Hồi tâm là nhìn lại một câu đối đáp, một sự kiện, một biến cố, hành động đã đi qua trong ngày, trong tuần, trong tháng, trong năm hoặc ngay cả trong đời. Người ta thường nói thời gian là liều thuốc tốt nhất có khả năng tẩy xoá quá khứ. Điều này chính xác với sự kiện thông thường, nhỏ nhặt. Chúng làm buồn phiền ta trong chốc lát, hoặc một thời gian ngắn rồi nhạt dần, tan biến hay lắng đọng. Với biến cố không thể quên, nó lên giường chung với ta, luẩn quẩn trong đầu xuất hiện đi, tái diễn lại thì thời gian khó xoá mờ. Nó làm ta mất ngủ, mất thời giờ suy nghĩ và dường như mỗi lần xuất hiện nó lớn hơn một chút. Phải mất một thời gian dài trước khi nó tạm ngủ yên trong tầm thức, và khi có cơ hội nó sẵn sàng bùng chỗi dậy cách mạnh mẽ. Đây là điều nguy hiểm bởi nó vừa làm ta đau lòng, vừa tàn phá tình liên đới. Rõ ràng thời gian không thể xoá nhoà và tình thân khó hàn gắn. Hồi tâm, phản tỉnh là liều thuốc cần có để chữa trị loại tâm bệnh này. Hồi tâm không những giải quyết tận gốc tâm bệnh mà với người có niềm tin thì hồi tâm còn dẫn đến giao hoà, nối lại tình xưa.
Hồi tâm khác với hồi tưởng hay nhìn lại. Hồi tâm với mục đích sửa sai dẫn đến chấp nhận trách nhiệm để đổi mới, thống hối, giao hoà. Hồi tưởng không dẫn đến thống hối, giao hoà mà đôi khi còn tạo cho hố ngăn cách xa hơn, mối hận sâu đậm hơn. Hồi tâm dẫn đến chấp nhận mình sai lầm, cần sửa đổi bằng cách lãnh nhận trách nhiệm đã xảy. Hồi tâm chính là khiêm nhường nhìn nhận mình yếu đuối, sai và mong hoà giải. Trái lại, hồi tưởng thường dẫn đến sự kiện nhìn thấy sai lầm của người khác mà không nhìn nhận sai lầm cá nhân. Hồi tưởng dẫn đến tự biện hộ, bào chữa cho hành động đã qua. Hồi tưởng thường lí luận nếu tôi có sai thì cũng tại người ta làm vì thế tôi không cần phải thay đổi, hoà giải trừ khi phía bên kia hạ mình xin tha thứ. Cả hồi tâm lẫn hồi tưởng đều nhìn vào bên trong nhưng hồi tâm là hành động khiêm nhường, nhìn nhận sai lầm, yếu đuối và cầu mong đổi mới; hồi tưởng nhớ lại để tự hào, hãnh diện. Hồi tâm dẫn đến tiến bộ trên đường nhân đức; hồi tưởng dẫn đến kiêu hãnh và càng lún sâu vào con đường tự khen, tự ca tụng, tự mãn.
Đây chính là hai cách hành xử khác biệt trong dụ ngôn. Dụ ngôn bắt đầu bằng việc người cha đối xử bình đẳng với hai cá nhân. Đến phần cuối, dụ ngôn lại kết bằng cách hành xử của hai nhóm người, thu thuế, gái điếm và Thượng Tế và kỳ mục trong dân.
Người cha dùng cùng câu nói với hai con
Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho. Mt 21: 28
Bài đọc không nêu tên người con cho biết dụ ngôn dùng chung cho đại chúng. Người con thứ nhất thẳng thừng từ chối lời cha; người con thứ hai mau mắn nhận lời. Người con thứ nhất từ chối ‘con không đi’. Sau đó anh hồi tâm, nghĩ lại, nhận mình sai lầm và âm thầm đi làm theo í cha. Câu trả lời cho biết rất có thể lúc đó anh nhanh nhẩn lỡ lời và sau đó hối hận. Cũng có thể lúc đó anh coi í anh quan trọng nhưng sau khi hồi tâm, biết sai và sửa sai bằng cách coi trọng, thực hành í cha và từ bỏ í riêng. Điều này cho thấy anh thống hối bằng cách từ bỏ í riêng mình để thực hiện í cha anh. Người con thứ hai hứa với cha là sẽ đi nhưng sau đó không thực hiện lời hứa. Có lẽ ngay khi đưa ra lời hứa, ‘Thưa Ngài, con đây’ trong thâm tâm anh có í định làm vui lòng cha trước mặt nhưng sau lưng anh sẽ không thực hành diều cha anh mong đợi. Anh đáp ‘Thưa Ngài, con đây’ mà không đáp ‘thưa cha, con đây’. Hai chữ ‘Thưa Ngài’ cho thấy có điều gì đó bất thường trong mối liên hệ cha con, bởi nó không thể hiện rõ tấm lòng anh dành cho cha. ‘Thưa Ngài’ là cách gia nhân thưa cùng chủ. Nếu thế thì rõ ràng tình cảm anh dành cho cha không phải là mối liên hệ huyết thống, gia tộc mà là mối liên hệ giữa chủ nhân và gia nhân.
Dụ ngôn cho thấy cả hai người con đều làm phiền lòng cha. Người con thứ nhất làm phiền lòng cha bằng ngôn từ, cách anh đối đáp nhưng sau đó nghĩ lại, thống hối làm vui lòng cha, thực hiện lời cha. Tận trong cõi lòng của anh chân thành, thực sự quí mên cha mình. Người con thứ hai làm vui lòng cha bằng lời ngon ngọt, nhẹ nhàng, nghe lọt tai. Anh yêu quí cha bề ngoài, ngoài giảo hoạt môi miệng; tận sâu trong cõi lòng tình nghĩa cha con lại mờ nhạt.
