SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân

Nhà Xuất Bản Ignatius Press San Francisco

PHẦN II Nguồn gốc của Lạm dụng Tình dục bởi Giáo sĩ


Chương 11. Vai trò của sự bất đồng chính kiến trong Giáo hội

Đức ông Kevin Wallin được biết đến trong Giáo phận Bridgeport là một nhà thuyết giảng xuất sắc và là một “nhân vật kiệt xuất” ở vùng tây nam Connecticut. Có thời điểm, ông là thư ký của Giám mục Edward Egan (người sau này trở thành tổng giám mục New York). Wallin tham gia vào nhiều hoạt động từ thiện và tích cực trong nhiều lĩnh vực, từng là thành viên hội đồng quản trị của Đại học Sacred Heart. Nhưng rồi, vào khoảng năm 2010 hoặc 2011, ông bắt đầu suy sụp. Ông sụt cân nhiều, đi khom lưng và không xuất hiện trong các sự kiện đã lên lịch. Một số người nhìn thấy ông tiếp đãi những người đàn ông “đáng ngờ” đến và đi khỏi nhà xứ của ông. “Hàng xóm nói rằng nhiều người đàn ông kéo đến căn hộ của Đức ông Wallin, nhiều người trong số họ đến bằng những chiếc xe như BMW và Corvette. Có thể nghe thấy tiếng quan hệ tình dục.” Năm 2013, ông bị bắt giam vì tội buôn bán ma túy. (1)

Có rất nhiều dấu hiệu đáng ngờ được nhiều linh mục, nữ tu và giáo dân nhận thấy, nhưng mọi người đều phớt lờ. Đây là một linh mục lỗi lạc buôn bán ma túy đá và công khai đồng tính luyến ái, vậy mà không ai lên tiếng. Nhưng dấu hiệu đáng ngờ lớn nhất trong số đó là việc ông từ bỏ Công Giáo. Nhiều năm trước khi bị bắt, ông đã ở trong một buổi gặp gỡ với các linh mục khác, nơi cuộc thảo luận chuyển sang chủ đề lòng thương xót của Chúa. Wallin nói, “Các ông thực sự không tin điều đó, phải không?” (2) Rõ ràng Wallin đang rơi vào tình trạng sa ngã. Thiếu đức tin, làm sao ông có thể làm một linh mục được?

Mất đức tin là lý do hàng đầu khiến các linh mục đi chệch hướng. Cha Richard John Neuhaus nói rằng vấn đề lạm dụng tình dục của giáo sĩ bắt nguồn từ “sự bất đồng và rời bỏ giáo huấn của Giáo hội”. Thật vậy, ngài khẳng định, việc tránh rắc rối tình dục phụ thuộc vào “ba điều: trung thành, trung thành và trung thành”. (3) Tất nhiên, trung thành không chỉ bao gồm sự chấp nhận về mặt trí thức đối với giáo huấn của Giáo hội mà còn cả đời sống cầu nguyện để sống theo chúng. Khi một linh mục ngừng cầu nguyện, rắc rối thường sẽ theo sau.

Vâng, vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ là không thể hiểu được nếu không hiểu vai trò quan trọng của sự bất đồng chính kiến. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI đã chạm đúng vào điểm yếu của những người chỉ trích ngài khi ngài đề cập đến vai trò của sự bất đồng chính kiến, và đó là bởi vì ngài đã đánh trúng trọng tâm vấn đề.

Chắc chắn, hầu hết các linh mục bất đồng chính kiến không có ý định lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên, nhưng họ có thể có xu hướng vi phạm giáo huấn của Giáo hội hơn các đồng nghiệp trung thành của họ. Tại sao? Thứ nhất, là do thiếu cảm giác tội lỗi. Khi cảm giác tội lỗi bị đẩy đến cực đoan, nó không lành mạnh. Nhưng nó cũng không lành mạnh khi cảm giác tội lỗi hầu như không hiện diện hoặc hoàn toàn không hiện diện. Ví dụ, nếu ai đó không tin rằng ăn cắp của người giàu là sai, thì người đó có nhiều khả năng làm như vậy hơn, nếu có cơ hội, so với những người coi đó là sai. Còn một linh mục bác bỏ giáo huấn của Giáo hội về độc thân và trinh tiết thì sao? Chẳng phải ông ta sẽ dễ có quan hệ tình dục hơn một linh mục chấp nhận những giáo huấn này sao? Còn một linh mục mắc chứng rối loạn – bị hấp dẫn tình dục bởi trẻ vị thành niên – và được các nhà thần học bất đồng chính kiến cho rằng cảm xúc tình dục của mình là việc riêng của mình và không có thứ gọi là cảm xúc “lệch lạc” thì sao? Chẳng phải ông ta sẽ dễ dàng chiều theo cảm xúc của mình hơn sao?

