1. Quan điểm của Đức Hồng Y Müller khác với thông tư của Vatican về tính hợp lệ của các bí tích do SSPX cử hành.
Đức Hồng Y Gerhard Müller cho rằng các cuộc hôn nhân và Bí tích Hòa giải do SSPX cử hành sau khi bị vạ tuyệt thông là hợp lệ nhưng bất hợp pháp, dường như mâu thuẫn với bản giải thích gần đây của Bộ Giáo lý Đức tin, gọi tắt là DDF.
Trong một cuộc phỏng vấn bằng tiếng Đức với kênh K-TV vào ngày 6 tháng 7, Hồng Y Müller cho biết quyền tha tội hoặc giữ lại tội lỗi được ban qua bí tích Truyền chức thánh, và theo luật giáo hội, chỉ có giám mục hoặc Đức Giáo Hoàng mới có thể hạn chế quyền này.
Mặc dù ngài tuyên bố rằng người Công Giáo nên tránh việc mời các linh mục SSPX chứng hôn, nhưng lập trường của ngài dường như khác với bản giải thích gần đây của Vatican do DDF, đứng đầu là Hồng Y Fernández, công bố.
Văn bản này nêu rõ rằng các thừa tác viên có thánh chức của SSPX "thực hiện các bí tích một cách bất hợp pháp, và bí tích Hòa giải do họ cử hành cũng như các cuộc hôn nhân do họ chứng hôn đều không hợp lệ."
Đức Hồng Y Müller, người từng giữ chức Hồng Y tổng trưởng của Thánh Bộ Giáo lý Đức tin từ năm 2012 đến năm 2017, cho biết: "Trong trường hợp hôn nhân, điều đó khó khăn hơn một chút, bởi vì hôn nhân được thiết lập trước mặt Chúa bằng sự đồng thuận của vợ chồng."
Ngài tuyên bố rằng Giáo hội "cũng đã đưa ra nghĩa vụ chính thức vì những lý do rất chính đáng", tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định, có thể được miễn trừ khỏi các yêu cầu thông thường.
Ngài nói: "Những người ở Trung Quốc kết hôn và muốn trở thành người Công Giáo tốt nhưng không thể đến gặp linh mục để làm lễ mà không có nguy cơ bị bỏ tù: dĩ nhiên họ có thể kết hôn theo nguyện vọng của mình trước mặt Chúa, và cuộc hôn nhân đó là hợp lệ."
Tuy nhiên, trong trường hợp của SSPX, ngài kiên quyết khuyên không nên để các linh mục không hoàn toàn hiệp thông với Rôma cử hành hôn lễ "vì xét cho cùng, linh mục là người làm chứng đại diện cho Giáo hội."
"Không thể coi họ là đại diện cho Giáo hội vì họ không trong tình hiệp thông với Đức Giáo Hoàng," ngài nói.
Linh mục Davide Pagliarani, Bề trên Tổng quyền của Huynh Đoàn Thánh Piô X, đã phản ứng trước việc vạ tuyệt thông đối với Huynh Đoàn bằng cách gọi đó là "bất công và vô hiệu một cách khách quan".
Trong một bức thư gửi Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, ngài phủ nhận việc Huynh Đoàn này đang thay thế Giáo hội, khẳng định: "Về lương tâm, chúng tôi không tin rằng mình có thể trốn tránh bổn phận đạo đức đối với các linh hồn, như chúng tôi đã giải thích với Đức Thánh Cha, cả riêng tư và công khai."
Lễ tấn phong Giám Mục trái phép ngày 1 tháng 7 diễn ra sau những cảnh báo của Vatican rằng Huynh Đoàn sẽ tự động bị vạ tuyệt thông, là điều mà sau đó đã được Tòa Thánh chính thức công bố vào ngày 2 tháng 7.
Source:Catholic Herald
2. Hồng Y người Tây Ban Nha phủ nhận cáo buộc tấn công tình dục.
Đức Hồng Y Cristóbal López Romero, SDB, Tổng Giám Mục Rabat, đã thông báo trong một tuyên bố được phát hành ngày 8 tháng 7 rằng ngài tạm thời rút lui khỏi các hoạt động mục vụ công khai sau những cáo buộc về "hành vi không phù hợp đối với phụ nữ trưởng thành" và rằng ngài đang hợp tác với cuộc điều tra sơ bộ của Giáo hội.
