1. Đức Giáo Hoàng Lêô và Thủ tướng Canada Carney thảo luận về trí tuệ nhân tạo và hòa bình.
Chiều Thứ Sáu, 29 Tháng Năm, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV và Thủ tướng Mark Carney của Canada đã có cuộc điện đàm về trí tuệ nhân tạo, bốn ngày sau khi thông điệp Magnifica Humanitas được công bố.
Theo thông cáo từ Văn phòng Báo chí Tòa Thánh, “cuộc thảo luận đã đề cập đến tầm quan trọng của việc phát triển trí tuệ nhân tạo từ góc độ đạo đức và theo hướng lấy con người làm trung tâm. Cuộc đối thoại cũng đề cập đến các vấn đề cùng quan tâm ở cấp độ khu vực và quốc tế, đặc biệt là các nỗ lực thúc đẩy hòa bình, nhất là ở Trung Đông và Ukraine.”
Source:Catholic World News
2. Tiến sĩ George Weigel: Nền hòa bình mà chúng ta có thể kiến tạo
Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “The Peace We Can Make”, nghĩa là “Nền hòa bình mà chúng ta có thể kiến tạo”.
Người ta thường nói rằng sự lặp lại là mẹ đẻ của việc học hỏi. Vì vậy, trước những cuộc tranh luận gần đây trong Giáo Hội Công Giáo về việc theo đuổi hòa bình ở Trung Đông và những nơi khác, cho phép tôi đăng lại, với một vài điều chỉnh nhỏ, một phần của bài báo từ hai mươi bốn năm trước.Những luận điểm tôi đưa ra khi đó, theo tôi, vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay:
Trong thông điệp Ngày Hòa bình Thế giới năm 2002, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã dạy một chân lý mà nhiều người Công Giáo dường như đã quên: đó là “hòa bình”, theo nghĩa cổ điển của Công Giáo, là vấn đề trật tự, trật tự được xây dựng thông qua luật pháp và chính trị.
Sau khi trích dẫn giáo huấn của Công đồng Vatican II rằng hòa bình là “kết quả của việc thiết lập trật tự đúng đắn mà Đấng Tác Thành Trời Đất đã ban cho xã hội loài người”, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắc nhở chúng ta rằng “hòa bình trong trật tự” đã là khái niệm chuẩn mực về hòa bình trong Giáo Hội Công Giáo từ rất lâu. Như Đức Giáo Hoàng đã nói, hơn mười lăm thế kỷ trước, Thánh Augustinô đã lập luận rằng “hòa bình có thể và phải được xây dựng trong thế giới này là hòa bình trong trật tự đúng đắn—tranquillitas ordinis, sự yên bình trong trật tự”.
Từ Thành phố của Thiên Chúa của Thánh Augustinô cho đến giáo huấn của Giáo hoàng hiện đại, Công đồng Vatican II và Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, khi Giáo Hội Công Giáo nói đến “hòa bình”, điều đó có nghĩa là “trật tự”—trật tự được xây dựng thông qua chính trị và pháp luật trên nền tảng công lý được soi sáng bởi lòng bác ái và tự do. …
“Hòa bình” có nhiều nghĩa. Có “hòa bình” đến từ mối quan hệ đúng đắn với Chúa: sự bình an của sự thanh thản nội tâm, một món quà của ân sủng. Có “hòa bình” trong viễn tượng của Tiên tri Isaia về “núi… của Chúa”, nơi “họ sẽ rèn gươm thành lưỡi cày, giáo mác thành liềm cắt tỉa; dân tộc này sẽ không giương cao gươm chống lại dân tộc kia, cũng sẽ không học chiến tranh nữa” (Is 2:4): đây là hòa bình của Vương quốc Thiên Chúa, một hòa bình do Chúa tạo dựng, chứ không phải do chúng ta.
Và rồi còn có “hòa bình” của trật tự. Đó là một loại hòa bình khiêm nhường hơn. Nó tồn tại song song với những tâm hồn tổn thương và những trái tim tan vỡ. Đó là một nền hòa bình mà trong đó những thanh kiếm vẫn còn đó, được tra vào vỏ hoặc được sử dụng để bảo vệ trật tự, nhưng chưa bị rèn thành lưỡi cày. Giáo Hội Công Giáo dạy rằng đây là hòa bình thực sự trong thế giới này, và nó có thể được xây dựng trong và giữa các quốc gia.
