1. Đức Giáo Hoàng nhìn lại chuyến đi đến Pháp, nhấn mạnh sự tái sinh.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã tổng kết chuyến thăm Pháp vừa kết thúc và nói rằng việc xây dựng lại Nhà thờ Đức Bà Paris "có thể mang tính biểu tượng soi sáng toàn bộ hành trình tông đồ này, mang đến một viễn cảnh mà tôi có thể tóm gọn trong một từ: tái sinh."

Sau một đoạn Kinh Thánh ngắn (Cl 1:3-6), Đức Giáo Hoàng Lêô đã nói với các tín hữu hành hương tập trung tại Quảng trường Thánh Phêrô trong buổi tiếp kiến chung hôm thứ Tư (video) rằng "Nhà thờ chính tòa Paris, nơi chỉ bảy năm trước dường như bị tàn phá nặng nề bởi một trận hỏa hoạn kinh hoàng, giờ đây đã được xây dựng lại và lộng lẫy hơn bao giờ hết. Thảm họa đó đã khơi dậy phản ứng tích cực ở mọi cấp độ, một số rõ ràng và thiết thực hơn, một số khác kín đáo hơn và mang tính chất tâm linh."

Ngài nói tiếp: "Việc phục dựng di tích này là một thử nghiệm về khả năng hợp tác giữa Giáo hội, Nhà nước, các thể chế công và xã hội dân sự. Sự phối hợp vì lợi ích chung cần phải là chuẩn mực cho các thể chế, các lực lượng chính trị và xã hội, và tất cả những người có trách nhiệm về dân sự và kinh tế" - thông điệp mà ngài muốn "truyền tải đến chính quyền Pháp, cũng như các thành viên của UNESCO, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc", nhấn mạnh "tiêu chuẩn cơ bản mà sự hợp tác đó phải dựa trên: phẩm giá con người".

Hơn thế nữa, "Nhà thờ Đức Bà là hình ảnh của Giáo hội được tạo nên từ những viên đá sống động, của dân thánh Chúa", Đức Giáo Hoàng nói, đồng thời đề cập đến "một dấu hiệu đổi mới trong Giáo hội tại Pháp đã thể hiện rõ trong vài năm trở lại đây, đó là số lượng đáng kể và ngày càng tăng của giới trẻ và người lớn tìm kiếm Bí tích Thánh tẩy". Suy ngẫm về Thánh lễ ngoài trời ở Paris với sự tham dự của ít nhất 700.000 người, Đức Giáo Hoàng Lêô mô tả Bí tích Thánh Thể là "sự tái thiết thực sự, sự phục hồi của Giáo hội mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể thực hiện được, thông qua sự cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria".

Tại Lộ Đức, Đức Giáo Hoàng nhắc lại, ngài muốn tôn kính Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Giáo Hội, và khẳng định lại rằng "mỗi sinh mạng con người, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ngay cả trong sự yếu đuối cùng cực nhất, đều giữ được phẩm giá bất khả xâm phạm và xứng đáng được chăm sóc, đồng hành và giảm bớt đau khổ bằng lòng thương xót của con người và với sự trợ giúp của các phương tiện do khoa học cung cấp." Tại Metz, ngài nhắc lại Đức Bậc Đáng Kính Robert Schuman, "một trong những người truyền cảm hứng chính cho quá trình thống nhất Âu Châu":

Âu Châu đương đại quả thực được sinh ra như một dự án hòa bình sau sự tàn phá của chiến tranh. Có thể nói rằng những gì đã xảy ra với nhà thờ Notre-Dame ở Paris trong vụ hỏa hoạn cũng chính là những gì đã xảy ra với Âu Châu trong Thế chiến thứ hai. Và Âu Châu đã được tái sinh, dựa trên những nguyên tắc dân chủ, đoàn kết và tình huynh đệ giữa các dân tộc, những nguyên tắc có nguồn gốc sâu xa từ Kitô giáo.

Ngay cả ngày nay, chính trên những nền tảng này và với "mạch máu" thiết yếu đó mà dự án Âu Châu có thể được đổi mới, trong một thế giới toàn cầu hóa hơn nhiều, nơi đối thoại liên tôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu.