Những người Công Giáo tự cho mình là tiến bộ – bằng cách bác bỏ giáo huấn của Giáo hội về tình dục và hôn nhân – đã góp phần tạo ra những điều kiện dẫn đến lạm dụng tình dục trong giới giáo sĩ. Những người tiến bộ có vị trí ảnh hưởng, chẳng hạn như các nhà hoạt động, nhà thần học, nhà văn, giảng viên và nhân viên Giáo hội, đã khuyến khích sự bất đồng chính kiến trong số các chủng sinh và linh mục. Chắc chắn, những người đàn ông bình thường được dạy dỗ để chế giễu đạo đức tình dục của Giáo hội sẽ không có ý định dụ dỗ trẻ vị thành niên, nhưng một thanh niên vốn đã có vấn đề về tâm lý thì có nhiều khả năng làm như vậy hơn sau khi được ngầm cho phép.

Những người Công Giáo tiến bộ thường phàn nàn về việc đàn áp những người bất đồng chính kiến. Đàn áp nào chứ? Đây là sự thật về cách Giáo Hội Công Giáo hoạt động trong vài thập niên qua: không có tổ chức nào trong xã hội có nhiều quy tắc hơn và thực thi chúng ít hơn Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hội Công Giáo khoan dung hơn về tự do ngôn luận so với hầu hết các trường cao đẳng và đại học. Giáo hội thậm chí còn khoan dung hơn với sự bất đồng chính kiến so với các phương tiện truyền thông chính thống, những người ngày càng nhấn mạnh đến sự đồng nhất về tư tưởng, đặc biệt là khi đề cập đến các vấn đề về tình dục. Một người sẽ trụ được bao lâu trong ban biên tập của tờ New York Times nếu người đó công khai nói rằng ông ta không nghĩ rằng một cuộc hôn nhân thực sự giữa hai người đàn ông là có thể?

Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa tiến bộ lại miêu tả triều đại của các vị Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Bê-nê-đíc-tô XVI là thời kỳ mà những người bất đồng chính kiến bị trừng phạt. Cha Richard McBrien đặc biệt gay gắt, nói rằng chính quyền của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II phải chịu trách nhiệm về việc bịt miệng những người bất đồng chính kiến, khăng khăng đòi hỏi lời thề trung thành, và những điều tương tự.

Ông so sánh sự cai trị của ngài với Điện Cẩm-linh dưới thời các nhà độc tài Liên Xô. Tuy nhiên, Phil Lawler lưu ý rằng trong những năm đầu nhiệm kỳ của vị Giáo hoàng, đã có một số nỗ lực nhằm giải quyết sự bất đồng chính kiến, nhưng chúng không bao giờ đạt được kết quả gì, ngoài một vài lời cảnh báo. Trên thực tế, “cuộc đàn áp mà những người theo chủ nghĩa tự do lo sợ (và những gì mà những người bảo thủ mong muốn) chưa bao giờ xảy ra. Sự bất đồng về thần học vẫn phổ biến, đặc biệt là tại các trường cao đẳng và đại học Công Giáo danh tiếng nhất.” (4)

Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, người sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, đã bị những người theo chủ nghĩa tiến bộ chỉ trích vì những nỗ lực kỷ luật được cho là quá khắt khe khi phục vụ dưới thời Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II. Sau khi đảm nhận nhiệm vụ giáo hoàng, ngài cũng bị chỉ trích tương tự vì đã quá hà khắc và thường xuyên áp dụng kỷ luật. Mặc dù Đức Bê-nê-đíc-tô được những người chỉ trích gọi là “chó Rottweiler của Chúa”, nhưng triều đại giáo hoàng của Đức Bê-nê-đíc-tô thực sự khá ôn hòa. Nhà báo Công Giáo John Allen nhận xét: “Tính trên toàn bộ bảy năm triều đại giáo hoàng của Đức Bê-nê-đíc-tô, tổng số lần Tòa thánh khiển trách ai đó vẫn tương đối hạn chế.” Allen đã liệt kê một nhà thần học bị khiển trách công khai, và “khi kỷ luật được áp đặt, ngay cả theo tiêu chuẩn lịch sử gần đây, nó thường khá nhẹ nhàng.” Ông còn lưu ý thêm rằng không ai bị thu hồi giấy phép giảng dạy thần học và không ai bị sa thải khỏi việc giảng dạy tại các trường cao đẳng hoặc đại học Công Giáo vì sự can thiệp của Rome. (5) Vì vậy, nếu có điều gì xảy ra, thì những người bất đồng chính kiến đã được hưởng lợi quá dễ dàng.

Nhà thần học, Cha Matthew Lamb, nhận thấy mối liên hệ giữa sự bất đồng chính kiến và lạm dụng tình dục của giáo sĩ. “Có bao nhiêu linh mục và giám mục đã gây ra đau khổ cho trẻ vị thành niên và tai tiếng cho công chúng đã được các giáo viên và nhà thần học khuyến khích đi tắt đón đầu và bất đồng chính kiến với chân lý của đức tin và giáo huấn đạo đức Công Giáo? Nhiều linh mục và giám mục tương lai đã đọc các bài báo bất đồng chính kiến với đạo đức tình dục Công Giáo trong những năm 1960 và 1970. Một bầu không khí bất đồng đã được thúc đẩy bởi sự bất đồng toàn diện với đạo đức tình dục Công Giáo.” (6)

Cha Lamb không hề nói quá. Khi các chủng sinh được giao đọc các tác phẩm của Alfred Kinsey và các môn đệ của ông, tất cả đều cổ vũ cho một hệ tư tưởng tình dục tự do, thì chúng ta có thể mong đợi điều gì? (7) Chúng ta có thể mong đợi điều gì khi các nhà tâm lý học loại bỏ những người đàn ông khỏi chức linh mục vì họ không bác bỏ giáo huấn của Giáo hội về tình dục? (8) Tệ hơn nữa, một số người trong số họ, những người được gửi đi trị liệu—vì họ tin vào những gì Giáo hội dạy—bắt đầu tự nghi ngờ bản thân. Một chủng sinh đã trải qua thử thách này, tự hỏi, “Tôi có bị điên không?” (9) Một ứng viên khác cho chức linh mục, người chấp nhận giáo huấn của Giáo hội về phụ nữ, đã bị một nữ tu duy nữ tuyên bố là không đủ năng lực; bà gọi ông là “vô cảm với nhu cầu của phụ nữ”. Một lời thỉnh cầu gửi đến giám mục không mang lại kết quả gì: ngài nói rằng ngài sẽ không “can thiệp”. (10)

Cha Robert Altier không hề ngại ngần khi nói về “một sự xâm nhập có chủ đích và độc hại vào Giáo hội nhằm mục đích phá hủy Giáo hội từ bên trong”. Ngài nói rằng khi còn ở chủng viện năm 1985, “nếu bạn không phải là người đồng tính hoặc nhà duy nữ cấp tiến thì bạn sẽ gặp rắc rối lớn.” Một trong những giáo sư của ngài đã kêu gọi sinh viên nổi dậy bằng cách nói, “Martin Luther có ý tưởng đúng đắn, nhưng ông ấy đã thực hiện nó sai cách—ông ấy đã rời bỏ Giáo hội. Bạn không thể thay đổi Giáo hội từ bên ngoài, bạn chỉ có thể thay đổi nó từ bên trong, vì vậy chúng tôi sẽ không rời bỏ Giáo hội.” (11)