Chúng ta biết điều này qua kinh nghiệm, bởi vì đây là nền hòa bình mà chúng ta được hưởng trong các cộng đồng chính trị dân chủ. Không ai cho rằng tất cả người Mỹ đều sống thanh thản trong mối quan hệ đúng đắn với Chúa, hay đất nước chúng ta là một vùng không có xung đột. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đang trong thời bình: nền hòa bình của một trật tự chính trị công bằng, một thành tựu không nhỏ đối với một xã hội gồm 350 triệu con người với sự đa dạng đáng kể về tôn giáo, chủng tộc, sắc tộc và triết học.
Tại sao chúng ta lại sống trong hòa bình? Thưa: Bởi vì chúng ta có những cách thức khác ngoài bạo lực quy mô lớn để giải quyết xung đột: luật pháp và chính trị, cơ quan lập pháp và tòa án, và sự tranh luận cởi mở trong một xã hội văn minh.
Một kiểu “hòa bình” tương tự cũng tồn tại ở những nơi trên thế giới đã quyết định sử dụng ngoại giao và luật pháp, chứ không phải vũ khí, làm công cụ để giải quyết những xung đột không thể tránh khỏi giữa các quốc gia. Một cuộc chiến giữa Pháp và Đức ngày nay là điều không thể tưởng tượng được.
Tại sao? Bởi vì người Pháp và người Đức đã trở thành thánh nhân ư? Không phải đâu. Bởi vì không còn xung đột giữa họ nữa ư? Khó mà tin được. Không phải thế, nhưng có một nền hòa bình thực sự trong một điểm nóng lịch sử của xung đột Âu Châu bởi vì một mạng lưới dày đặc các thể chế chính trị, pháp luật và kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện cho người Pháp và người Đức giải quyết những khác biệt của họ bằng những cách thức khác. Đó là hòa bình của trật tự.
Hòa bình trong trật tự là nền hòa bình mà truyền thống lý luận đạo đức về chiến tranh chính nghĩa đã tìm cách khôi phục hoặc xây dựng kể từ khi Thánh Augustinô lần đầu tiên đề ra các nguyên tắc chiến tranh chính nghĩa vào đầu thế kỷ thứ năm. Do đó, thật là một sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng truyền thống chiến tranh chính nghĩa và việc theo đuổi hòa bình bằng cách nào đó lại đối lập với nhau.
Hòa bình và trật tự là mục tiêu cuối cùng; truyền thống chiến tranh chính nghĩa đặt ra câu hỏi: Khi nào và bằng cách nào hòa bình và trật tự đó có thể được khôi phục hoặc xây dựng bằng việc sử dụng vũ lực một cách cân xứng và có chọn lọc? Chính mục tiêu hòa bình mới biện minh cho các phương tiện hành động quân sự.
Đó là lý do tại sao việc xác định mục tiêu có thể biện minh về mặt đạo đức mà việc sử dụng vũ lực hướng tới là một thành phần chính yếu trong những gì mà tư duy chiến tranh chính nghĩa yêu cầu các nhà lãnh đạo quốc gia. Chính định nghĩa đó đã bị thiếu trong cuộc phiêu lưu của chính quyền Trump ở Iran, trong đó mục tiêu dường như thay đổi với tốc độ chóng mặt.
Một nền hòa bình và trật tự ở vùng Vịnh Ba Tư sẽ như thế nào? Đó là câu hỏi quan trọng về chiến tranh chính nghĩa vẫn chưa có lời giải đáp.
Source:George Weigel
3. Các tài liệu về các vị tử đạo Campuchia được trình lên Vatican.
Giám mục đại diện tòa Tông tòa Phnom Penh, Campuchia, đã trao cho Vatican gần 2.500 trang tài liệu về tiến trình phong thánh cho người tiền nhiệm của ngài, Đức Cha Joseph Chhmar Salas, và 11 người Công Giáo khác tử đạo trong những năm 1970.