Dụ ngôn cho biết sai lầm trong cách xử thế là điều khó tránh. Nhận lỗi, chấp nhận sai lầm, sửa sai là điều quan trọng bởi đây là hành động khiêm nhường dẫn đến thống hối và xin ơn thứ tha. Dụ ngôn còn nhấn mạnh lòng nhân ái của cha. Người cha nhân ái không trách phạt, nóng giận, kết án, sửa phạt khi con sai lầm, phạm lỗi, làm phiền lòng. Ông nhẫn nại, chờ đợi cho người con hồi tâm trở về.
Xin ơn thứ tha.
Hồi tâm khác với hồi tưởng hay nhìn lại. Hồi tâm với mục đích sửa sai dẫn đến chấp nhận trách nhiệm để đổi mới, thống hối, giao hoà. Hồi tưởng không dẫn đến thống hối, giao hoà mà đôi khi còn tạo cho hố ngăn cách xa hơn, mối hận sâu đậm hơn. Hồi tâm dẫn đến chấp nhận mình sai lầm, cần sửa đổi bằng cách lãnh nhận trách nhiệm đã xảy. Hồi tâm chính là khiêm nhường nhìn nhận mình yếu đuối, sai và mong hoà giải. Trái lại, hồi tưởng thường dẫn đến sự kiện nhìn thấy sai lầm của người khác mà không nhìn nhận sai lầm cá nhân. Hồi tưởng dẫn đến tự biện hộ, bào chữa cho hành động đã qua. Hồi tưởng thường lí luận nếu tôi có sai thì cũng tại người ta làm vì thế tôi không cần phải thay đổi, hoà giải trừ khi phía bên kia hạ mình xin tha thứ. Cả hồi tâm lẫn hồi tưởng đều nhìn vào bên trong nhưng hồi tâm là hành động khiêm nhường, nhìn nhận sai lầm, yếu đuối và cầu mong đổi mới; hồi tưởng nhớ lại để tự hào, hãnh diện. Hồi tâm dẫn đến tiến bộ trên đường nhân đức; hồi tưởng dẫn đến kiêu hãnh và càng lún sâu vào con đường tự khen, tự ca tụng, tự mãn.
Đây chính là hai cách hành xử khác biệt trong dụ ngôn. Dụ ngôn bắt đầu bằng việc người cha đối xử bình đẳng với hai cá nhân. Đến phần cuối, dụ ngôn lại kết bằng cách hành xử của hai nhóm người, thu thuế, gái điếm và Thượng Tế và kỳ mục trong dân.
Người cha dùng cùng câu nói với hai con
Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho. Mt 21: 28
Bài đọc không nêu tên người con cho biết dụ ngôn dùng chung cho đại chúng. Người con thứ nhất thẳng thừng từ chối lời cha; người con thứ hai mau mắn nhận lời. Người con thứ nhất từ chối ‘con không đi’. Sau đó anh hồi tâm, nghĩ lại, nhận mình sai lầm và âm thầm đi làm theo í cha. Câu trả lời cho biết rất có thể lúc đó anh nhanh nhẩn lỡ lời và sau đó hối hận. Cũng có thể lúc đó anh coi í anh quan trọng nhưng sau khi hồi tâm, biết sai và sửa sai bằng cách coi trọng, thực hành í cha và từ bỏ í riêng. Điều này cho thấy anh thống hối bằng cách từ bỏ í riêng mình để thực hiện í cha anh. Người con thứ hai hứa với cha là sẽ đi nhưng sau đó không thực hiện lời hứa. Có lẽ ngay khi đưa ra lời hứa, ‘Thưa Ngài, con đây’ trong thâm tâm anh có í định làm vui lòng cha trước mặt nhưng sau lưng anh sẽ không thực hành diều cha anh mong đợi. Anh đáp ‘Thưa Ngài, con đây’ mà không đáp ‘thưa cha, con đây’. Hai chữ ‘Thưa Ngài’ cho thấy có điều gì đó bất thường trong mối liên hệ cha con, bởi nó không thể hiện rõ tấm lòng anh dành cho cha. ‘Thưa Ngài’ là cách gia nhân thưa cùng chủ. Nếu thế thì rõ ràng tình cảm anh dành cho cha không phải là mối liên hệ huyết thống, gia tộc mà là mối liên hệ giữa chủ nhân và gia nhân.
Dụ ngôn cho thấy cả hai người con đều làm phiền lòng cha. Người con thứ nhất làm phiền lòng cha bằng ngôn từ, cách anh đối đáp nhưng sau đó nghĩ lại, thống hối làm vui lòng cha, thực hiện lời cha. Tận trong cõi lòng của anh chân thành, thực sự quí mên cha mình. Người con thứ hai làm vui lòng cha bằng lời ngon ngọt, nhẹ nhàng, nghe lọt tai. Anh yêu quí cha bề ngoài, ngoài giảo hoạt môi miệng; tận sâu trong cõi lòng tình nghĩa cha con lại mờ nhạt.
Dụ ngôn cho biết sai lầm trong cách xử thế là điều khó tránh. Nhận lỗi, chấp nhận sai lầm, sửa sai là điều quan trọng bởi đây là hành động khiêm nhường dẫn đến thống hối và xin ơn thứ tha. Dụ ngôn còn nhấn mạnh lòng nhân ái của cha. Người cha nhân ái không trách phạt, nóng giận, kết án, sửa phạt khi con sai lầm, phạm lỗi, làm phiền lòng. Ông nhẫn nại, chờ đợi cho người con hồi tâm trở về.
Xin ơn thứ tha.