1. 'Giáo phận đẹp nhất thế giới': Gặp gỡ giám mục của miền nam nước Nga

Trong hơn hai thập niên qua, Giám mục Clemens Pickel đã lãnh đạo một giáo phận có diện tích lớn hơn cả Texas và California cộng lại.

Giáo phận Thánh Clêmentê ở Saratov của ngài bao phủ phần lớn miền Nam nước Nga, trải dài từ dãy Caucasus đến dãy núi Ural. Tuy nhiên, giáo phận này chỉ phục vụ khoảng 20.000 tín hữu Công Giáo.

Đức Cha Pickel vốn là người Đức, nhưng ngài không lớn lên ở vùng phía tây thịnh vượng, theo chủ nghĩa tư bản của đất nước. Ngài sinh ra tại Cộng hòa Dân chủ Đức vào ngày 17 tháng 8 năm 1961, chỉ vài ngày sau khi Bức tường Berlin được xây dựng. Gia đình ngài thuộc cộng đồng thiểu số Công Giáo, một cộng đồng bị gạt ra ngoài lề xã hội ở quốc gia phía đông do Liên Xô thống trị, nơi theo đuổi ý thức hệ vô thần.

Năm 1988, ngài được thụ phong linh mục thuộc Giáo phận Dresden-Meissen. Ngài chuyển từ Đông Đức sang Liên Xô năm 1990. Một năm sau, Liên Xô sụp đổ, gây ra một cuộc chuyển đổi chính trị và kinh tế hỗn loạn tại quốc gia rộng lớn nhất thế giới về diện tích đất liền.

Cơ cấu tổ chức của Giáo Hội Công Giáo La Tinh cũng thay đổi. Khu vực mà Cha Pickel phục vụ đã trải qua nhiều giai đoạn, từ Tổng giáo phận Mohilev năm 1990 đến Miền Giám Quản Tông Tòa Nga thuộc Âu Châu năm 1991, rồi đến Miền Giám quản Tông Tòa Nga thuộc Nam Âu năm 1998, năm mà Cha Pickel được bổ nhiệm làm Giám Mục Phụ Tá khi mới 36 tuổi.

Năm 2002, giáo phận này lại được đổi tên thành Giáo phận Thánh Clêmentê tại Saratov, và Đức Cha Pickel được bổ nhiệm làm giám mục đầu tiên — điều này rất phù hợp vì tên của ngài là từ tương đương trong tiếng Đức với Clêmentê. Giáo phận được đặt theo tên Thánh Clêmentê I, vị giáo hoàng cuối thế kỷ thứ nhất, người theo truyền thống đã bị lưu đày đến Crimea.

Saratov là một thành phố lớn nằm bên sông Volga. Từ thế kỷ 18, nơi đây đã trở thành trung tâm của cộng đồng người Đức gốc, những người đã định cư dọc theo sông Volga theo lời mời của Nữ hoàng Catherine Đại đế, người Nga gốc Đức.

Đức Cha Pickel cũng đảm nhiệm các trách nhiệm cấp quốc gia trong Giáo Hội Công Giáo ở Nga. Ngài được bầu làm chủ tịch hội đồng giám mục Nga lần đầu tiên vào năm 2017 và lần thứ hai vào tháng 3 năm nay.

Giáo Hội Công Giáo Nga hiện đang trải qua một thời điểm chuyển đổi đầy nhạy cảm sau khi Đức Tổng Giám Mục Mạc Tư Khoa Paolo Pezzi từ chức vào ngày 2 tháng 5. Đức Cha Pickel đã có buổi tiếp kiến riêng với Đức Giáo Hoàng Lêô XIV vào ngày 25 tháng 5, trong đó hai vị có thể đã thảo luận về những thách thức mà Giáo hội địa phương đang phải đối mặt.


Source:Pillar

2. Tiến Sĩ George Weigel: Lãnh đạo SSPX chống lại Kinh thánh và Truyền thống

Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “The SSPX Leadership Against Scripture and Tradition”, nghĩa là “Lãnh đạo SSPX chống lại Kinh thánh và Truyền thống”.

Tòa Thánh đã tuyên bố rằng, nếu Huynh Đoàn Thánh Piô X, gọi tắt là SSPX tiến hành phong chức giám mục vào tháng 7 mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng, thì những người tham gia vào các lễ phong chức bất hợp pháp này sẽ tự động bị vạ tuyệt thông — nghĩa là bị vạ tuyệt thông bởi chính hành vi của họ.

Người ta có thể, và thực sự nên, hy vọng rằng điều đó sẽ không xảy ra. Nhưng ngay cả khi SSPX dừng lại vào phút cuối và không thực hiện các hành vi ly khai chính thức, vấn đề nghiêm trọng do SSPX gây ra vẫn sẽ tiếp diễn.

