Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ (ảnh: Mehaniq / Shutterstock)


Tuyên ngôn Độc lập đánh dấu sự khởi đầu của tự do Công Giáo tại các vùng nói tiếng Anh ở Bắc Mỹ.

Trên đây là nhận định của Jerome C. Foss đăng trên bản tin ngày 31 tháng 7 năm 2026 của tạp chí National Catholic Register. Ông cho rằng: Người Công Giáo Mỹ có hai lý do chính đáng để kỷ niệm 250 năm Tuyên ngôn Độc lập năm nay.

Lý do đầu tiên chúng ta chia sẻ với tất cả những người Mỹ yêu nước và được Abraham Lincoln diễn đạt rõ ràng nhất tại Gettysburg khi ông ca ngợi quốc gia của chúng ta vì được “hình thành trong tự do và cống hiến cho nguyên tắc rằng tất cả mọi người đều được tạo ra bình đẳng”.

Chúng ta cùng với các công dân khác cống hiến cho nền cộng hòa tự do vĩ đại này, nơi phẩm giá của tất cả mọi người được tôn trọng trong các nguyên tắc của chúng ta và được thực hiện, mặc dù đôi khi hơi chậm, trong thực tiễn.

Lý do thứ hai là Tuyên ngôn Độc lập đánh dấu sự khởi đầu của tự do thực hành đức tin Công Giáo tại các vùng nói tiếng Anh ở Bắc Mỹ. Ngày 4 tháng 7 không chỉ là Ngày Độc lập mà còn là Ngày Tự do Công Giáo.

Người Công Giáo Mỹ đã quên mất nhiều điều về lịch sử của họ. Họ quên rằng việc thực hành đức tin Công Giáo là bất hợp pháp ở 13 thuộc địa ban đầu. Ngoại trừ sự hiện diện của dòng Tên ở Philadelphia, các nhà thờ, tu viện và trường học Công Giáo hầu như không tồn tại. Không có giám mục nào giảng dạy cho các tín hữu. Những linh mục hiện có hầu hết đều sống ẩn dật. Họ cử hành Thánh lễ trong các nhà riêng và đi những quãng đường dài để ban các bí tích cho những tín hữu rải rác, tập trung ở Maryland và Pennsylvania, chỉ chiếm 1% tổng dân số thuộc địa vào buổi bình minh của Cách mạng.

Chúng ta thường liên tưởng tự do tôn giáo ở Mỹ với những người hành hương định cư ở New England vào những năm 1620. Nhưng những người Thanh giáo này chỉ nghĩ đến tự do cho chính họ. Không vùng nào của thuộc địa Mỹ lại chống Công Giáo hơn New England, nơi các linh mục có thể bị trừng phạt chỉ vì xuất hiện. Ví dụ, một đạo luật năm 1647 của Massachusetts đã trừng phạt các linh mục Công Giáo dám vào thuộc địa. Lần phạm tội đầu tiên là trục xuất; lần thứ hai là tử hình.

Hầu hết người Công Giáo ở thuộc địa Mỹ đều bị tước quyền bầu cử và bị cấm nắm giữ các chức vụ công. Họ không thể tham gia đầy đủ với tư cách là thành viên bình đẳng trong cộng đồng địa phương của mình. Tuy nhiên, những cơ hội kinh tế của vùng đất mới này có thể đã thu hút nhiều người Công Giáo hơn nếu việc nhập cư của họ không bị cản trở bởi các yêu cầu phải tuyên thệ, những lời tuyên thệ được cố tình soạn thảo để biến những người Công Giáo trung thành thành những kẻ bội giáo. Thông điệp rất rõ ràng: Nếu bạn muốn sống ở Mỹ, tốt hơn hết bạn nên thừa nhận Vua Anh là cha tinh thần của mình.

