Ảnh dàn dựng cho thấy một người phụ nữ mặc áo lễ màu xanh lá cây đang nói chuyện với các thành viên nhà thờ. (Ảnh: Unsplash)


Giải quyết cuộc tranh luận về việc phong chức cho phụ nữ đòi hỏi Giáo hội phải giải quyết các câu hỏi cốt lõi về công lý, phẩm giá và thần học với cùng sự rõ ràng sâu sắc mà Giáo hội đã mang đến cho các cuộc tranh cãi giáo lý lịch sử.

Cha William C. Graham (*), trong mục Global Catholic của UCANews, ngày 30 tháng 7 năm 2026, đã có nhận định như trên. Cha viết:

Trong hơn năm mươi năm làm linh mục, tôi đã ban Thánh Thể cho vô số người mà tôi chưa bao giờ cố gắng đếm, mỗi lần đều nói, “Mình Thánh Chúa Kitô.” Tôi không nhớ bất cứ người rước lễ nào ở bất cứ đâu, khi đáp lại “Amen,” lại có vẻ như muốn nói “Tôi không chắc lắm,” hoặc “Tôi có thể có chút thời gian để suy nghĩ về điều đó không?”

Ngay cả những người Công Giáo không thể đánh vần từ "anamnesis [kinh hồi niệm, ngay sau Truyền phép]" hoặc giải thích sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể một cách chính xác về mặt thần học, cũng thể hiện qua tư thế, thái độ và lòng tôn kính của họ rằng Chúa Kitô hiện diện trong cuộc gặp gỡ Thánh Thể và trong bánh và rượu đã được thánh hiến.

Những thành viên đầu tiên của Đạo đã cử hành Thánh Thể vì Chúa Giêsu phán: “Hãy làm điều này để tưởng nhớ đến Ta” (Lc 22:19), và họ “nhận ra Người trong việc bẻ bánh” (Lc 24:35).

Nhưng trong sự bình yên đó, đã xuất hiện những người như Radbertus và Ratmanus, hai đan sĩ thế kỷ thứ 9, những người đã tạo ra cuộc tranh luận về Thánh Thể khi họ tranh luận về sự hiện diện của Chúa Kitô trên bàn thờ. Cuộc tranh luận tiếp tục và, vào năm 1215, giáo lý về sự biến đổi bản thể đã được định nghĩa tại Công đồng Lateran IV.

Dường như chín thế kỷ về sự hiện diện và thực hành Thánh Thể đã được tiếp nối mà không cần đến các thuật ngữ và sách vở, nhưng khi câu hỏi “Điều này xảy ra như thế nào?” được đặt ra, và sau đó được giải đáp về mặt thần học, cuộc sống và việc bẻ bánh vẫn tiếp tục.

Một sự việc gây tranh cãi tương tự đã xảy ra trước đó, khi A-ri-ô, một linh mục thế kỷ thứ tư, viết rằng Thiên Chúa Cha không có ai sánh bằng, và Chúa Kitô không “ngang bằng cũng không đồng bản thể với” Thiên Chúa Cha.

Công đồng Ni-xê-a năm 325 đã giải quyết các câu hỏi và tuyên bố rằng Chúa Kitô đồng bản thể với Thiên Chúa Cha và là cả Thiên Chúa thật và là người thật. Các Giáo hội tuyên tín khẳng định niềm tin đó vào Chúa nhật này qua Chúa nhật khác trong Thánh lễ mà không có sự xáo trộn hay tranh cãi nào.

Các cuộc tranh cãi và các Công đồng dường như đều cho thấy rằng một số vấn đề hoặc thực hành trong Giáo hội vẫn tiếp diễn mà không cần định nghĩa rõ ràng hoặc tuyên bố giáo lý cho đến khi con người và sự kiện đòi hỏi cả sự xem xét và giải thích.

Một tình huống tương tự đã nổi lên khi người Công Giáo tiếp tục quan tâm và tranh luận về việc ai có thể hoặc nên được gọi vào chức thánh.