Điều đó đã được thể hiện khá rõ ràng trong “Tuyên ngôn Đức tin Công Giáo gửi Đức Giáo Hoàng Lêô XIV” ngày 14 tháng 5, trong đó ban lãnh đạo SSPX tuyên bố, dù cố ý hay không, rằng họ không chia sẻ đức tin của Giáo Hội Công Giáo.

Hãy xem câu đầu tiên của Tuyên ngôn, trong đó SSPX tuyên bố rằng “Chúa Giêsu Kitô… đã làm cho Giao ước Cũ hoàn toàn vô hiệu”. Điều đó hẳn đã làm Thánh Phaolô kinh ngạc, người đang vật lộn với câu hỏi phức tạp về mối quan hệ giữa sự tuyển chọn của Israel và Giao ước Mới bao gồm cả dân ngoại vào kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, đã viết, dưới sự soi dẫn của Thiên Chúa, “Họ là người Israel, họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa” (Rm 9:4). Không phải “đã từng được nhận làm con”, mà là “được nhận làm con”.

Hai chương sau, Thánh Phaolô khẳng định rằng “theo ơn tuyển chọn, họ là những người được yêu thương, và đó là nhờ các tổ phụ. Quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý.”(Rm 11:28-29). Thiên Chúa không hối tiếc về những lời hứa của Ngài, và Cựu Ước và Tân Ước tạo thành một thể thống nhất, như Giáo Hội đã liên tục khẳng định trong hai thiên niên kỷ. Tuyên bố của SSPX phủ nhận điều này.

Bản Tuyên ngôn tiếp tục khẳng định rằng “mọi người phải là thành viên của Giáo Hội Công Giáo mới có thể cứu rỗi linh hồn mình, và chỉ có một phép rửa duy nhất là phương tiện để được gia nhập vào Giáo hội. Điều cần thiết này liên quan đến toàn thể nhân loại không ngoại lệ và bao gồm không phân biệt người Kitô hữu, người Do Thái, người Hồi giáo, người ngoại đạo và người vô thần.” Như vậy, địa ngục của SSPX khá đông đúc, và bao gồm cả bạn bè và người thân theo đạo Luther, Anh giáo, Do Thái, Hồi giáo và những người không tin vào Chúa của bạn.

Tuy nhiên, đây chính xác là sự xuyên tạc cực đoan của châm ngôn cổ xưa extra ecclesiam nulla salus (không có ơn cứu rỗi nào ngoài Giáo hội) mà vì đó Cha Leonard Feeney đã bị vạ tuyệt thông vào năm 1953, cơ sở thần học cho hình phạt đó được đặt ra bởi một tuyên bố năm 1949 của Tòa Thánh được Đức Giáo Hoàng Piô XII phê chuẩn.

Trớ trêu thay, Tuyên ngôn của SSPX khẳng định rằng “việc phủ nhận dù chỉ một chân lý của Đức Tin cũng sẽ hủy hoại chính đức tin và khiến cho mọi sự hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo trở nên hoàn toàn bất khả thi”. Tuy nhiên, đó chính xác là điều mà SSPX đang làm khi tuyên bố những lời hứa của Chúa dành cho dân tộc Do Thái là “hoàn toàn vô hiệu” và bằng cách đưa ra cách giải thích cực đoan nhất có thể cho cụm từ extra ecclesiam nulla salus (ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ). Như vậy, SSPX mâu thuẫn với giáo huấn của những bậc vĩ nhân như Thánh Augustinô và Thánh Tôma Aquinas, những lời lên án của Giáo hoàng đối với chủ nghĩa Jansen, và giáo huấn của Chân phước Piô IX trong Quanto Conficiamur Moerore (Quanto Conficiamur Moerore) về sự sẵn có của ân sủng ngoài các bí tích.

Từ lâu đã rõ ràng rằng nguồn gốc của phong trào do Đức Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre khởi xướng, và vẫn tiếp tục đến ngày nay trong SSPX, không chỉ đơn thuần là việc Đức Tổng Giám Mục bác bỏ phụng vụ hậu Công đồng Vatican II, mà còn là sự bác bỏ giáo huấn của Công đồng Vatican II về Giáo hội, ơn cứu độ, tự do tôn giáo, quan hệ giữa Giáo hội và nhà nước, và mối quan hệ của Giáo hội với các tôn giáo khác. Trong bối cảnh này, cần nhớ rằng Đức Tổng Giám Mục Lefebvre là người ủng hộ Thống chế Henri Petain và chế độ Vichy cộng tác với Đức Quốc xã ở Pháp trong Thế chiến II: một chế độ bác bỏ hoàn toàn chủ nghĩa hiện đại. Những yếu tố của chế độ Vichy cuối cùng đã dẫn đến chủ nghĩa bài Do Thái nguy hiểm, một phần bắt nguồn từ việc bác bỏ đoạn Rôma 9-11 mà Tuyên ngôn của SSPX cũng bác bỏ. Việc nhắc lại dù chỉ là một chút dư âm của lịch sử tồi tệ đó giữa những hành vi bài Do Thái trắng trợn ngày nay, nói một cách nhẹ nhàng, là vô cùng thiển cận.

