷ lệ cha mẹ có từ năm con trở lên chỉ ở mức dưới 4%.
Điều tương tự cũng đúng với những người có ba hoặc bốn con. Nếu xét đến nhóm có từ ba con trở lên, họ chiếm 39% số người đã kết hôn (độ tuổi 40-55) tham gia nghi thức tôn giáo ít nhất một lần mỗi tuần, nhưng chỉ chiếm 23% trong số những người hiếm khi hoặc không bao giờ tham gia.
Còn sự khác biệt giữa những người theo các truyền thống tôn giáo khác nhau thì sao?
Nhóm thường được gọi là "nhóm không theo tôn giáo nào" (bao gồm người vô thần, người theo thuyết bất khả tri và những người tự nhận là "không theo tôn giáo cụ thể nào") là nhóm lớn nhất trong mẫu phân tích của chúng tôi. Khoảng một phần ba – tức 32% – số người đã kết hôn trong độ tuổi 40-55 thuộc mẫu này là người vô thần, người theo thuyết bất khả tri hoặc tự nhận là "không theo tôn giáo cụ thể nào".
Tuy nhiên, mặc dù những người thuộc nhóm "không theo tôn giáo nào" này có điểm chung là hầu như không bao giờ tham gia các nghi thức tôn giáo, họ lại khác nhau về số lượng con cái.
Người vô thần là nhóm có khả năng không có con cao nhất trong mẫu phân tích của chúng tôi, với 35% người vô thần đã kết hôn (độ tuổi 40-55) không có con. Họ cũng là nhóm ít có khả năng sinh từ năm con trở lên nhất, chỉ ở mức 0,86%.
Những người theo thuyết bất khả tri có tỷ lệ không có con thấp hơn một chút – 30% – và tỷ lệ có từ năm con trở lên cao hơn một chút – 2% – nhưng nhìn chung vẫn có ít con hơn đáng kể so với mức trung bình.
Những người tự nhận là "không theo tôn giáo cụ thể nào" có đặc điểm khá tương đồng với dân số chung: khoảng 5% có từ năm con trở lên, 22% không có con và số lượng con phổ biến nhất là hai. Khi phân tích dữ liệu về người Công Giáo, chúng tôi nhận thấy những khác biệt đáng kể dựa trên tần suất tham dự Thánh lễ mà họ báo cáo.
Những người Công Giáo đi lễ ít nhất một lần mỗi tuần có xu hướng có gia đình đông con hơn so với các nhóm khác; cụ thể, 8% trong số họ có từ năm con trở lên. Tương tự, nhóm người Công Giáo đi lễ ít nhất một lần mỗi tuần cũng là nhóm có tỷ lệ không có con thấp nhất trong số tất cả các nhóm mà chúng tôi khảo sát.
Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý là nhóm người Công Giáo hiếm khi hoặc không bao giờ đi lễ lại là nhóm tiếp theo có xu hướng sở hữu gia đình đông con, với 5% có từ năm con trở lên. Dù vậy, tỷ lệ không có con ở nhóm này lại cao hơn gấp đôi so với các nhóm khác. Những người Công Giáo đi lễ theo tháng hoặc theo năm có tỷ lệ sinh từ năm con trở lên thấp hơn một chút so với mức trung bình của toàn bộ nhóm đối tượng được phân tích.
Sự phân hóa này—với các gia đình đông con xuất hiện ở cả nhóm đi lễ thường xuyên nhất lẫn nhóm ít đi lễ nhất—cho thấy có thể tồn tại nhiều con đường dẫn đến việc có gia đình đông con: một kiểu thể hiện qua các gia đình đông con của những người ít đi lễ, và một kiểu khác—có lẽ rất khác biệt—xuất hiện ở những người đi lễ thường xuyên nhất. Ở nhóm giữa, chúng ta thường thấy các gia đình ít con hơn và thói quen đi lễ chỉ khi nào thuận tiện.
