Alden Abbott, trong bản tin Thứ Hai, ngày 1 tháng 6 năm 2026 của tờ The Catholic Thing, nhận định rằng: Thông điệp Magnifica Humanitas của Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã đề cập một cách sâu sắc đến một trong những mối lo ngại lớn nhất của thời đại chúng ta: liệu trí tuệ nhân tạo, nền tảng dữ liệu, robot và vốn toàn cầu sẽ phục vụ con người hay biến chúng ta thành một nhập lượng dùng một lần rồi vất bỏ. Mối quan tâm của thông điệp dành cho người lao động, người nghèo, gia đình và những người bị thiệt thòi mang đậm tính Công Giáo. Nền kinh tế tồn tại vì con người, chứ không phải con người tồn tại vì nền kinh tế.

Về điểm đó, người Công Giáo hẳn sẽ dễ dàng đồng ý.

Nhưng những mục đích đạo đức tốt đẹp không đảm bảo các phương tiện kinh tế lành mạnh. Thông điệp chỉ trích nền kinh tế thị trường vì đã cho phép lợi nhuận, hiệu quả kỹ thuật và quyền sở hữu tập trung vượt quá tinh thần liên đới. Thông điệp cảnh báo rằng tự động hóa có thể thay thế người lao động, dữ liệu có thể trở thành công cụ kiểm soát và lợi ích của sự đổi mới có thể bị chiếm đoạt bởi một nhóm thiểu số nhỏ.

Do đó, thông điệp kêu gọi sự giám sát công khai mạnh mẽ hơn, thuế tái phân phối, các tiêu chuẩn xã hội cho sự đổi mới, bảo vệ người lao động và điều chỉnh AI và dữ liệu để đời sống kinh tế trở nên toàn diện hơn ngay từ đầu chứ không phải được sửa chữa sau đó. Mối lo ngại về mặt đạo đức là nghiêm trọng. Tuy nhiên, bản năng hoạch định chính sách lại kém thuyết phục hơn. Nhà sử học Thomas E. Woods, trong cuốn "Giáo hội và Thị trường", đã đưa ra một sự phân biệt mà tư tưởng xã hội Công Giáo rất cần: Giáo hội nói một cách có thẩm quyền về các nguyên tắc đạo đức, nhưng phân tích kinh tế kỹ thuật là vấn đề của sự thận trọng, bằng chứng và lý trí.

Một vị giáo hoàng có thể đúng khi lên án sự thờ ơ với người nghèo; nhưng điều đó không có nghĩa là việc kiểm soát tiền lương, quy hoạch công nghiệp, các kế hoạch tái phân phối hoặc quy định kỹ thuật sẽ thực sự giúp đỡ họ.

Thị trường thường bị chế giễu như những cỗ máy lạnh lùng chỉ để tưởng thưởng lòng tham. Ở trạng thái tốt nhất, chúng là những hệ thống hợp tác xã hội.

§ Giá cả truyền đạt thông tin mà không một quan chức nào có thể nắm bắt đầy đủ. Lợi nhuận và thua lỗ điều chỉnh sản xuất bằng cách cho thấy liệu các nguồn lực có được sử dụng để phục vụ nhu cầu thực sự của con người hay không.

§ Cạnh tranh hạn chế quyền lực hiệu quả hơn nhiều quy định, bởi vì nó mang lại cho khách hàng, người lao động và doanh nhân những lựa chọn thay thế.

§ Khi quyền sở hữu, hợp đồng, tiền tệ ổn định và pháp quyền được đảm bảo, thị trường sẽ thu hút kiến thức và tài năng phân tán vào hoạt động sản xuất.

Điều này rất quan trọng, đặc biệt đối với người lao động. Tiền lương không chỉ đơn thuần là kết quả của lòng tốt hay sự bóc lột của người sử dụng lao động. Theo thời gian, tiền lương tăng lên khi người lao động trở nên năng suất hơn, khi vốn đầu tư trên mỗi người lao động tăng lên, khi các công ty cạnh tranh để thu hút lao động, và khi mọi người được tự do di chuyển, học hỏi, khởi nghiệp và thương lượng với nhiều nhà tuyển dụng tiềm năng.

Các chính sách làm cho việc tuyển dụng trở nên tốn kém hơn hoặc đổi mới trở nên rủi ro hơn có thể bảo vệ một số công việc hiện hữu trong khi ngăn cản việc tạo ra những công việc tốt hơn trong tương lai.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV ký Magnifica Humanitas [Ảnh chụp màn hình Tin tức Vatican qua YouTube]


Tự động hóa là một ví dụ rõ ràng. Một robot hoặc hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể thay thế một nhiệm vụ đặc thù. Sự mất mát đó là cụ thể và đau đớn. Nhưng những lợi ích về năng suất cũng làm giảm giá cả, cải thiện chất lượng, tạo ra các công ty mới và giải phóng lao động cho những mục đích mà không một nhà hoạch định nào có thể xác định trước được.

Người nghèo thường được hưởng lợi đầu tiên từ những nhu yếu phẩm rẻ hơn: thực phẩm, năng lượng, vận tải, dụng cụ y tế, giáo dục, thông tin liên lạc và dịch vụ tài chính. Khi quy định làm chậm quá trình đổi mới nhân danh bảo vệ người lao động, thay vào đó nó có thể duy trì sự trì trệ và tước đoạt của các gia đình thu nhập thấp những lợi ích mà sự đổi mới mang lại.