Vào tháng Năm, một nhà sử học nổi tiếng người Ý đã nhận xét, liên quan đến các lễ tấn phong giám mục mà SSPX dự định thực hiện và các vụ vạ tuyệt thông sẽ tự động diễn ra sau đó, rằng “những gì sắp xảy ra vào tháng Bảy sẽ không phải là việc xây dựng một cây cầu mà là việc tạo ra một vực sâu mới giữa Giáo hội và Tòa Thánh”. Điều đó hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, điều đó chỉ xảy ra nếu hơn 700 linh mục, hơn 200 chủng sinh và hàng trăm ngàn giáo dân tham gia SSPX tiếp tục chấp nhận, một cách cuồng tín, sự dị giáo của giới lãnh đạo SSPX, những người tự nhận mình là những người Công Giáo chân chính duy nhất, điều này sẽ phá vỡ những cây cầu Giáo hội và tạo ra bất kỳ vực sâu đáng buồn nào sau đó. Những người tìm kiếm sự nuôi dưỡng tâm linh trong các trung tâm Thánh lễ của SSPX xứng đáng được đối xử tốt hơn thế.


Source:National Catholic Register

3. Sự qua đi của Hồng Y Ruini người Italia đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên.

Đức Hồng Y Camillo Ruini đã qua đời ở tuổi 95. Là một nhân vật vĩ đại của Giáo hội Ý vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, Đức Hồng Y Ruini có lẽ là vị giáo sĩ vĩ đại cuối cùng thực sự của Ý.

Trong bức điện chia buồn hôm thứ Tư, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã tưởng nhớ Đức Hồng Y Ruini như một “người anh em giàu kinh nghiệm và khôn ngoan, được đặc trưng bởi đức tin sâu sắc, trí tuệ sắc bén và tầm nhìn xa, người đã phục vụ Tin Mừng và Giáo hội với sự kín đáo và lòng hy sinh”.

Đức Lêô đặc biệt nhớ đến “những đóng góp hiệu quả của Ruini cho Hội Đồng Giám Mục Ý”, nơi ngài giữ chức chủ tịch trong gần hai thập niên, cũng như “sự đối thoại hữu ích của Đức Hồng Y Ruini với giới văn hóa thế giới”.

Đức Giáo Hoàng bày tỏ lòng biết ơn đối Thiên Chúa “vì món quà là người đàn ông đáng kính này của Giáo hội”, và hứa sẽ cầu nguyện cho linh hồn ngài được an nghỉ cũng như an ủi gia đình và những người thân yêu của ngài.

Sự ra đi của Đức Hồng Y Ruini chắc chắn đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên.

Sinh năm 1931 tại Sassuolo thuộc vùng Emilia Romagna của Ý, tuổi thơ và thời niên thiếu của Ruini chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi chủ nghĩa phát xít và Thế chiến II.

Ngài chưa bao giờ thực sự nghĩ đến điều gì khác ngoài việc phục vụ Giáo hội và được thụ phong linh mục vào ngày 8 tháng 12 năm 1954, khi chỉ còn vài tháng nữa là đến sinh nhật lần thứ 24 của mình.

Vào thời điểm mà Giáo hội vẫn còn có ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội Ý và việc phục vụ trong giáo hội được xem như một con đường sự nghiệp cũng như một ơn gọi, Ruini nổi bật như một người thực sự yêu mến Giáo hội và mong muốn Giáo hội được thành công.

Ngài cũng vô cùng thông minh, am hiểu văn hóa và có khả năng kết bạn với những người có tư tưởng khác biệt.

Ngài từng là tuyên úy cho sinh viên đại học trong nhiều năm, từ cuối những năm 1950 đến giữa những năm 1960, sau đó là đại biểu của Azione Cattolica – một tổ chức phi chính trị chính thức nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Ý suốt thế kỷ 20 – và đồng thời giữ các vị trí giảng dạy và quản lý tại nhiều cơ sở đào tạo linh mục khác nhau.