Cha Patrick Klekas là một linh mục trẻ, ông lưu ý rằng trong những năm học tại chủng viện, có một ranh giới rõ ràng giữa những người như cha và những bạn cùng lớp đồng tính luyến ái hoạt động tình dục, những người bất đồng với giáo huấn của Giáo hội. Cha nói: “Đa số chủng sinh hành động theo sự hấp dẫn đồng tính của họ có xu hướng ủng hộ giáo lý đạo đức dị giáo”. Cha nói thêm rằng họ sẽ bất đồng quan điểm trên bàn ăn, nhưng sẽ tỏ ra trung thành trong lớp học. “Quá trình phong chức cho các chủng sinh bất mãn góp phần vào quan niệm phổ biến cho rằng sự gia tăng bất đồng quan điểm của giáo sĩ sẽ làm tăng khả năng thay đổi trong Giáo hội.” (12)

Với tình trạng này, không có gì lạ khi nhiều giáo dân cảm thấy bối rối. Nếu những người trong hàng giáo phẩm công khai bất đồng với giáo huấn của Giáo hội về đồng tính luyến ái, tại sao giáo dân lại phải chú ý đến họ trong những vấn đề khác? Hồng Y Sarah không hài lòng với sự phát triển này. “Dấu hiệu của Satan là sự chia rẽ. Ngày nay có những xung đột nghiêm trọng trong hàng giáo sĩ. Và ma quỷ đang ăn mừng.” Ma quỷ rất thích chia rẽ Giáo hội.” Từ mọi dấu hiệu, hắn đang làm khá tốt. “Hắn tìm cách gieo rắc sự thờ ơ và nghi ngờ vào các linh mục.” (13) Điều khiến điều này trở nên nghiêm trọng là giáo huấn của Giáo hội được đề cập có những hậu quả rõ ràng về hành vi, khiến thiệt hại càng trở nên nghiêm trọng hơn. Khi vấn đề là đồng tính luyến ái, hậu quả có thể rất khủng khiếp.

Công đồng Vatican II và Humanae Vitae

Những người quan sát Công Giáo thuộc mọi khuynh hướng đều đồng ý rằng quyết định của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI duy trì giáo huấn của Giáo hội về kiểm soát sinh sản nhân tạo, như đã nêu trong Humanae Vitae, đã gây ra sự hỗn loạn trong giới giáo sĩ và giáo dân. Khi người tiền nhiệm của ngài, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, thành lập một ủy ban để nghiên cứu vấn đề này, người ta kỳ vọng rằng một sự thay đổi sắp xảy ra. Nhưng điều đó đã không bao giờ xảy ra, do đó đã gây ra sự bất đồng rộng rãi.

Người dẫn đầu sự bất đồng là Cha Charles Curran, giáo sư thần học luân lý tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ. Ông lập luận rằng thông điệp của giáo hoàng không phải là bất khả sai lầm và do đó có thể sai sót. Điều này sẽ hợp pháp hóa sự bất đồng, ông nói. Ông có một lượng người nghe lớn và có ảnh hưởng. Sự bất đồng quan điểm của các linh mục, nữ tu và giáo dân, một số người trong số họ đã đăng một quảng cáo toàn trang trên tờ New York Times để biện minh cho việc họ bác bỏ Humanae Vitae. Các giám mục, đối diện với vấn đề quan hệ công chúng ngày càng gia tăng, đã ban hành một thư mục vụ vào tháng 11 năm 1968, Human Life in Our Day [Cuộc sống con người trong thời đại chúng ta], trong đó họ chấp nhận điều mà họ gọi là “sự bất đồng chính kiến hợp pháp”. Theo Kenneth Whitehead, điều họ muốn nói bằng thuật ngữ này là “sự bất đồng đơn thuần theo kiểu học thuật”. Ông nói, hiệu quả là “một số lượng lớn người Công Giáo đã kết luận một cách không vô lý rằng sự bất đồng chính kiến thực sự là hợp pháp”. Mãi đến năm 1979, Vatican mới bắt đầu điều tra Cha Curran. Năm 1986, ông được thông báo rằng ông không còn “phù hợp cũng như không đủ điều kiện để thực hiện chức năng của một giáo sư thần học Công Giáo”. (14) Nhưng thiệt hại đã xảy ra rồi. Mười tám năm bất đồng chính kiến của ông tại một trường đại học giáo hoàng đã hợp pháp hóa việc nhiều người Công Giáo bác bỏ đạo đức tình dục Công Giáo.