"Thưa anh chị em thân mến, chủ đề chuyến thăm mục vụ của tôi tới nước Pháp là ‘Pour que le mode ait la vie,’ ‘Để thế giới có sự sống’," Đức Giáo Hoàng Lêô kết luận. "Đó là những lời của Chúa Giêsu, gói gọn toàn bộ sứ mệnh cứu độ của Ngài và, trong suốt cuộc hành trình, đã thể hiện trọn vẹn ý nghĩa Tin Mừng của mỗi cuộc gặp gỡ. Nguyện xin những lời ấy soi sáng lời cầu nguyện của chúng ta, khi chúng ta cầu xin Chúa ban cho sự kiện ân sủng này sinh nhiều hoa trái bền lâu."

Sau khi chào hỏi các tín hữu hành hương bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, Đức Giáo Hoàng đã chủ trì việc đọc kinh Lạy Cha và ban phép lành tông đồ.


Source:Catholic World News



2. Đức Hồng Y Parolin phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc về Liên minh toàn cầu nhằm thực hiện giải pháp hai nhà nước.

Kính thưa ông Chủ tịch,

Kính thưa quý vị đại biểu,

Trong năm qua, một số tiến triển ngoại giao đã đạt được hướng tới việc chấm dứt xung đột ở Dải Gaza. Điều này bao gồm thỏa thuận ngừng bắn, việc trả tự do con tin và những nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp viện trợ nhân đạo. Bất kỳ sự phát triển chính trị công bằng và hòa bình nào cũng đáng được hoan nghênh và củng cố. Tuy nhiên, thực tế cuộc sống ở Dải Gaza cho thấy những gì đã làm được cho đến nay vẫn còn chưa đủ, vì hơn hai triệu người vẫn đang sống trong cảnh nghèo cùng cực và là nạn nhân của các cuộc tấn công quân sự. Tình hình vẫn rất bi thảm. Hậu quả của bạo lực và sự tàn phá kéo dài tiếp tục đè nặng lên dân thường, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương. Trẻ em, đặc biệt, tiếp tục phải gánh chịu một gánh nặng mà không một đứa trẻ nào đáng phải chịu đựng. Nỗi đau khổ của chúng cho thấy nhu cầu cấp thiết phải bảo vệ dân thường, bảo đảm tôn trọng đầy đủ luật nhân đạo quốc tế và bảo đảm tiếp cận nhân đạo an toàn, bền vững và không bị cản trở.

Tòa Thánh hoan nghênh những nỗ lực được thực hiện thông qua Kế hoạch Toàn diện chấm dứt xung đột Gaza và Nghị quyết RES/S/2803 (2025) của Hội đồng Bảo an nhằm củng cố lệnh ngừng bắn, thúc đẩy phục hồi và tái thiết Gaza, và thiết lập nền tảng cho một tương lai ổn định hơn. Tuy nhiên, những nỗ lực này không thể được xem xét một cách riêng lẻ, tách rời khỏi bối cảnh chính trị rộng lớn hơn. Gaza phải được xem xét trong bối cảnh tương lai của toàn thể người dân Palestine, và viện trợ nhân đạo và tái thiết không thể thay thế cho một giải pháp chính trị công bằng và lâu dài.

Về vấn đề này, Tuyên bố New York là một trong những khuôn khổ chuyển tải cam kết lâu dài đối với Giải pháp Hai Nhà nước thành hành động cụ thể. Lập trường của Tòa Thánh rất rõ ràng: Giải pháp Hai Nhà nước, dựa trên biên giới an toàn và được quốc tế công nhận, là con đường khả thi và công bằng duy nhất hướng tới một nền hòa bình công bằng và lâu dài. Tòa Thánh tiếp tục khẳng định các quyền bất khả xâm phạm của người dân Palestine, bao gồm quyền tự quyết và khát vọng chính đáng của họ được sống trong tự do, an ninh và phẩm giá trong một quốc gia độc lập và có chủ quyền.

Nhìn về giai đoạn 2026-2027, những tiến bộ đạt được trong năm qua không nên được coi là mục đích tự thân, mà là nền tảng để xây dựng lại một tiến trình chính trị thực sự. Để đạt được điều này, điều cần thiết là phải bảo vệ các điều kiện lãnh thổ và chính trị cần thiết cho việc hiện thực hóa hai nhà nước, củng cố các thể chế hợp pháp của Palestine, và tránh các biện pháp làm chia cắt thêm lãnh thổ Palestine hoặc làm suy yếu khả năng tồn tại của một nhà nước Palestine.