Kết quả đối với nhóm Thệ phản hệ phái Phúc âm (Evangelical Protestants) rất giống với nhóm Công Giáo: những người đi lễ thường xuyên nhất có cái nhiên ít nhất không có con và có cái nhiên cao nhất có từ năm con trở lên. Trong nhóm Phúc âm, con số những người đi lễ hàng tháng gần như tương đương với nhóm đi lễ hàng tuần hoặc thường xuyên hơn, trong khi những người báo cáo đi lễ ít hơn một lần mỗi tháng có ít con hơn.
Nhóm Thệ phản chính dòng (Mainline Protestants) lại có mô hình khác biệt: không có mối liên hệ nào giữa tần suất đi lễ và tỷ lệ gia đình có từ năm con trở lên.
Mô hình khác biệt rõ rệt ở nhóm Thệ Phản dòng chính này cho thấy rằng, bất cứ mối liên hệ nào giữa việc thực hành đức tin tích cực (ở Công Giáo hoặc Thệ Phản Phúc âm) và việc có gia đình đông con đều không tồn tại trong các hệ phái Thệ Phản chính dòng.
Hai nhóm cuối cùng chiếm tỷ lệ khá nhỏ trong dân số Hoa Kỳ nên kết quả có phần thiếu chắc chắn, nhưng chúng vẫn rất đáng chú ý vì là những trường hợp cá biệt (ngoại lệ).
Trong số các tín đồ Mặc-môn (Mormons) tham dự các buổi lễ tôn giáo ít nhất một lần mỗi tuần, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ cao nhất về số người có từ năm con trở lên (và tỷ lệ thấp nhất về số người không có con) so với tất cả các nhóm khác trong nghiên cứu này. Hai mươi bảy phần trăm những người đã kết hôn trong độ tuổi 40-55 có từ năm con trở lên, trong khi chỉ có 2.8% là không có con. Trong số các tín đồ Mormon cho biết họ hiếm khi hoặc không bao giờ tham dự các buổi lễ tôn giáo, tỷ lệ người có từ năm con trở lên thấp hơn mức trung bình chung—chỉ ở mức 1.3%—mặc dù nhóm này lại có tỷ lệ người sinh bốn con cao bất thường.
Một kết quả đáng lưu ý khác được ghi nhận ở cộng đồng người Do Thái. Bốn mươi lăm phần trăm người Do Thái tham gia khảo sát cho biết họ hiếm khi hoặc không bao giờ tham dự các buổi lễ tôn giáo; ở nhóm này, tỷ lệ sinh con tương đương với nhóm người vô thần: chỉ 0.7% những người đã kết hôn trong độ tuổi 40-55 có từ năm con trở lên, và 31% không có đứa con nào.
Tuy nhiên, trong số những người Do Thái tham dự các nghi thức tôn giáo hàng tuần hoặc thường xuyên hơn, có 16% sinh từ năm con trở lên; tỷ lệ này cao gấp đôi so với người Công Giáo có tần suất tham dự nghi thức tôn giáo tương đương.
Dữ liệu khảo sát của chúng tôi không có đủ số lượng người theo đạo Hồi, đạo Hindu hoặc Chính thống giáo để đưa ra kết quả phân tích cho các nhóm này.
Một trong những câu hỏi khó giải đáp nhất từ dữ liệu khảo sát là đặc điểm thực hành đức tin của những người tham gia nghiên cứu. Chúng tôi có thông tin về những người Công Giáo cho biết họ đi lễ ít nhất một lần mỗi tuần, nhưng ai là người thường xuyên đi xưng tội? Ai tin vào sự Hiện diện Thực sự (của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể)? Ai tin rằng giáo huấn của Giáo hội về các biện pháp tránh thai nhân tạo mang tính thẩm quyền bắt buộc? Những câu hỏi này không thể được giải đáp qua một cuộc khảo sát tổng quát như thế này.