Thông điệp năm 1968 tái khẳng định lập trường phản đối ngừa thai của Giáo hội có thể đã bị giáo dân phớt lờ, nhưng họ không công khai nổi loạn. Việc đó chỉ dành cho các nữ tu và linh mục. Hồng Y Patrick O’Boyle của Tổng giáo phận Washington đã kỷ luật mười chín linh mục ở Washington vì điều mà bất cứ tổ chức nào khác cũng gọi là bất tuân lệnh. Nhưng những người nổi loạn đã kháng cáo lên Rome, và họ đã thắng: Vatican ra lệnh cho O’Boyle dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt. Điều thúc đẩy quyết định này là nỗi sợ ly giáo. Đức Giáo Hoàng tin rằng thà chấp nhận rủi ro bất đồng chính kiến còn hơn là chứng kiến Giáo hội tan rã, và ngài hy vọng rằng khi mọi việc lắng xuống, Giáo hội có thể trở lại bình thường. George Weigel gọi đây là “Thỏa thuận ngừng bắn năm 1968”. (15) Điều rút ra từ thỏa thuận ngừng bắn, Weigel nói, “là hai bài học sẽ định hình toàn bộ một kỷ nguyên trong lịch sử Công Giáo Hoa Kỳ”. Một bài học là Tòa Thánh sẽ nhượng bộ trước sự bất đồng chính kiến, và bài học khác là các giám mục như O’Boyle sẽ không nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ Rome. (16)

Weigel lưu ý rằng những bài học này không bị bỏ qua bởi cái mà một số người gọi vào thời điểm đó là “Bộ máy Bernardin”, ám chỉ đến nhóm các giám mục tiến bộ do Tổng Giám mục Joseph Bernardin lãnh đạo. (17) Năm 1968, vị Hồng Y và tổng giám mục tương lai của Chicago đã trở thành tổng thư ký đầu tiên của Hội nghị Giám mục Công Giáo Quốc gia. Bernardin và Hồng Y John Dearden của Detroit đã gây ảnh hưởng to lớn trong việc định hình Giáo Hội Công Giáo ở Hoa Kỳ trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, điều này nhận được sự hoan nghênh của những người bất đồng chính kiến. (Xem chương 12 để thảo luận về sự bất đồng chính kiến của Dearden.)

ĐHY Bernardin cũng làm việc với tổng giám mục người Bỉ Jean Jadot, người chịu trách nhiệm chính trong việc bổ nhiệm nhiều giám mục tiến bộ, một số người trong số họ đã âm thầm bất đồng với đạo đức tình dục của Công Giáo. Không phải ngẫu nhiên mà nạn lạm dụng tình dục của giáo sĩ đang lên đến tuyệt đỉnh vào cùng thời điểm đó. Không gặp phải sự phản đối nào, những người Công Giáo tiến bộ đã nắm bắt cơ hội, thúc đẩy sự bất đồng chính kiến nhân danh “tinh thần của Công đồng Vatican II”. Thuật ngữ mơ hồ này được sử dụng rất linh hoạt, đến mức hầu như bất cứ sự sai lệch nào so với thần học luân lý truyền thống đều có thể được che đậy bằng cách đơn giản viện dẫn “tinh thần của Công đồng Vatican II”. Tình hình trở nên hỗn loạn đến mức một linh mục, khi đang giảng đạo, đã đập vỡ tràng hạt, rải những hạt xuống sàn nhà, nói với các tín hữu: “Anh chị em không cần phải đọc điều này nữa.” (18)

Thêm vào sự hỗn loạn này là một làn sóng lớn người đồng tính gia nhập hàng giáo sĩ. “Cùng với tỷ lệ hao hụt của hàng ngàn linh mục rời bỏ chức vụ để kết hôn,” Jason Berry viết, “số lượng người đồng tính gia nhập đời sống giáo sĩ bắt đầu leo thang. Hàng chục linh mục trên 50 tuổi, ở mọi vùng miền của đất nước, nói với tôi rằng vào những năm 1970, người đồng tính bắt đầu đổ xô vào các chủng viện và tu viện.” (19) Nhiều người trong số họ công khai nổi loạn chống lại giáo huấn của Giáo hội về tình dục, và rất ít người bị khiển trách vì điều đó. Trong mớ hỗn độn này, Giáo hội có một bài học: đừng đặt kỳ vọng quá cao vào cải cách. Nhà khoa học chính trị James Davies đã đưa ra điều mà ông gọi là lý thuyết “đường cong chữ J” về các cuộc cách mạng, và nó có thể áp dụng vào việc Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã thành lập một ủy ban gồm các linh mục và giáo dân để cố vấn cho ngài về sự khôn ngoan của giáo huấn của Giáo hội về kiểm soát sinh sản nhân tạo.