Sự nghiệp của ngài có thể vẫn chủ yếu là về học thuật, nhưng Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phong ngài làm Giám Mục Phụ Tá vào năm 1983, và danh tiếng của Đức Cha Ruini bắt đầu lên cao.

Ngài trở thành tổng thư ký của Hội đồng Giám mục Ý đầy quyền lực, CEI, vào năm 1986, và sau đó là chủ tịch của CEI vào năm 1991, cùng năm mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Tổng Đại Diện Giáo phận Roma và phong ngài làm Hồng Y Ruini.

Trong gần hai thập niên tiếp theo, từ năm 1991 đến năm 2008, Đức Hồng Y Ruini là một nhân vật chủ chốt trong giới truyền thông Ý, luôn sẵn sàng bình luận cho các bản tin thời sự giờ vàng và xuất hiện trên các chương trình trò chuyện Chúa Nhật, qua đó ngài xây dựng hình tượng “chiến binh vui vẻ”.

Nhìn chung được coi là một người bảo thủ về mặt xã hội, Đức Hồng Y Ruini lại khá am hiểu những dòng chảy văn hóa thúc đẩy xu hướng thế tục hóa rộng rãi ở phương Tây và tìm cách huy động sức mạnh thể chế của Giáo hội theo cách phù hợp với thực tế văn hóa và chính trị.

Năm 2005, ngài dẫn đầu phe đối lập chính thức của các giám mục Ý đối với một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc nhằm nới lỏng luật pháp Ý về thụ tinh nhân tạo và nghiên cứu tế bào gốc phôi thai.

Đức Hồng Y Ruini kêu gọi người Công Giáo không tham gia bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý, vì ngài dự đoán rằng việc người Công Giáo không tham gia sẽ ngăn cản việc đạt được số lượng cử tri cần thiết – 50% số cử tri đủ điều kiện tham gia – và do đó làm vô hiệu hóa cuộc trưng cầu dân ý.

Những người ủng hộ cuộc trưng cầu dân ý cáo buộc Đức Hồng Y Ruini và các giám mục can thiệp không đúng mực vào lĩnh vực chính trị, nhưng cử tri đã chọn ở nhà, và cuộc trưng cầu dân ý không thu hút được tỷ lệ tham gia cần thiết là 50%.

Đức Hồng Y Ruini vẫn duy trì hình ảnh trước công chúng trong nhiều năm, ngay cả sau khi đã nghỉ hưu.

Trong khoảng một thập niên trở lại đây, ngài dần giảm hoạt động và rút lui khỏi tầm mắt công chúng, nhưng ngài vẫn luôn quan tâm đến các vấn đề công cộng và nắm bắt được nhịp đập của văn hóa Ý và Âu Châu.

Mỗi khi ngài lên tiếng, ngài đều nói với tư cách một chính khách lão thành, và mọi người đều lắng nghe.

Tháng Hai năm nay, Đức Hồng Y Ruini một lần nữa thu hút sự chú ý của quốc tế khi ngài có cuộc phỏng vấn với tờ báo hàng đầu của Ý, Corriere della Sera, nghĩa là Tin Chiều trong đó ngài thảo luận về nhiều vấn đề khác nhau.

Trong cuộc phỏng vấn, Ruini đã công khai thừa nhận những điều mà các Hồng Y và quan chức giáo triều trước đây chủ yếu chỉ thì thầm với nhau.

Ví dụ, ngài đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm về việc Đức Bênêđíctô XVI từ chức, mà ngài cho đó là một sai lầm.

Đức Hồng Y Ruini cũng thừa nhận mình cảm thấy bối rối trước Đức Thánh Cha Phanxicô và không chắc liệu triều đại của vị giáo hoàng quá cố người Á Căn Đình sẽ gây hại hay có lợi cho Giáo Hội.

Đức Hồng Y Ruini bày tỏ quan điểm của mình một cách thẳng thắn – với sức mạnh và sự rõ ràng nhưng cũng rất cẩn trọng. Những lời nhận xét của ngài được cân nhắc kỹ lưỡng, thậm chí thận trọng, nhưng không hề gây hiểu lầm về suy nghĩ hay lập trường của ngài.

Theo một nghĩa rất quan trọng, đó là hành động phục vụ giáo hội cuối cùng của ngài: Để cho thấy làm thế nào có thể thực hành parrhesia – nói chuyện thẳng thắn – mà không cần tham gia vào tranh luận.

Nói cách khác, Đức Hồng Y Ruini có thể không chỉ đơn thuần là một di tích của một thời đại đã qua, thời mà Giáo hội nắm giữ vị thế văn hóa và tầm ảnh hưởng chính trị.

Ngài có thể là một hình mẫu cho các giáo sĩ trong thế kỷ XXI ngày càng phân cực.


Source:Crux