Hãng thông tấn Pháp AFP dẫn lời Hồng Y López Romero nói: "Tôi không hề có hành vi hành hung, bạo lực hay quấy rối tình dục."
Hãng tin AFP đưa tin trong một cuộc điều tra rằng ít nhất năm phụ nữ đã cáo buộc ngài tấn công tình dục.
Trong thư, ngài viết: "Trong thời gian điều tra này, để không cản trở nó, tôi sẽ lùi lại một bước, không chủ trì bất kỳ buổi lễ công cộng nào và không can thiệp vào bất kỳ hoạt động mục vụ nào, và các bạn sẽ hiểu điều này."
"Sự việc này khiến tất cả chúng ta bàng hoàng. Với tư cách là Tổng Giám Mục, tôi hoàn toàn nhận thức được những khó khăn mà điều này gây ra và những câu hỏi chính đáng mà nó có thể đặt ra cho mọi người. Do đó, tôi muốn các thành viên trong cộng đồng giáo phận được thông báo ngay lập tức về điều này."
Đức Hồng Y López Romero cho biết, với tư cách là Đức Tổng Giám Mục, ngài "hoàn toàn nhận thức được những khó khăn mà điều này gây ra và những câu hỏi chính đáng mà nó có thể đặt ra cho mọi người".
Trong khi cuộc điều tra vẫn đang tiếp diễn, ngài đã kêu gọi mọi người cầu nguyện cho những người đang chịu ảnh hưởng từ tình hình này, cho Giáo hội và cho chính bản thân ngài.
"Giáo hội của giáo phận chúng ta vẫn sống động, chúng ta hãy tiếp tục, với lòng tin tưởng, nuôi dưỡng Giáo hội bằng hương vị của Tin Mừng," ngài nói.
"Chúng ta hãy giữ vững sự đoàn kết và để đời sống với Chúa Kitô chiến thắng và thúc đẩy chúng ta tiến lên, đó là điều quan trọng nhất."
Đức Hồng Y López Romero giữ chức Tổng Giám Mục Rabat, Morocco, từ năm 2018. Ngài được Đức Giáo Hoàng Phanxicô phong Hồng Y vào năm 2019.
Tổng giáo phận Rabat phục vụ khoảng 21.000 tín hữu Công Giáo, chiếm 0,1% dân số.
Source:Catholic Herald
3. Đức Tổng Giám Mục Gänswein: ‘Thời điểm đã chín muồi’ để dỡ bỏ các hạn chế đối với Thánh lễ Latinh truyền thống
Thư ký riêng lâu năm của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 cho rằng hiện nay có thể là thời điểm thích hợp để Đức Giáo Hoàng Lêô XIV dỡ bỏ các hạn chế đối với nghi lễ Rôma truyền thống.
Cựu nhà lãnh đạo phủ Giáo Hoàng, Đức Tổng Giám Mục Georg Gänswein, đã nói với Nico Spuntoni của nhật báo Il Giornale của Ý vào ngày 7 tháng 7 rằng ngài đã "đọc với sự quan tâm" lời kêu gọi của giám đốc Il Giornale về việc bãi bỏ các hạn chế đối với nghi thức trước cải cách mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã thiết lập vào năm 2021 bằng Tự Sắc Traditionis Custodes, và nói thêm rằng ngài hy vọng sẽ có một quyết định theo hướng dỡ bỏ Tự Sắc này.
Hiện đang giữ chức Sứ thần Tòa Thánh tại các nước Baltic, Đức Tổng Giám Mục Gänswein nhớ lại việc chứng kiến "nỗi đau trong lòng" của Đức Bênêđíctô XVI khi đọc văn bản sắc lệnh của người kế nhiệm. Ngài nói: "Tôi tin rằng đây là thời điểm thích hợp để dỡ bỏ những hạn chế đó và vượt qua trở ngại mà văn bản đó gây ra."
Cuộc phỏng vấn trùng với kỷ niệm 19 năm sắc lệnh Summorum Pontificum năm 2007 của Đức Bênêđíctô XVI, sắc lệnh đã nới lỏng việc sử dụng nghi thức Rôma trước năm 1970. Đức Tổng Giám Mục Gänswein cho biết mục đích của sắc lệnh là "trao lại đầy đủ quyền cho một nghi thức chưa bao giờ bị bãi bỏ", khôi phục vị trí của nó trong Giáo hội và chấm dứt xung đột phụng vụ.
