Robert Royal, chủ bút The Catholic Thing, ngày 12 tháng 10 năm 2026, cho hay:

Tôi sẽ không dành sự quan tâm đặc biệt nào đến Christopher Columbus nếu như không có những người thiếu hiểu biết—và đôi khi có ác ý—buộc tôi phải làm vậy. Quận Fairfax, bang Virginia, nơi tôi đã sinh sống hơn ba mươi lăm năm qua, đã bãi bỏ quy chế ngày nghỉ lễ có hưởng lương vào Ngày Columbus (Columbus Day) từ năm 2020; tuy nhiên, hôm nay các trường học vẫn đóng cửa để kỷ niệm "Ngày của các Dân tộc Bản địa" (Indigenous Peoples’ Day). Cơ quan lập pháp tiểu bang cũng đã thực hiện điều tương tự trên toàn tiểu bang Virginia, cũng như nhiều tiểu bang khác; hành động này thực chất là thay thế di sản Ki-tô giáo phương Tây của chúng ta bằng một thứ gì đó mà—thành thật mà nói—chính họ cũng chẳng biết là gì. Tất nhiên, Columbus cũng là một con người không hoàn hảo, giống như tất cả chúng ta. Nhưng khác với đa số chúng ta, ông còn là một con người vĩ đại, người đã thực hiện một trong những kỳ tích táo bạo nhất trong lịch sử—một kỳ tích vẫn giữ vai trò trọng yếu đối với châu Mỹ, Giáo hội và toàn thế giới. Càng tìm hiểu về ông, ta càng thấy rõ điều đó.

Một thực trạng đáng nói trong thời đại ngày nay là rất ít người chịu tìm hiểu—hay giảng dạy—về ông, ngoài những lời chỉ trích quy chụp coi Columbus là nguồn cơn của hầu hết mọi điều tồi tệ xảy ra tại châu Mỹ kể từ năm 1492. (Thật kỳ lạ, cũng chính bởi lối tư duy phi lý đó, ông lại chẳng hề được ghi nhận công lao đối với những điều tốt đẹp đã diễn ra trên vùng đất này.) Và mặc dù có nhiều điều đáng ngưỡng mộ ở một số nhóm dân tộc bản địa—cũng như nhiều điều đáng xót xa về cách họ bị đối xử—thì cũng có không ít điều đáng để lên án. Một phần động lực của Columbus xuất phát từ mong muốn "rao giảng Tin Mừng cho muôn dân". Ông đã đúng khi làm như vậy.

Bạn không cần phải nhìn vào các nền văn hóa Maya, Aztec hay Inca vốn dựa trên tục hiến tế người để hiểu điều đó. Chẳng hạn, bất cứ ai nhìn vào cách các vị Tử đạo Bắc Mỹ (những người Công Giáo và các tín hữu khác từng được tôn vinh – và lẽ ra nên được tôn vinh trở lại) bị tra tấn và sát hại dã man – hay cách mà nhiều bộ lạc vùng Đông Bắc đối xử với tù binh, dù là người bản địa hay người châu Âu – đều có thể tự hỏi tại sao người châu Âu lại bị coi là những kẻ thủ ác tàn bạo, trong khi người bản địa lại được xem là những người yêu chuộng hòa bình và bảo vệ môi trường.

Vì vậy, có một câu hỏi cần được đặt ra: Tại sao ngày nay người bản địa lại được tôn vinh? Columbus không phải là người mang chế độ nô lệ đến châu Mỹ. Nó đã tồn tại và phổ biến ở đây từ trước đó. Các hình thức đế quốc và thực dân của chính người bản địa cũng vậy. Còn về vấn đề "đất đai bị chiếm đoạt", dưới đây là một câu chuyện đáng buồn dành cho những ai muốn tìm hiểu sự thật vượt ra ngoài cuộc chiến ý thức hệ hiện nay.

Như tôi đã kể lại trong cuốn sách Columbus and the Crisis of the West (phiên bản mới của cuốn sách đầu tay của tôi, 1492 and All That), chính người Mỹ bản địa cũng từng phạm tội diệt chủng và chiếm đoạt đất đai. Hãy nhìn vào những tranh cãi xoay quanh các tổng thống Mỹ trên núi Rushmore và thậm chí cả quyền sở hữu của chính phủ Hoa Kỳ đối với địa điểm này. Lịch sử của nơi đây chứa đựng một câu chuyện đầy u sầu – hay đúng hơn là nhiều câu chuyện như vậy.

Vào năm 1776, năm các thuộc địa Mỹ tuyên bố độc lập, bộ lạc Lakota-Sioux đã chinh phục vùng Black Hills, nơi tọa lạc núi Rushmore. Họ đã tiêu diệt bộ lạc Cheyenne – những người từng kiểm soát vùng đất này trước đó; mà bản thân người Cheyenne cũng đã chiếm nó từ tay người Kiowa, những người lại chiếm nó từ chắc chắn một bộ lạc nào đó khác nữa.