Trong một thời gian, Maryland dường như là một nơi trú ẩn an toàn cho những người Công Giáo nói tiếng Anh. Đạo luật Khoan dung Maryland năm 1649 có vẻ là một bước đi đúng hướng. Nó cố gắng đặt nền tảng pháp lý cho một đời sống công cộng hợp tác giữa người Công Giáo và người Tin lành. Nhưng thật không may, cuộc thử nghiệm này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Trong vòng vài thập niên, tình hình ở Maryland trở nên tồi tệ gần như bất kỳ thuộc địa nào khác của Anh. Tuy nhiên, vì một số người Công Giáo đã chuyển đến Maryland khi mọi thứ có vẻ đầy hứa hẹn, một đời sống Công Giáo nhỏ nhưng riêng biệt vẫn tồn tại trong bóng tối. Những gia đình khá giả đã gửi con trai mình đến các trường Công Giáo ở châu Âu, nơi họ được hưởng nền giáo dục chính quy tốt nhất có thể tìm thấy ở bất cứ đâu.

Gia đình Carroll là một gia đình như vậy. Họ đã gửi các con trai mình đến trường Saint Omer, một trường dòng Tên ở miền bắc nước Pháp dành cho người Công Giáo Anh. Charles Carroll trở về nhà từ ngôi trường danh tiếng này với khả năng nói nhiều thứ tiếng và am hiểu những tư tưởng vĩ đại của nền văn minh từ Hy Lạp cổ đại đến châu Âu hiện đại.

Khi căng thẳng giữa các thuộc địa và Anh gia tăng, Charles nổi lên như một trong những nhân vật hàng đầu của Maryland trong vấn đề chính trị lớn thời bấy giờ. Năm 1776, Maryland và Quốc hội Lục địa cho phép ông làm đại biểu bỏ phiếu của thuộc địa. Tầm quan trọng của một người Công Giáo phục vụ trong một vị trí chính trị quan trọng như vậy đã bị đánh giá thấp trong những câu chuyện kể về sự thành lập nước Mỹ.

Sự tham gia của Carroll vào các cuộc tranh luận dẫn đến Tuyên ngôn Độc lập là vô cùng quan trọng và đã định hình nên quốc gia mới này, “được thai nghén trong tự do”, nơi tất cả mọi người – kể cả người Công Giáo – thực sự bình đẳng.

Hai người anh em họ của Charles Carroll là John và Daniel cũng theo học tại trường Cao đẳng Saint Omer. John gia nhập dòng Tên. Mặc dù ông dự định sống trọn đời ở châu Âu, nhưng định mệnh đã đưa ông trở lại Maryland đúng lúc cuộc Cách mạng Mỹ nổ ra. Ông tham gia một phái đoàn ngoại giao đến Canada cùng với Benjamin Franklin, một người trước đây có cái nhìn thấp kém về người Công Giáo. John đã làm rất nhiều để thay đổi suy nghĩ của Franklin. Sau này, với tư cách là giám mục đầu tiên ở Hoa Kỳ, John tiếp tục thay đổi suy nghĩ của nhiều người khi ông xây dựng Giáo hội.

Về phần Daniel Carroll, Ông trở thành một chính trị gia hàng đầu ở Maryland và đại diện cho tiểu bang của mình tại Hội nghị Lập hiến năm 1787. Văn kiện ra đời từ hội nghị trọng đại đó đã cấm những lời thề tôn giáo hẹp hòi trước đây được sử dụng để loại trừ người Công Giáo khỏi chính trị. Sau này, Daniel phục vụ trong Quốc hội và giúp James Madison bảo vệ ngôn ngữ của điều khoản sau này trở thành Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp. Đến năm 1791, quyền tự do của người Công Giáo được coi là điều hiển nhiên theo luật pháp của đất nước, một sự thay đổi đáng kể so với tình hình trước khi Tuyên ngôn Độc lập được ban hành.

Tất cả người Mỹ nên dành năm kỷ niệm 250 năm này để ăn mừng nền cộng hòa của chúng ta. Tuy nhiên, người Công Giáo Mỹ có thêm một lý do để ăn mừng. 250 năm qua đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của Giáo hội ở Mỹ. Chúng ta nên tự hào khi cùng Charles Carroll cam kết cống hiến cuộc sống, tài sản và danh dự thiêng liêng của mình cho các nguyên tắc chính trị đã cung cấp, “với sự tin tưởng vững chắc vào sự quan phòng của Chúa”, mảnh đất màu mỡ cho công việc của Chúa Thánh Thần — tinh thần đích thực của năm 1776.