Tòa Thánh cũng bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về quyết định gần đây của Israel về việc mở rộng và thiết lập các thị trấn mới, điều này càng làm suy yếu việc thực hiện Giải pháp Hai Nhà nước. Trong bối cảnh này, Tòa Thánh lên án mạnh mẽ mọi hành vi bạo lực chống lại các cộng đồng Kitô giáo sống trên các vùng lãnh thổ Palestine ở Bờ Tây và tái khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn sự hiện diện lịch sử của họ. Họ tiếp tục đóng vai trò là lực lượng điều tiết và ổn định, góp phần vào sự chung sống hòa bình và lòng tin lẫn nhau.

Trong thời đại mà sức mạnh thường được coi là điều kiện tiên quyết cho hòa bình, kinh nghiệm những năm gần đây nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình lâu dài không thể áp đặt bằng vũ lực. Thay vào đó, nó chỉ có thể đạt được thông qua đối thoại, tôn trọng luật pháp quốc tế và cam kết chân thành đối với phẩm giá, nguyện vọng chính đáng và an ninh của cả người dân Palestine và Israel.

Trong bối cảnh này, Tòa Thánh cũng tái khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của Giêrusalem, vùng đất linh thiêng đối với Kitô hữu, Do Thái giáo và Hồi giáo, và lời kêu gọi lâu nay của Tòa Thánh về một quy chế đặc biệt được quốc tế bảo đảm nhằm bảo vệ đặc điểm độc đáo của thành phố, các Thánh địa và quyền lợi của tín hữu thuộc ba tôn giáo độc thần.

Kính thưa quý vị,

Do đó, nhiệm vụ trước mắt chúng ta không chỉ là quản lý hậu quả của xung đột, mà còn là giải quyết tận gốc nguyên nhân và tạo điều kiện cho một nền hòa bình bền vững. Những sáng kiến được thực hiện trong năm qua mang đến cơ hội để tiến theo hướng đó. Cơ hội này không được bỏ lỡ.

Cảm ơn.


Source:HOLYSEEMISSION



3. Đức Giáo Hoàng nhắn nhủ các nữ tu dòng Đa Minh sống đời chiêm niệm đừng nản lòng trước tình trạng số lượng người theo ơn gọi giảm sút.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV khuyến khích các nữ tu dòng Đa Minh chiêm niệm không nên nản lòng trước tình trạng số lượng người gọi tu giảm và các tu viện đóng cửa.

Sau khi tôn vinh ơn gọi chiêm niệm và suy ngẫm về tầm quan trọng của sự tĩnh lặng, Đức Giáo Hoàng Lêô đã trò chuyện với các thành viên của Ủy ban Quốc tế các Nữ tu Dòng Đa Minh Chiêm niệm trong buổi tiếp kiến ngày 30 tháng 9 về "những tình huống khó khăn: các cộng đồng già hóa, số người chết nhiều hơn số người có ơn gọi mới, sự suy giảm năng lực làm việc dẫn đến các vấn đề tài chính, việc quản lý các bất động sản lớn và tốn kém, và những thách thức như đào tạo chung, giao thoa văn hóa và tổ chức các cấu trúc để hiệp thông."

Đức Giáo Hoàng nhận xét: "Sự cám dỗ của ‘tinh thần sinh tồn’ bắt đầu len lỏi, dẫn đến sự cô lập và thu hẹp các cam kết, dưới ảo tưởng rằng những nguồn lực ít ỏi còn lại sẽ đủ, để không phải phụ thuộc vào người khác hoặc phải đóng cửa các tu viện. Trước tình hình này, tôi mời gọi các bạn đừng quá băn khoăn về việc duy trì những cấu trúc đang trở nên trống rỗng. Thay vào đó, hãy lắng nghe điều Chúa Thánh Thần đang yêu cầu đời sống chiêm niệm Dòng Đa Minh ngày nay, hãy nhớ rằng, trước những công việc cần quản lý, có một lời kêu gọi mà chúng ta phải đáp lại, một ngọn lửa đang cháy và không được phép tắt, như Thánh Catherine xứ Siena đã nói."

Đức Giáo Hoàng nói thêm:

Các chị em thân mến, ngay cả giữa những khó khăn hiện tại, đừng bao giờ nản lòng. Việc phục vụ Giáo hội của các chị em thật quý giá: hãy tiếp tục với niềm tin, trong sự hiệp thông và với sự phân định, hiệp nhất nhưng không đồng nhất, trung thành với truyền thống và mở lòng đón nhận những điều mới mẻ, sống chiêm niệm vì các chị em có khả năng đưa thế giới đến trước mặt Chúa.