Một khía cạnh nhỏ giúp chúng ta hiểu thêm về các gia đình này nằm ở những câu hỏi về nhân khẩu học có trong khảo sát.
Một số ý kiến cho rằng việc chú trọng vào thần học (bao gồm cả "Thần học về Thân xác" của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II) thu hút những người Công Giáo có trình độ học vấn cao hơn; vì vậy, chúng tôi đã xem xét nhóm người Công Giáo có bằng đại học (chương trình bốn năm) trở lên để xem liệu sự khác biệt giữa nhóm đi lễ ít nhất một lần mỗi tuần và nhóm ít đi lễ hơn có lớn hơn so với cộng đồng Công Giáo nói chung hay không.
Tuy nhiên, kết quả lại cho thấy điều ngược lại. Trong khi ở cộng đồng Công Giáo nói chung, 8% những người đi lễ ít nhất một lần mỗi tuần có từ năm con trở lên, thì ở nhóm người Công Giáo có bằng đại học trở lên, con số này thấp hơn một chút: 7%.
Một quan điểm khác cho rằng việc có gia đình đông con là biểu tượng của sự sung túc mà chỉ những gia đình có thu nhập cao mới có điều kiện thực hiện. Do đó, chúng tôi đã phân tích tỷ lệ số con của người Công Giáo trong dữ liệu khảo sát dựa trên mức thu nhập gia đình hàng năm: trên hay dưới 100.000 đô la.
Kết quả cho thấy những người Công Giáo có thu nhập thấp hơn thực tế lại có xu hướng sinh nhiều con hơn so với nhóm có thu nhập trên 100,000 đô la.
Họ cũng có xu hướng không có con, trong khi những người Công Giáo đã kết hôn, có thu nhập trên 100,000 đô la và đi lễ ít nhất một lần mỗi tuần lại có xu hướng sinh hai hoặc ba con.
Để tìm hiểu chi tiết hơn về lịch sử hôn nhân của các cá nhân gắn liền với số lượng con cái của họ, cần tham khảo một bộ dữ liệu khác: Khảo sát Quốc gia về Tăng trưởng Gia đình (NSFG) do CDC Hoa Kỳ thực hiện. Đây là một cuộc khảo sát có quy mô nhỏ hơn, do đó việc tập trung vào một số nhóm nhỏ (chẳng hạn như các cộng đồng tôn giáo cụ thể) có thể gặp khó khăn hơn; tuy nhiên, nó lại cho phép chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử hôn nhân và gia đình của những người tham gia khảo sát.
Một hạn chế của NSFG – yếu tố tạo ra sự khác biệt trong cách chúng tôi phân tích dữ liệu – là cuộc khảo sát này được thiết kế để nghiên cứu các gia đình đang trong quá trình phát triển. Theo đó, đối tượng khảo sát chủ yếu là những người vẫn đang trong độ tuổi sinh nở. Vì chúng tôi muốn nghiên cứu những người có gia đình đông con, nên nhóm đối tượng dễ xác định nhất là những người đang ở giai đoạn cuối của độ tuổi sinh nở. Với dữ liệu CES, chúng tôi có thể thực hiện điều này một cách dễ dàng bằng cách xem xét nhóm người trong độ tuổi từ 40 đến 55.