Nhu cầu phân định

Bài viết trên Commonweal (ngày 10 tháng 2 năm 2026), Paul Baumann bày tỏ quan điểm: “Tôi nghĩ có thể thừa nhận nhu cầu phụ nữ cần có quyền quyết định thực sự trong Giáo hội trong khi vẫn nghi ngờ liệu việc phong chức có phù hợp với thần học và thực hành bí tích của Giáo hội cũng như sự tự nhận thức lịch sử của Giáo hội hay không.”

Ông tiếp tục: “Giống như nhiều người Công Giáo Mỹ khác, ban đầu tôi chắc chắn rằng việc từ chối phong chức cho phụ nữ là một chút chủ nghĩa tổ phụ lỗi thời, điều cần phải nhường chỗ cho sự nhấn mạnh tự do vào tính bình đẳng của các phái tính. Nhưng giờ tôi không còn chắc chắn đó là vấn đề thực sự, một sự nghi ngờ khiến tôi bất đồng với nhiều người mà tôi tôn trọng ý kiến của họ.”

Các độc giả đã phản hồi (ngày 19 tháng 3 năm 2026), một số người cho rằng lập luận của ông không thuyết phục, và một người gọi đó là “lãng phí thời gian.” Trong thư trả lời các ý kiến của họ, Baumann viết: “Tôi rất tôn trọng những người tin rằng việc phong chức phó tế hoặc linh mục cho phụ nữ là điều đúng đắn, cả về mặt công lý lẫn sự phát triển hợp pháp của thực tiễn và giáo lý Giáo hội.”

Ông kết luận: “Theo tôi, khả năng Giáo hội phong chức phó tế hoặc linh mục cho phụ nữ là rất thấp. Tôi nghĩ rằng việc đề xuất một cách suy nghĩ khác về vấn đề này có thể hữu ích.”

Một trong những người đối thoại với ông, chỉ tự xưng là Cha Anne, viết thư từ Albuquerque, cho rằng việc không phong chức cho phụ nữ “là một vấn đề công lý làm méo mó đời sống bí tích của Giáo hội và làm tổn thương không chỉ phụ nữ mà cả toàn thể Thân Thể Chúa Kitô.” Có lẽ tuyên bố của bà ấy là điểm khởi đầu cho cuộc thảo luận, với nỗ lực mới nhằm làm rõ chính xác vấn đề đang được đặt ra là gì.

Có phải phụ nữ không quan trọng không?

Tôi nghĩ kế hoạch là hoặc xem xét thực hành và giáo huấn của Giáo hội phản ánh sự phát triển về thần học và mục vụ phù hợp với tư tưởng của Chúa Kitô, hoặc nếu không thể thay đổi thực hành hiện tại, thì đưa ra lời giải thích hợp lý, tôn trọng, rõ ràng và thuyết phục.

Mục tiêu là trình bày một giáo huấn mời gọi sự “phục tùng tôn giáo về tâm trí và ý chí” (Lumen gentium, 25).

Vì vậy, người ta có thể hỏi liệu lời kêu gọi thụ phong linh mục có phải là vấn đề công lý hay không. Vì nam và nữ đều là con cái của Thiên Chúa Tối Cao và do đó, họ có quyền được hưởng những cơ hội phục vụ như nhau trong Giáo hội?

Vấn đề này không thể chỉ đơn thuần là vấn đề quan điểm với sự đồng thuận bất đồng. Hoặc vấn đề là vấn đề công lý, hoặc không. Radbertus và Ratmanus không cùng đúng. A-ri-ô và A-tha-na-si-ô cũng vậy.

Bằng cách nào đó, không phải không cần nỗ lực phối hợp và nhiều đau khổ, Giáo hội hiệp nhất đã giải quyết những tranh chấp gay gắt đó và lại tiếp tục dưới sự soi dẫn của Thánh Linh, khi nghe Lời Chúa phán: “Các ngươi không xa vương quốc Thiên Chúa đâu” (Mc 12:34).