Nguyện xin Đức Mẹ Maria, được cầu khẩn qua Kinh Mân Côi, dạy bạn nhận ra công việc vô hình của Chúa mỗi ngày và, nhờ ơn Mẹ, rắc dầu an ủi và rượu hy vọng lên những vết thương của nhân loại trong thời đại chúng ta.


Source:Catholic World News



4. Người sáng lập Học viện Ngôi Lời Nhập Thể bị kết tội lạm dụng

Tòa án Hình sự Sơ thẩm và Tòa án Phúc thẩm đã đi đến kết luận "chắc chắn về mặt đạo đức" về tội lỗi của cố linh mục người Á Căn Đình Carlos Miguel Buela đối với các hành vi cấu thành "tội phạm điều răn thứ sáu, được thực hiện bằng bạo lực đối với nhiều người."

Các tòa án giáo hội đã xác định chắc chắn tội lỗi của vị linh mục người Á Căn Đình quá cố - người đã qua đời tại Genoa năm 2023 - và là người sáng lập Viện Ngôi Lời Nhập Thể, gọi tắt là IVE và Tôi Tớ Chúa và Đức Trinh Nữ Matará, gọi tắt là SSVM, về nhiều tội danh vi phạm điều 1395 § 2 của Bộ Giáo luật, liên quan đến các tội phạm về đạo đức tình dục.

Sự chắc chắn về mặt đạo đức

Cả Tòa án Hình sự Đặc biệt Sơ thẩm và Tòa án Phúc thẩm đều đạt được "sự chắc chắn về mặt đạo đức" liên quan đến trách nhiệm của vị linh mục.

Quyết định này được công bố vào thứ Ba trong một tuyên bố có chữ ký của Sơ Simona Brambilla, Bộ Trưởng Bộ các Dòng Tu, Đời sống Thánh hiến và Hiệp Hội đời sống Tông đồ, Giám mục José Antonio Satué Huerto của Málaga và Sơ Clara Echarte.

Hai người sau là các đại diện của Đức Giáo Hoàng được bổ nhiệm vào Tháng Giêng năm 2025 để đồng hành cùng hai viện dòng—Giám mục Satué cho nhánh nam và Sơ Echarte cho nhánh nữ—của dòng tu được thành lập tại Á Căn Đình vào những năm 1980 bởi Cha Buela.

Được thành lập tại Giáo phận San Rafael ở Á Căn Đình, hai viện trực thuộc giáo phận này có trụ sở chính tại Giáo phận Velletri-Segni ở Ý. Qua nhiều năm, chúng đã lan rộng đến hơn 25 quốc gia trên năm châu lục.

Quyết định đã được thông báo cho cấp trên.

Việc xác nhận trách nhiệm hình sự của vị linh mục nổi tiếng ở Mỹ Latinh, người đã bị khoảng hai mươi chủng sinh tố cáo lạm dụng tình dục từ những năm 2000, đánh dấu sự kết thúc của các thủ tục tố tụng ở hai cấp độ trong hệ thống tư pháp của Giáo hội.

Hai vị đại diện của tòa thánh đã chính thức thông báo quyết định này cho các bề trên tỉnh của cả hai viện trong một cuộc họp tại Rôma vào ngày 14 tháng 9, với sự tham dự của các quan chức từ Bộ các Viện Đời sống Thánh hiến.

Công lý, minh bạch và đổi mới

Phán quyết này là một hành động đòi lại công bằng cho các nạn nhân, đồng thời là một hành động minh bạch và là động lực thúc đẩy cải cách và đổi mới.

Thông cáo nêu rõ rằng "việc làm rõ này nhằm mục đích giúp thiết lập lại sự thật, như một hành động công lý đối với những người đã chịu tổn hại do hành vi của linh mục Carlos Miguel Buela gây ra, cũng như để bảo đảm rằng các thành viên của cả hai Viện đều được thông báo đầy đủ và hỗ trợ quá trình xem xét lại đặc sủng và xem xét, đổi mới và thanh lọc linh đạo, sự đào tạo và hoạt động tông đồ đặc thù của mỗi Viện, phân biệt giữa ơn ban của Chúa Thánh Thần được ban cho để xây dựng Giáo hội và những hạn chế hoặc hành vi cá nhân của Đấng Sáng lập."