Davies lập luận rằng các cuộc cách mạng không xảy ra khi người dân bị áp bức nhất. Thay vào đó, chúng xảy ra khi một thời kỳ cải thiện kinh tế và xã hội mạnh mẽ được theo sau bởi một sự đảo ngược nhanh chóng và đột ngột. Áp dụng vào Giáo Hội Công Giáo, nếu không có ủy ban này, hoặc nếu ủy ban không khuyến nghị thay đổi giáo huấn của Giáo hội, có thể đã có một số bất mãn nhưng những biến động sau đó đã có thể tránh được.

Giáo dục về lệch lạc tình dục cho sinh viên thần học

Năm 1990, tôi xuất hiện trên chương trình Phil Donahue Show, tranh luận về tính phù hợp của một số lớp học về tình dục con người trong các trường đại học, đặc biệt là các khóa học sử dụng sách giáo khoa "Our Sexuality" của Robert Crooks và Karla Bauer (các ấn bản mới vẫn đang được sử dụng). Các tác giả đã kiên quyết bác bỏ ý tưởng cho rằng có bất cứ thứ gì gọi là "tình dục lệch lạc". Bất cứ chủ đề là quan hệ tình dục với người chết (ái tử thi), loạn luân, thú dâm [bestiality], hoặc những ám ảnh tình dục như ngửi đồ lót bẩn của người khác để kích thích tình dục, tất cả những điều này đều có thể được hiểu đơn giản là “tình dục không điển hình [atypical sex]”. Tôi không hề biết rằng cuốn sách này là tài liệu bắt buộc đối với một số chủng sinh vào thời điểm đó. (20) Chỉ có thể mô tả điều này là phá hoại.

Một cuốn sách như vậy sẽ có tác động như thế nào đến các chủng sinh? Đối với những người bình thường và không mắc phải chứng rối loạn nào, có lẽ là sự bối rối. Chắc chắn họ được khuyến khích hoài nghi về đạo đức tình dục Công Giáo, và có lẽ một số người đã mắc bẫy. Nhưng đối với những người bối rối về tình dục, và đối với những người có khuynh hướng lệch lạc, đây rõ ràng là một tuyên bố khẳng định, một tuyên bố xác nhận những xung động tồi tệ nhất của họ. Bước nhảy từ bất đồng chính kiến đến thử nghiệm tình dục—bao gồm, đối với một số người, lạm dụng tình dục—chắc chắn đã trở nên dễ dàng hơn.

Có một cuốn sách khác được sử dụng trong các chủng viện chắc chắn gây hại cho những thanh niên đang học để trở thành linh mục. Cuốn sách " Human Sexuality: New Directions in American Catholic Thought [Tình dục con người: Những hướng đi mới trong tư tưởng Công Giáo Mỹ]" được viết bởi Cha Anthony Kosnik và bốn cộng sự. Kosnik là thành viên của Liên minh Công Giáo vì Quyền Dân sự của Người Đồng tính và là người phản đối mạnh mẽ các giáo huấn của Giáo hội về tình dục. Ông cho rằng khi đánh giá đạo đức của các hành vi đồng tính luyến ái, chúng ta không thể chấp nhận một cách phản xạ những gì Giáo hội dạy. “Chúng ta không thể chỉ đơn giản cầu xin câu trả lời từ truyền thống hay mặc khải, như thể vấn đề đã được quyết định một lần và mãi mãi bằng sắc lệnh thiêng liêng trên bờ Biển Chết.” (21)