Như một nhà sử học đã chỉ ra: "Người Lakota-Sioux đến miền Tây sau khi thất bại trong cuộc chiến với các bộ lạc khác ở Minnesota vào cuối thế kỷ 18... Họ đã tiến hành chiến tranh diệt chủng chống lại các bộ lạc khác trước khi chiếm được Black Hills từ tay người Cheyenne... Họ đã làm chính xác những gì mà Hoa Kỳ sau này đã làm để đẩy người Lakota ra khỏi vùng đất đó." Và đây chỉ là một ví dụ trong chuỗi các vụ "chiếm đoạt đất đai" – diễn ra ngay giữa các dân tộc bản địa với nhau.

Bức tranh Columbus lên bờ của Luigi Gregori, năm 1882. Ảnh: Matt Cashore/Đại học Notre Dame [Nguồn: Wikipedia].


Năm 2020, Đại học Notre Dame quyết định che lại toàn bộ các bức tranh tường nguyên bản về Columbus của Gregori và gỡ bỏ chúng khỏi trang web của trường. Các bức tranh này chỉ được mở ra trong hai tuần mỗi học kỳ "vì mục đích giảng dạy".

Vậy chúng ta nên giải quyết những vấn đề lịch sử phức tạp này như thế nào?

Tuần qua, Ngoại trưởng Marco Rubio đã đến Athens và có bài phát biểu đầy cảm hứng về giá trị của nền văn minh phương Tây. Ông ca ngợi vai trò thúc đẩy tư duy triết học và khoa học – vốn nhằm tìm hiểu bản chất thế giới – cũng như các định chế dân chủ mà Hy Lạp đã mang lại. Ông thậm chí còn chỉ ra rằng Plutarch – chứ không phải các nhân vật thuộc phong trào Khai sáng thời hiện đại – mới là tác giả được trích dẫn nhiều nhất bởi những người viết The Federalist Papers (Tuyển tập các bài luận Liên bang), những bài viết có ảnh hưởng lớn đến việc thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ.

Tất cả những điều này cần được nhắc lại, không chỉ như một bài học lịch sử, mà còn để nhắc nhở một thế giới đang dần lãng quên di sản vô giá của văn hóa Hy-La. Đồng thời cũng để nhấn mạnh tầm quan trọng của di sản phương Tây trong thời đại ngày nay:

Ngày nay, chúng ta đang đứng trước một ngã rẽ... Con đường chúng ta chọn sẽ quyết định liệu phương Tây có duy trì được vị thế dẫn đầu thế giới hay sẽ chấp nhận một tương lai suy tàn, nô lệ và lụn bại. Chúng ta hoặc là chọn hành động ngay bây giờ, hoặc là đánh mất hoàn toàn quyền lựa chọn hành động.

Xin dành lời khen ngợi (theo tinh thần Hy Lạp cổ đại) cho ông Rubio vì đã mang đến một tầm nhìn sâu rộng cho thế giới hiện nay – nơi vốn gần như bị thống trị hoàn toàn bởi những đoạn video ngắn trên điện thoại di động.

Có lẽ thời điểm đó chưa thực sự thích hợp, nhưng ông Rubio đã bỏ qua một điều cốt yếu: vai trò của Do Thái giáo và Kitô giáo trong việc lan tỏa, điều chỉnh và phát triển những khởi đầu tốt đẹp nhưng còn khiếm khuyết của phương Tây từ thời Hy Lạp cổ đại. Khi Liên minh Châu Âu thông qua bản hiến pháp vào năm 2004, họ cũng đã bỏ qua yếu tố Kitô giáo, như thể việc nhắc đến tôn giáo chủ đạo của phương Tây là điều gì đó quá "gây tranh cãi".

Thế giới phần lớn đã quên rằng sau thời Columbus, một cuộc tranh luận quan trọng đã nổ ra tại Tây Ban Nha về các dân tộc mới được phát hiện. Một số người cho rằng họ là những "kẻ nô lệ bẩm sinh" – một cụm từ của Aristotle – ám chỉ những người không có khả năng tự quản lý bản thân.

Tuy nhiên, triết gia vĩ đại dòng Đa Minh Francisco de Vitoria, cùng với Bartolomé Las Casas – người được mệnh danh là "người bảo vệ người da đỏ" – đã lập luận rằng các dân tộc này rõ ràng có thể chế và luật lệ riêng, và cả họ lẫn người Tây Ban Nha đều cần được chỉ dẫn một con đường tốt đẹp hơn. Điều này không mang lại hiệu quả tức thì – các ý tưởng hiếm khi làm được điều đó – nhưng nó đã đặt nền móng cho luật nhân quyền quốc tế và phong trào bãi nô bắt nguồn từ tinh thần Kitô giáo.

Thật đáng tạ ơn khi người Kitô giáo đã "tái chinh phục" Tây Ban Nha vào năm 1492; nếu Hồi giáo vẫn còn nắm quyền tại đó, thì châu Mỹ – và cả thế giới – ngày nay chắc chắn sẽ rất khác biệt.

Lịch sử vốn phức tạp nhưng lại phơi bày những sự thật nghiệt ngã. Vì vậy, hãy cứ tôn vinh các Dân tộc Bản địa nếu bạn muốn (tốt nhất là vào một ngày khác). Người Kitô giáo tin rằng mọi dân tộc đều được tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa. Tuy nhiên, hãy khước từ xu hướng thay thế truyền thống phương Tây của chúng ta như hiện nay. Columbus và cả chúng ta nữa, đều xứng đáng nhận được sự tôn trọng đúng mực.