Từ khi thành lập, Tòa Thánh đã đặc biệt quan tâm đến các hoạt động của hai viện này.

Đặc biệt, Hồng Y Santos Abril y Castellò đã đảm nhận nhiệm vụ tế nhị là làm ủy viên tòa thánh của Viện Nhập Thể dành cho nam giới, sau những vấn đề nội bộ nghiêm trọng liên quan đến việc quản trị và những cáo buộc lạm dụng quyền lực và lạm dụng tình dục đối với người sáng lập.

Sau khi gặp phải nhiều khó khăn đáng kể, mà ngài cũng đã mô tả trong một bức thư gửi các thành viên IVE năm 2023, Hồng Y người Tây Ban Nha đã kết thúc nhiệm kỳ của mình vào năm 2025 với việc bổ nhiệm hai đại diện của Đức Giáo Hoàng.

Trong hơn một năm rưỡi qua, họ đã đồng hành cùng hai viện dòng trong các vấn đề về đào tạo, kỷ luật tôn giáo, hoạt động tông đồ và quản trị.


Source:Vatican News



5. Tiến sĩ George Weigel: Tòa thánh và nước Nga

Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề "The Vatican and Russia", nghĩa là "Tòa Thánh và Nga".

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Đức Tổng Giám Mục Paul Gallagher, "Ngoại trưởng" của Tòa Thánh (theo chức danh chính thức là Bộ Trưởng phụ trách quan hệ với các dân nước và tổ chức quốc tế), đã đến thăm Mạc Tư Khoa từ ngày 24 đến 28 tháng 8, gặp gỡ các quan chức cao cấp của chính quyền Putin và Giáo hội Chính thống Nga. Phản ứng về chuyến thăm này rất trái chiều.

Một người bạn Mỹ gốc Ukraine, lúc đó đang ở Ukraine, cảm thấy chuyến thăm này "kỳ lạ" - có lẽ vì người Nga đã đánh dấu nhiệm vụ ngoại giao của Đức Tổng Giám Mục không phải bằng bất kỳ cử chỉ hòa bình nào, mà bằng cách tăng cường các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa tàn bạo nhằm vào các mục tiêu dân sự ở Kyiv và các thành phố khác của Ukraine.

Nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Ukraine nghi lễ Đông phương, Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk (người mà người Nga định ám sát nếu cuộc tấn công chớp nhoáng vào Kyiv hồi tháng 2 năm 2022 thành công), hoan nghênh lời kêu gọi đàm phán của Đức Tổng Giám Mục Gallagher nhằm chấm dứt sự xâm lược của Nga, đồng thời mô tả chuyến thăm này giống như "một cuộc xuống địa ngục, khi một bài giảng về sự phục sinh của người chết vang vọng từ tận đáy địa ngục."

Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov lạc quan hơn nhiều. Trong bài phát biểu sau cuộc gặp với Đức Tổng Giám Mục Gallagher, theo một bài báo của ACI Stampa, Lavrov "ghi nhận với sự hài lòng rằng, bất chấp những thay đổi sâu sắc đã diễn ra trong bối cảnh địa chính trị… quan hệ giữa Liên bang Nga và Vatican vẫn tiếp tục được đánh dấu bằng sự tin tưởng, tình hữu nghị và tính thực dụng." Lavrov cũng cho biết ông ta cảm ơn các đồng nghiệp tại Tòa Thánh "vì lập trường cân bằng của họ về tình hình ở Ukraine và các khu vực lân cận."

Lavrov là một kẻ nói dối lão luyện và tinh ranh, không nên tin ông ta ngay cả khi ông ta tuyên bố mặt trời sẽ mọc ở phía đông vào sáng mai. Tuy nhiên, cách lựa chọn từ ngữ của ông ta rất đáng chú ý, ít nhất là để cho thấy ông ta nghĩ mình có thể làm gì mà không bị trừng phạt trước mặt một quan chức cao cấp của Vatican.

Một "bối cảnh địa chính trị" đã thay đổi? Đó là cách nói giảm nhẹ chưa từng có khi mô tả cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của Nga chống lại Ukraine và cuộc chiến tranh hỗn hợp của nước này chống lại các đồng minh Âu Châu của Ukraine (cuối cùng đã được Bộ trưởng Nội vụ Đức thừa nhận vào đầu tháng 9). Và chuyện "thực dụng" là sao? Có phải Lavrov đang ám chỉ rằng nền ngoại giao của Tòa Thánh thiếu nguyên tắc hoặc thiếu nền tảng đạo đức?