Ngài nhấn mạnh rằng, dù đã quen với những lời chỉ trích, Đức Bênêđíctô vẫn kiên định khi tin chắc vào một hướng hành động. Ngài cho rằng chính sự quyết tâm đó đã định hình nên việc ban hành Summorum Pontificum.
Nhắc lại nguồn gốc của Summorum Pontificum, Đức Tổng Giám Mục Gänswein đã chỉ ra kinh nghiệm cá nhân của Đức Bênêđíctô về một thỏa thuận thất bại năm 1988 với Đức Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre, người sáng lập Huynh Đoàn Thánh Piô X, gọi tắt là SSPX.
Vào ngày 8 tháng 5 năm 1988, khi còn là Hồng Y Joseph Ratzinger, ngài và Đức Tổng Giám Mục Lefebvre đã ký một tuyên bố về giáo lý và một giải pháp giáo luật cho SSPX, trong đó bao gồm kế hoạch bổ nhiệm một giám mục trong tương lai. Nhưng ngày hôm sau, tin chắc rằng Vatican sẽ trì hoãn việc thực hiện thỏa thuận và nhận thức được tuổi tác ngày càng cao của mình, Đức Tổng Giám Mục Lefebvre đã viết thư nói rằng ngài sẽ không tuân theo lịch trình của Rôma, và vẫn lên kế hoạch tấn phong giám mục bất chấp, rồi tiến hành chúng mà không có sắc lệnh của Đức Giáo Hoàng vào ngày 30 tháng 6 năm đó, do đó trên thực tế đã bác bỏ thỏa thuận.
"Đối với ngài, sau khi trực tiếp trải nghiệm thỏa thuận mà Lefebvre đã bội ước vào năm 1988, sự ly giáo là một nguồn đau khổ cá nhân," Đức Tổng Giám Mục Gänswein giải thích. "Đức Bênêđíctô nói rằng nó sẽ gây ra hậu quả không chỉ trong vài ngày, mà sẽ là một vết thương đối với sự thống nhất của Giáo hội, vết thương đó sẽ tồn tại mãi mãi."
Nhưng Đức Tổng Giám Mục Gänswein nói thêm rằng Summorum Pontificum hướng đến đời sống nội bộ của Giáo hội cũng như việc hòa giải SSPX, vì Đức Bênêđíctô đã chứng kiến "những khía cạnh không thỏa đáng" trong việc áp dụng Ecclesia Dei, sắc lệnh tự ban hành năm 1988 của Đức Thánh Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhằm hàn gắn những chia rẽ sau các cuộc thánh hiến. "Do đó, cần phải làm điều gì đó," ngài nhắc lại.
Đức Bênêđíctô XVI "rất hài lòng" với những kết quả tích cực của Summorum Pontificum, và tin chắc rằng nó đánh dấu sự khởi đầu của một cây cầu có thể dẫn đến "hàn gắn sự rạn nứt hiện có trong phụng vụ". Đức Giáo Hoàng quá cố, "trên hết, có niềm tin lớn lao vào giới trẻ", Đức Tổng Giám Mục Gänswein nói, và ngài khẳng định rằng nghi thức phụng vụ truyền thống "đã được cử hành trong nhiều thế kỷ chắc chắn sẽ được hồi sinh". Ngài cũng hài lòng với cách thức hoạt động của các cộng đồng Ecclesia Dei — những cộng đồng cử hành phụng vụ truyền thống Rôma nhưng không muốn là thành viên của SSPX.
"Liệu chúng ta có thể nói rằng Summorum Pontificum đã phát huy tác dụng không?" Spuntoni hỏi.
"Vâng, nó đã mang lại kết quả tốt," Đức Tổng Giám Mục Gänswein trả lời. "Nó đặc biệt hiệu quả đối với giới trẻ, và điều này được thể hiện rõ nhất qua số lượng người hành hương Paris-Chartres ngày càng tăng mỗi năm."
"Những người trẻ này được nuôi dưỡng bởi vẻ đẹp của phụng vụ," ngài tiếp tục, nhưng nói thêm rằng họ "hoàn toàn không phản đối" Công đồng Vatican II. "Không đúng khi nói rằng những người có cảm nhận phụng vụ truyền thống và tham dự Thánh lễ Tridentine là chống Công đồng; những người tuyên bố như vậy chỉ bị thúc đẩy bởi ý thức hệ," ngài nói.