Các chủng sinh được dạy phải bác bỏ quan niệm cho rằng các hành vi đồng tính luyến ái vốn dĩ là xấu xa và thay vào đó coi chúng là trung lập về mặt đạo đức. “Các hành vi đồng tính luyến ái phải được đánh giá dựa trên ý nghĩa quan hệ của chúng”, Kosnik viết. (22) Ông bác bỏ đạo đức tình dục Công Giáo như đã được hiểu qua các thời đại. Thậm chí, ông còn đi xa đến mức đặt câu hỏi về tính hợp lệ của việc lên án thú dâm, chứ đừng nói đến đồng tính luyến ái. (23) Ông nói rằng tình dục của con người nên “tự giải phóng” và “vui vẻ”. Ông thẳng thắn không kém gì những gì được tìm thấy trong tạp chí Playboy. “Tầm quan trọng của yếu tố tình dục, tức là ham muốn bản năng về khoái lạc và thỏa mãn, cần được khẳng định và khuyến khích.” (24)

Nếu đây chỉ là một cuốn sách được viết bởi một linh mục bị gạt ra ngoài lề xã hội, thì đó lại là chuyện khác. Trên thực tế, nó được Hội Thần học Công Giáo đặt hàng và đã được Hiệp hội Báo chí Công Giáo trao giải nhất. Hội đồng giám mục đã đưa ra một tuyên bố chỉ trích vào tháng 11 năm 1977, và hai năm sau đó, Thánh Bộ Giáo lý Đức tin đã lên tiếng, nói rằng cuốn sách đã “phổ biến rộng rãi các nguyên tắc và kết luận sai lầm”, do đó trở thành “nguồn gây nhầm lẫn giữa dân Chúa”. (25) Điều này chẳng có ý nghĩa gì đối với những người bất đồng chính kiến. Cuốn sách tiếp tục được sử dụng trong nhiều chủng viện trong suốt những năm 1980 và 1990. (26) Cho đến ngày nay, cuốn sách vẫn được tờ National Catholic Reporter ca ngợi, tờ báo này miêu tả Kosnik như một nạn nhân; ông nói rằng ông là nạn nhân của “sự áp bức”. (27)

Hội Thần học Công Giáo có một lịch sử lâu dài về sự bất đồng chính kiến. Năm 1969, tổ chức này bầu Charles Curran làm chủ tịch, và năm 1997, họ tán thành việc phong chức linh mục cho phụ nữ. (28) Giáo sư James Hitchcock đổ lỗi cho tổ chức này vì đã cô lập những người Công Giáo bảo thủ. “Nhiều người đã bị từ chối bổ nhiệm chính thức, mất việc, thậm chí không bao giờ được tuyển dụng, hoặc bị trừng phạt vì giữ vững giáo lý của Giáo hội, không chỉ trong giới học thuật mà ngay cả trong các cơ quan chính thức của Giáo hội.” (29)

Các học giả trong Hội Thần học Công Giáo phủ nhận rằng những cuốn sách như cuốn sách của Kosnik mà họ đặt hàng có thể bị đổ lỗi cho vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Tất nhiên, bản thân cuốn sách của Kosnik không thể bị đổ lỗi, nhưng nói rằng nó không có tác động gì là vô lý. Sách được viết ra để ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi của người đọc, và điều này đặc biệt đúng với các văn bản được dành cho sinh viên.

Như tôi đã đề cập trong một chương trước, vào năm 2020, một vụ tai tiếng đã nổ ra ở Pháp liên quan đến Gabriel Matzneff, nhà văn đã khoe khoang trong nhiều thập niên về việc quan hệ tình dục với các bé trai chỉ mới tám tuổi, cũng như hàng loạt thiếu nữ và thiếu niên. Giới trí thức Pháp rất ngưỡng mộ ông ta. Nhưng khi thời thế thay đổi, ông ta mất đi vẻ hào nhoáng. Một luật sư làm việc để chống lại nạn ấu dâm đã nhận xét về ảnh hưởng của ông ta: “Chúng tôi biết có những người đàn ông gặp vấn đề về mặt cảm xúc đã biện minh cho hành vi ấu dâm sau khi đọc sách của Matzneff.” (30) Liệu cũng có những chủng sinh và linh mục gặp vấn đề tương tự đã biện minh cho hành vi lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên của họ sau khi đọc sách của Kosnik?

Còn tiếp