Còn về "lập trường cân bằng của Vatican đối với tình hình ở Ukraine và các khu vực lân cận", thì đó lại là một lời xúc phạm ngầm khác, ngụ ý rằng Đức Tổng Giám Mục Gallagher, Hồng Y Pietro Parolin (Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh) và Đức Giáo Hoàng Lêô XIV không hiểu ai đã xâm lược ai vào tháng 2 năm 2022, và với mục đích gì.

Đôi khi, nền ngoại giao Vatican phải chịu đựng những lời nói dối trắng trợn như vậy để đạt được các mục tiêu nhân đạo, chẳng hạn như việc thả tù binh chiến tranh hoặc trả tự do cho trẻ em Ukraine bị Nga bắt cóc. Tuy nhiên, sẽ phải trả giá cho sự nhẫn nhịn đó nếu những lời nói dối không bị phản bác mãi mãi.

Đức Tổng Giám Mục Gallagher cũng đã gặp gỡ Tổng Giám Mục Antonij của Volokolamsk, người phụ trách "quan hệ đối ngoại" (bao gồm cả đại kết và quan hệ quốc tế) của Giáo hội Chính thống Nga. Trong một cuộc phỏng vấn với Vatican News sau chuyến thăm Nga, Đức Tổng Giám Mục Gallagher cho biết "có một mối quan hệ rất thân ái, huynh đệ" giữa "Đức Tổng Giám Mục Antonij và Tòa Thánh". Đức Tổng Giám Mục thừa nhận rằng "vẫn còn những quan điểm khác nhau về một số vấn đề ", đặc biệt là về tình hình quốc tế, "nhưng đồng thời chúng tôi tìm cách khuyến khích lẫn nhau noi theo con đường Tin Mừng", vì vậy nhìn chung, đó là một cuộc gặp gỡ rất đáng khích lệ.

Hai tuần rưỡi trước chuyến đi của phái đoàn Gallagher đến Mạc Tư Khoa, tôi đã đăng một bài báo có nhan đề "Houses of Worship" hay "Các Ngôi Nhà Phượng Tự" trên tờ Wall Street Journal, suy ngẫm về một cuốn sách mới của Thượng phụ Kirill, nhà lãnh đạo Giáo hội Chính thống Nga. Trong cuốn sách của mình, Kirill đã biện hộ cho cuộc chiến của Putin chống lại Ukraine bằng những lời lẽ chỉ có thể gọi là dị giáo và báng bổ — đó không chỉ là quan điểm của tôi, mà còn là của Đức Thượng Phụ Đại Kết Bácthôlômêô của Constantinople, nhà lãnh đạo trong giới lãnh đạo Chính thống giáo Đông phương. Và trong bài báo đó, tôi đã chỉ ra điều hiển nhiên: khi giao dịch với Kirill, các quan chức Vatican không đang giao dịch với một nhà lãnh đạo tôn giáo mà là với một tên bù nhìn của Điện Cẩm Linh, người đã đặt Giáo hội của mình dưới quyền lực nhà nước Nga và phản bội Phúc Âm trong quá trình đó.

Dường như rất khó có khả năng Tổng Giám Mục Antonij, người có được vị trí nhờ Kirill, lại có tư tưởng khác với Thượng phụ. Vậy thì làm thế nào mà một "mối quan hệ thân ái, huynh đệ" lại có thể tồn tại trong hoàn cảnh đó? Phải chăng chính đề xuất đó càng làm trì hoãn thời điểm mà một cuộc đối thoại thần học đại kết nghiêm chỉnh với Chính thống giáo Nga có thể diễn ra?

Thế giới ngày nay đang rất cần một sự lãnh đạo đạo đức nghiêm chỉnh: một sự lãnh đạo vượt lên trên "chủ nghĩa thực dụng" và dám nói lên sự thật trước quyền lực. Sức mạnh của sự làm chứng đạo đức đó là sức mạnh thực sự duy nhất mà Tòa Thánh có trong chính trị thế giới. Tư duy của Giáo hội Rôma về ngoại giao của Vatican nên bắt đầu từ thực tế đó, và không ở đâu khác.


Source:National Catholic Register