Trong một cuộc phỏng vấn với tờ Corriere della Sera tuần trước, Đức Tổng Giám Mục Gänswein đã mô tả quyết định của SSPX về việc tấn phong thêm bốn giám mục vào ngày 1 tháng 7 mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng là "kinh khủng", đồng thời nói thêm rằng "sự hiểu biết của họ về truyền thống không phải là truyền thống". Nhưng ngài lập luận rằng vấn đề của SSPX không chủ yếu là vấn đề phụng vụ, và do đó ngài nói rằng ngài tin rằng Rôma có thể "rộng lượng và nhân ái" hơn đối với những người, vẫn duy trì sự hiệp thông trọn vẹn với Rôma, muốn cử hành Thánh lễ Latinh Truyền thống.
Ngài nói rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã "mắc sai lầm mà không nhận ra" khi áp đặt Traditionis Custodes. Ngài lưu ý rằng "đa số các giám mục" ủng hộ Summorum Pontificum và những thành tựu mà nó đã đạt được, khẳng định một báo cáo năm ngoái của nhà báo Diane Montagna cho thấy kết quả khảo sát các giám mục do Bộ Giáo lý Đức tin thực hiện đã mâu thuẫn với lý lẽ được nêu ra để áp đặt Traditionis Custodes.
"Sự bình an trong phụng vụ đã bị tổn hại sẽ được khôi phục," Đức Tổng Giám Mục Gänswein dự đoán.
Source:National Catholic Register
4. Tiến Sĩ George Weigel: Lãnh đạo SSPX chống lại Kinh thánh và Truyền thống
Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề "The SSPX Leadership Against Scripture and Tradition", nghĩa là "Lãnh đạo SSPX chống lại Kinh thánh và Truyền thống".
Tòa Thánh đã tuyên bố rằng, nếu Huynh Đoàn Thánh Piô X, gọi tắt là SSPX tiến hành phong chức giám mục vào tháng 7 mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng, thì những người tham gia vào các lễ phong chức bất hợp pháp này sẽ tự động bị vạ tuyệt thông — nghĩa là bị vạ tuyệt thông bởi chính hành vi của họ.
Người ta có thể, và thực sự nên, hy vọng rằng điều đó sẽ không xảy ra. Nhưng ngay cả khi SSPX dừng lại vào phút cuối và không thực hiện các hành vi ly khai chính thức, vấn đề nghiêm trọng do SSPX gây ra vẫn sẽ tiếp diễn.
Điều đó đã được thể hiện khá rõ ràng trong "Tuyên ngôn Đức tin Công Giáo gửi Đức Giáo Hoàng Lêô XIV" ngày 14 tháng 5, trong đó ban lãnh đạo SSPX tuyên bố, dù cố ý hay không, rằng họ không chia sẻ đức tin của Giáo Hội Công Giáo.
Hãy xem câu đầu tiên của Tuyên ngôn, trong đó SSPX tuyên bố rằng "Chúa Giêsu Kitô… đã làm cho Giao ước Cũ hoàn toàn vô hiệu". Điều đó hẳn đã làm Thánh Phaolô kinh ngạc, người đang vật lộn với câu hỏi phức tạp về mối quan hệ giữa sự tuyển chọn của Israel và Giao ước Mới bao gồm cả dân ngoại vào kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, đã viết, dưới sự soi dẫn của Thiên Chúa, "Họ là người Israel, họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa" (Rm 9:4). Không phải "đã từng được nhận làm con", mà là "được nhận làm con".
Hai chương sau, Thánh Phaolô khẳng định rằng "theo ơn tuyển chọn, họ là những người được yêu thương, và đó là nhờ các tổ phụ. Quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý."(Rm 11:28-29). Thiên Chúa không hối tiếc về những lời hứa của Ngài, và Cựu Ước và Tân Ước tạo thành một thể thống nhất, như Giáo Hội đã liên tục khẳng định trong hai thiên niên kỷ. Tuyên bố của SSPX phủ nhận điều này.
Bản Tuyên ngôn tiếp tục khẳng định rằng "mọi người phải là thành viên của Giáo Hội Công Giáo mới có thể cứu rỗi linh hồn mình, và chỉ có một phép rửa duy nhất là phương tiện để được gia nhập vào Giáo hội. Điều cần thiết này liên quan đến toàn thể nhân loại không ngoại lệ và bao gồm không phân biệt người Kitô hữu, người Do Thái, người Hồi giáo, người ngoại đạo và người vô thần." Như vậy, địa ngục của SSPX khá đông đúc, và bao gồm cả bạn bè và người thân theo đạo Luther, Anh giáo, Do Thái, Hồi giáo và những người không tin vào Chúa của bạn.