Có lẽ thậm chí còn có những câu hỏi cần được giải quyết trước đó: Có những khác biệt nào, ngoài sinh học, giữa nam và nữ không? Nếu có, đó là gì? Nếu có hoặc không, nam và nữ nên cư xử với nhau như thế nào trong nhà thờ và trong thị trấn, ở nhà và nơi làm việc?

Liệu những khác biệt giữa nam và nữ có phải là hời hợt hoặc không đáng kể không? Nếu vậy, thì việc tước đoạt quyền làm bất cứ điều gì mà đàn ông có thể làm hoặc trở thành bất cứ điều gì mà đàn ông có thể trở thành của một người phụ nữ chỉ dựa trên giới tính của cô ấy là bất công. Gần đây chúng ta mới phát hiện ra điều này đối với giáo dục, các ngành nghề khác nhau và quyền bầu cử.

Câu hỏi đặt ra trước Giáo hội

Nhưng nếu đàn ông và đàn bà, dù cả hai đều là con người trọn vẹn, lại có những khác biệt về yếu tính thì sao? Và liệu những khác biệt đó có ảnh hưởng đến cốt lõi của việc chúng ta là ai như những bản vị nhân bản, cả nam lẫn nữ? Nếu trong thân thể mình, chúng ta tượng trưng cho bản chất thần thiêng, nhưng lại làm thế theo những cách nam tính và nữ tính vốn khác nhau nhưng bổ sung cho nhau một cách yếu tính thì sao? Nếu vậy, thì sao?

Có thể một số người có xu hướng bác bỏ những câu hỏi như vậy vì chúng khó trả lời, đòi hỏi nhiều nỗ lực, hoặc cản trở những quan điểm mạnh mẽ về công lý. Tuy nhiên, những câu hỏi này sẽ không biến mất. Trên thực tế, việc giải quyết chúng có thể là hy vọng duy nhất cho một sự xem xét sâu sắc và một lời giải thích rõ ràng, được chấp nhận rộng rãi về cách chúng ta cùng chia sẻ đời sống bí tích của Giáo hội.

Phần lớn thế giới Công Giáo đã theo dõi với sự hào hứng khi những phụ nữ Mỹ theo đạo Tin lành đầu tiên được thụ phong linh mục một cách bất hợp pháp vào năm 1974, và việc thụ phong của họ được hợp thức hóa hai năm sau đó. Có lẽ chúng ta có thể đề xuất thời điểm đó là lúc các cuộc thảo luận của Giáo Hội Công Giáo về việc thụ phong linh mục cho phụ nữ trở nên phổ biến hơn.

Nếu cuộc đối thoại này đã không được tiến hành một cách nghiêm túc trong hơn năm mươi năm và được điểm xuất bằng thông điệp Ordinatio sacerdotalis năm 1994 của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, thì chúng ta vẫn chưa bằng thời gian cần thiết để diễn đạt hai bản tính của Chúa Kitô tại Công đồng Ni-xê-a hoặc để giải thích sự biến đổi bản thể tại Công đồng La-tê-ra-nô IV.

Phải có chỗ trong cuộc thảo luận cho sự đồng cảm giàu trí tưởng tượng, nhận ra rằng sự chênh lệch quyền lực khiến nhiều phụ nữ vô cùng khó chấp nhận cách đặt câu hỏi của những người đàn ông, những người được hưởng cơ hội độc quyền, duy nhất để phục vụ.

Vấn đề không chỉ đơn thuần là về ý tưởng, mà còn về tri nhận thứ bậc xếp hạng của việc thuộc về và phục vụ trong Thân Thể Chúa Kitô, đôi khi dường như tuân theo sinh học mà không xem xét đến khía cạnh thần học.