NSFG đã có những thay đổi qua các năm. Từ năm 2011 đến 2014, khảo sát tập trung vào người trưởng thành đến 44 tuổi. Từ năm 2015 đến 2019, phạm vi khảo sát mở rộng đến người trưởng thành 49 tuổi. Do sự khác biệt về quy mô mẫu giữa các năm, nhóm phân tích nhất quán và lớn nhất mà chúng tôi có thể thiết lập bao gồm nam giới và nữ giới trong độ tuổi từ 35 đến 44, xét trong giai đoạn từ 2011 đến 2019. Tất nhiên, những người 35 tuổi vẫn có thể sinh thêm con, nhưng chúng tôi muốn đảm bảo khoảng cách độ tuổi ít nhất là 10 năm; đồng thời, mốc 35 tuổi cũng đủ lớn để nhóm phân tích được kỳ vọng đã đạt gần đến số lượng con tối đa mà họ sẽ có. Tuy nhiên, chúng tôi cũng xem xét một nhóm nhỏ hơn gồm những người tham gia khảo sát từ 35 đến 49 tuổi trong giai đoạn 2014–2019 để đối chiếu kết quả, và nhận thấy xu hướng ở cả hai nhóm phân tích đều tương đồng.
Do NSFG được thiết kế để nghiên cứu cấu trúc và lịch sử gia đình, chúng tôi đã có thể đưa ra một sự phân biệt quan trọng. Khi xem xét các gia đình đông con trong khảo sát CES, chúng tôi có thể xác định những người đã kết hôn và có số lượng con nhất định, nhưng lại thiếu dữ liệu để biết liệu họ có những đứa con đó với người bạn đời hiện tại hay không, hay liệu đó là con từ các mối quan hệ trước đây. Khảo sát NSFG cho phép chúng tôi phân biệt hai nhóm này.
Đối với những người đã kết hôn và có từ 0 đến 3 con, trong khoảng 65% đến 75% trường hợp, người được khảo sát có tất cả các con với người bạn đời hiện tại, và người bạn đời này cũng không có con riêng từ các mối quan hệ trước khi bước vào cuộc hôn nhân hiện tại.
Tuy nhiên, tỷ lệ này giảm xuống còn 56% đối với những người đã kết hôn có bốn con. Còn ở nhóm có từ 5 con trở lên, chỉ có 39% trường hợp người được khảo sát có tất cả các con với người bạn đời hiện tại mà không có con riêng từ mối quan hệ khác.
Đây là một mô hình gia đình khác biệt so với những gì người ta thường hình dung ban đầu khi nghĩ đến cảnh sáu đứa trẻ bước xuống từ chiếc xe van để đi dự lễ nhà thờ. Tại Hoa Kỳ nói chung... Trong nhóm dân số Hoa Kỳ được khảo sát, những người có từ năm con trở lên thường đạt đến quy mô gia đình này do họ đã trải qua nhiều mối quan hệ sinh con trong suốt cuộc đời mình.
Tuy nhiên, khi xem xét tần suất tham dự các buổi lễ tôn giáo (ít nhất một lần mỗi tuần), chúng tôi nhận thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các cặp vợ chồng chỉ có con chung với nhau và những cặp vợ chồng mà một hoặc cả hai người đều có con riêng từ các mối quan hệ trước đó.
Dựa trên dữ liệu CES, chúng tôi đã có thể phát hiện sự khác biệt về tỷ lệ tham dự lễ tôn giáo giữa người độc thân và người đã kết hôn có gia đình đông con. Dữ liệu này cho phép chúng tôi phân loại chi tiết hơn nhóm người đã kết hôn thành hai nhóm: những người chỉ có con chung với bạn đời (và bạn đời cũng chỉ có con với họ), và những người có con riêng từ mối quan hệ trước hoặc có bạn đời từng có con riêng.
Tỷ lệ tham dự thánh lễ của các cặp vợ chồng chỉ có con chung với nhau cao hơn nhiều so với bất cứ nhóm nào khác mà chúng tôi đã phân tích trước đó.
Khi thu hẹp phạm vi phân tích chỉ tập trung vào người Công Giáo, chúng tôi cũng ghi nhận một xu hướng tương tự.
Ngoài ra, với thông tin chi tiết về các mối quan hệ này, có thể thấy rõ rằng bất kể thuộc loại hình gia đình nào, người Công Giáo có nhiều con thường tham dự thánh lễ thường xuyên hơn so với những người có ít con hơn.