Tuy nhiên, đây chính xác là sự xuyên tạc cực đoan của châm ngôn cổ xưa extra ecclesiam nulla salus (không có ơn cứu rỗi nào ngoài Giáo hội) mà vì đó Cha Leonard Feeney đã bị vạ tuyệt thông vào năm 1953, cơ sở thần học cho hình phạt đó được đặt ra bởi một tuyên bố năm 1949 của Tòa Thánh được Đức Giáo Hoàng Piô XII phê chuẩn.
Trớ trêu thay, Tuyên ngôn của SSPX khẳng định rằng "việc phủ nhận dù chỉ một chân lý của Đức Tin cũng sẽ hủy hoại chính đức tin và khiến cho mọi sự hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo trở nên hoàn toàn bất khả thi". Tuy nhiên, đó chính xác là điều mà SSPX đang làm khi tuyên bố những lời hứa của Chúa dành cho dân tộc Do Thái là "hoàn toàn vô hiệu" và bằng cách đưa ra cách giải thích cực đoan nhất có thể cho cụm từ extra ecclesiam nulla salus (ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ). Như vậy, SSPX mâu thuẫn với giáo huấn của những bậc vĩ nhân như Thánh Augustinô và Thánh Tôma Aquinas, những lời lên án của Giáo hoàng đối với chủ nghĩa Jansen, và giáo huấn của Chân phước Piô IX trong Quanto Conficiamur Moerore (Quanto Conficiamur Moerore) về sự sẵn có của ân sủng ngoài các bí tích.
Từ lâu đã rõ ràng rằng nguồn gốc của phong trào do Đức Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre khởi xướng, và vẫn tiếp tục đến ngày nay trong SSPX, không chỉ đơn thuần là việc Đức Tổng Giám Mục bác bỏ phụng vụ hậu Công đồng Vatican II, mà còn là sự bác bỏ giáo huấn của Công đồng Vatican II về Giáo hội, ơn cứu độ, tự do tôn giáo, quan hệ giữa Giáo hội và nhà nước, và mối quan hệ của Giáo hội với các tôn giáo khác. Trong bối cảnh này, cần nhớ rằng Đức Tổng Giám Mục Lefebvre là người ủng hộ Thống chế Henri Petain và chế độ Vichy cộng tác với Đức Quốc xã ở Pháp trong Thế chiến II: một chế độ bác bỏ hoàn toàn chủ nghĩa hiện đại. Những yếu tố của chế độ Vichy cuối cùng đã dẫn đến chủ nghĩa bài Do Thái nguy hiểm, một phần bắt nguồn từ việc bác bỏ đoạn Rôma 9-11 mà Tuyên ngôn của SSPX cũng bác bỏ. Việc nhắc lại dù chỉ là một chút dư âm của lịch sử tồi tệ đó giữa những hành vi bài Do Thái trắng trợn ngày nay, nói một cách nhẹ nhàng, là vô cùng thiển cận.
Vào tháng Năm, một nhà sử học nổi tiếng người Ý đã nhận xét, liên quan đến các lễ tấn phong giám mục mà SSPX dự định thực hiện và các vụ vạ tuyệt thông sẽ tự động diễn ra sau đó, rằng "những gì sắp xảy ra vào tháng Bảy sẽ không phải là việc xây dựng một cây cầu mà là việc tạo ra một vực sâu mới giữa Giáo hội và Tòa Thánh". Điều đó hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, điều đó chỉ xảy ra nếu hơn 700 linh mục, hơn 200 chủng sinh và hàng trăm ngàn giáo dân tham gia SSPX tiếp tục chấp nhận, một cách cuồng tín, sự dị giáo của giới lãnh đạo SSPX, những người tự nhận mình là những người Công Giáo chân chính duy nhất, điều này sẽ phá vỡ những cây cầu Giáo hội và tạo ra bất kỳ vực sâu đáng buồn nào sau đó. Những người tìm kiếm sự nuôi dưỡng tâm linh trong các trung tâm Thánh lễ của SSPX xứng đáng được đối xử tốt hơn thế.
Source:National Catholic Register