Cùng nhau tìm kiếm sự thật

Những người phụ nữ yêu mến Chúa Kitô và Giáo Hội, hiến dâng cuộc đời mình trong sự phục vụ yêu thương, đã thu hút sự chú ý của chúng ta đến sự kiện này là những câu hỏi của họ không chỉ đơn thuần là cảm xúc hay phản ứng tình cảm; nhiều người đưa ra những quan điểm được nghiên cứu tỉ mỉ và suy nghĩ cẩn thận, được hình thành từ nhiều năm nghiên cứu các sách Tin Mừng và chính Giáo Hội, cũng như sự tham gia phong phú và lâu dài vào việc cử hành mầu nhiệm Chúa Kitô giữa chúng ta.

Những xác tín được thần học hướng dẫn xứng đáng được đón nhận và đáp lại một cách nghiêm túc, không hời hợt hay coi thường. Chúng ta nên cẩn thận đừng bao giờ nói về những người mà chúng ta bất đồng quan điểm như A-tha-na-si-ô – có lẽ là một giai thoại – đã nói về những người phản đối ngài: “Ngay cả người bán thịt và người bán bánh mì cũng có ý kiến!”

Một Giáo Hội công chính sẽ nhận ra, đặt câu hỏi và đáp lại nỗi đau khi các cuộc thảo luận tiến triển. Không thể nào có chỗ cho sự thờ ơ trước nỗi đau khổ đó khi chúng ta tìm kiếm sự hiểu biết trọn vẹn hơn về tầm nhìn của Chúa Giê-su dành cho cuộc sống chung phục vụ của chúng ta khi chúng ta tiến bước trong đức tin.

Cuộc tranh luận gay gắt hiện nay chỉ thành công khi những người tham gia đồng ý về vấn đề đang được tranh luận và cuối cùng đạt được sự bình an dẫn đến sự phục tùng tự nguyện trong trí và trong lòng.

Nếu có chân lý mặc khải để giải quyết vấn đề (và ai có thể cho rằng Chúa Giê-su có thể đã bỏ qua một điều như vậy!), thì chúng ta vẫn chưa hiểu, giải thích và đồng ý.

Chúng ta còn niềm hy vọng. Khi chúng ta xác định được chân lý đó, Giáo hội sẽ chấp nhận nó như chúng ta chấp nhận tín điều và sự hiện diện của Thánh Thể. Nếu không có chân lý, và nếu chỉ có ý kiến, thì rắc rối của chúng ta sẽ gia tăng.

Cả những ý kiến cố hữu lẫn những lời phủ nhận coi thường đều không thể thắng thế. Có lẽ người hùng của chúng ta có thể là Boniface Wimmer, OSB, người đã đưa những tu sĩ dòng Benedictine đầu tiên đến Hoa Kỳ vào năm 1846.

Ông nổi tiếng với câu nói: “Tiến lên, luôn luôn tiến lên, tiến lên khắp mọi nơi! Chúng ta không được để bị kìm hãm bởi nợ nần, những năm tháng khó khăn, hay những thử thách của thời cuộc. Sự nghịch cảnh của con người chính là cơ hội của Thiên Chúa.”

____________________________________________________

(*) William C. Graham là một linh mục giáo phận, tác giả và nhà giáo dục đến từ miền bắc Minnesota, Hoa Kỳ. Ngài từng là giáo viên trung học, mục tử, giáo sư và giám đốc phụng vụ tại nhà thờ St. Paul the Apostle ở thành phố New York. Ngài đã sáng lập chương trình Thạc sĩ Nghệ thuật về Mục vụ tại Đại học Caldwell, chương trình Nghiên cứu Công Giáo tại Cao đẳng St. Scholastica, và chủ tịch Khoa Thần học và Nghiên cứu Tôn giáo tại Đại học Lewis. Ngài có bằng Tiến sĩ từ Đại học Fordham và đã viết hoặc biên tập nhiều sách và bài báo. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ngài, Beneath the Pond Scum, dự kiến sẽ được xuất bản vào năm 2026.