Sự thận trọng tương tự cũng áp dụng cho trí tuệ nhân tạo và các quy tắc về dữ liệu. Một số luật là cần thiết: gian lận, cưỡng bức, trộm cắp, vi phạm quyền riêng tư và các hành vi lạm dụng thực sự cần phải bị trừng phạt. Nhưng việc điều tiết AI quá nặng nề, mơ hồ hoặc vội vàng có thể củng cố chính quyền lực của các tập đoàn mà người Công Giáo lo sợ.

Các công ty lớn có thể thuê các bộ phận tuân thủ và người vận động hành lang. Các công ty nhỏ, trường đại học, tổ chức từ thiện, giáo xứ và các công ty khởi nghiệp thì không thể. Một chế độ quản lý được thiết kế để nhân bản hóa kỹ thuật có thể dễ dàng để lại lĩnh vực này cho các công ty lớn nhất hiện có trong khi loại trừ những người mới tham gia có khả năng thách thức họ nhất.

Thuế suất cao hơn đặt ra một vấn đề tương tự. Thông điệp của Đức Giáo Hoàng kêu gọi những người có nhiều nguồn lực hơn gánh vác nhiều hơn gánh nặng xã hội. Điều đó nghe có vẻ như là công lý đơn giản. Nhưng thuế không chỉ đơn thuần là chuyển tiền; chúng thay đổi các động lực. Chúng có thể làm giảm đầu tư, tinh thần kinh doanh, chấp nhận rủi ro và đổi mới.

Theo thời gian, việc hình thành vốn ít hơn có nghĩa là năng suất thấp hơn và tăng trưởng tiền lương yếu hơn. Gánh nặng có thể được áp đặt chính thức lên những người giàu có, nhưng người lao động và người tiêu dùng thường phải trả một phần giá thông qua ít cơ hội hơn và hàng hóa đắt đỏ hơn.

Người Công Giáo cũng không nên cho rằng chính phủ là một người bảo vệ trung lập đứng trên lợi ích cá nhân. Nền kinh tế học lựa chọn công [public choice economics] nhắc nhở chúng ta rằng các chính trị gia, nhà quản lý, viên chức và các nhóm lợi ích cũng phản ứng với các động lực. Trợ cấp bị chiếm đoạt. Các quy định được định hình bởi những người đương nhiệm. Các chương trình công trở thành phương tiện cho sự ưu ái. Các cơ quan tìm kiếm ngân sách lớn hơn và quyền hạn rộng hơn.

Nhà nước có thể làm những việc cần thiết, nhưng nó không tránh khỏi Tội Nguyên Tổ. Quyền lực công tập trung có thể nguy hiểm như quyền lực tư nhân tập trung, và thường khó thoát khỏi hơn.

Giáo huấn xã hội Công Giáo đã chứa đựng nguyên tắc cần thiết để điều chỉnh các cuộc tranh luận chính sách này: nguyên tắc phụ đới. Chính quyền cấp cao không nên gánh vác trách nhiệm của cá nhân, gia đình, nhà thờ, hiệp hội địa phương và cộng đồng tự do. Liên đới mà thiếu nguyên tắc phụ đới sẽ trở thành quản lý tập trung. Phụ đới mà thiếu liên đới sẽ trở thành sự thờ ơ.

Thách thức là giúp người nghèo tham gia vào đời sống sản xuất, chứ không chỉ đơn thuần là tái phân phối sau khi chính trị đã quyết định ai xứng đáng được gì.

Một chương trình nghị sự kinh tế Công Giáo thay thế sẽ nhấn mạnh việc loại bỏ các rào cản đối với việc làm, doanh nghiệp, quyền sở hữu, giáo dục, sự ổn định gia đình và hiệp hội địa phương. Nó sẽ hoan nghênh sự đổi mới đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý đối với những thiệt hại cụ thể. Nó sẽ ưu tiên cạnh tranh hơn đặc quyền, tinh thần kinh doanh hơn sự phụ thuộc, và xã hội dân sự hơn bộ máy quan liêu. Nó sẽ tin tưởng vào lòng bác ái và kiến thức địa phương khi chúng vượt trội hơn mệnh lệnh từ xa.

Thông điệp Magnifica Humanitas đúng khi đặt câu hỏi liệu kỹ thuật có phục vụ phẩm giá con người hay không. Nhưng sự thận trọng đòi hỏi phải đặt câu hỏi liệu các biện pháp can thiệp được đề xuất có thực sự phục vụ người nghèo và người lao động hay vô tình gây hại cho họ. Các nhà tư tưởng Công Giáo thời Trung cổ và Hậu kinh viện hiểu rất nhiều về trao đổi, giá cả, tiền tệ và tài sản. Tòa Thánh nên khôi phục lại di sản đó. Khi các thông điệp giáo hoàng đề cập đến chính sách kinh tế, chúng nên tham khảo kỹ lưỡng kinh tế thị trường, kẻo những khuyến nghị tốt đẹp lại làm suy yếu chính công lý mà chúng muốn thúc đẩy.