“Động lực ban đầu để nghiên cứu câu chuyện về các vị tử đạo Campuchia xuất phát từ Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người vào Năm Thánh 2000 đã kêu gọi các Giáo hội Á Châu ở tất cả các quốc gia công nhận và tưởng nhớ các vị tử đạo của họ,” Cha Paul Chatserey, người phụ trách tiến trình phong thánh kể từ khi bắt đầu vào năm 2015, nói với hãng thông tấn Fides. “Với tinh thần đó, Giáo hội Campuchia đã dựng một đài tưởng niệm các vị tử đạo; chúng tôi đã xây dựng một cây thánh giá và một nhà nguyện nhỏ. Kể từ đó, một lễ tưởng niệm các vị tử đạo được tổ chức hàng năm, quy tụ các tín hữu từ khắp cả nước.”
Cha Chatserey nói thêm:
Dần dần, nhận thức được nâng cao, và chúng tôi bắt đầu thu thập tài liệu, văn bản và lời chứng. Điều này rất khó khăn bởi vì, trong những năm tháng đen tối của chiến tranh và chế độ Khmer Đỏ, các nhà thờ, cùng với tất cả các tài liệu, đã bị phá hủy. Chúng tôi đã trang bị cho mình sự kiên nhẫn và bắt đầu thu thập các lời chứng truyền miệng.
Được thành lập năm 1967, Khmer Đỏ, một phong trào Cộng sản, đã cai trị Campuchia từ năm 1975 đến năm 1979 và chịu trách nhiệm về cái chết của một phần tư dân số cả nước. Cuộc chiến tranh Campuchia-Việt Nam, kéo dài từ năm 1978 đến năm 1989, đã cướp đi thêm 200.000 sinh mạng nữa.
Source:Catholic World News
4. Đức Giáo Hoàng Lêô kêu gọi cải cách phụng vụ trung thành với truyền thống.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV khẳng định rằng không ai được phép thêm, bớt hoặc sửa đổi bất cứ điều gì trong phụng vụ thánh theo ý riêng của mình.
Đức Giáo Hoàng đưa ra nhận xét này khi tiếp tục loạt bài giảng giáo lý về các văn kiện của Công đồng Vatican II trong buổi tiếp kiến chung ngày 27 tháng 5 tại Quảng trường Thánh Phêrô.
Đức Thánh Cha lần thứ hai tập trung vào Hiến Chế Sacrosanctum Concilium, nghĩa là Phụng Vụ Thánh. Ngài bắt đầu bằng cách trích dẫn thông điệp Mediator Dei của Đức Giáo Hoàng Piô XII: “Giáo hội là một sinh vật sống và do đó, cũng như đối với phụng vụ thánh, trong khi duy trì sự toàn vẹn của giáo huấn, Giáo hội phát triển và tiến bộ, thích ứng và phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu phát sinh theo thời gian.”
Đức Giáo Hoàng Lêô nhắc lại rằng các Nghị phụ Công đồng đã nhận ra bổn phận của mình là phải “quan tâm đặc biệt đến việc cải cách và thúc đẩy phụng vụ” để “làm cho đời sống Kitô giáo ngày càng phong phú hơn giữa các tín hữu” và điều chỉnh các thể chế “có thể thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của thời đại chúng ta”.
Ngài nhấn mạnh chỉ thị quan trọng trong điều 23 của Sacrosanctum Concilium: “bảo tồn truyền thống tốt đẹp và mở đường cho sự tiến bộ chính đáng”. Trích lời Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, ngài lưu ý rằng “truyền thống và tiến bộ thường bị đối lập một cách vụng về”, trong khi trên thực tế “hai khái niệm này bổ sung cho nhau: bản thân truyền thống bằng cách nào đó đã bao gồm tiến bộ”.
Đức Giáo Hoàng giải thích sự phân biệt của Công đồng giữa các yếu tố bất biến của phụng vụ, được xây dựng trên sự thiết lập của Thiên Chúa, và những phần có thể thay đổi. Ngài nhấn mạnh rằng bất kỳ sự sửa đổi nào đối với các nghi thức phải bảo đảm rằng các hình thức mới “bằng cách nào đó phát triển một cách hữu cơ từ những hình thức đã tồn tại”.
Ngài cũng cảnh báo chống lại những thay đổi tùy tiện, nói rằng Công đồng tìm cách tránh gây hoang mang cho các tín hữu bằng cách ngăn cản “bất cứ ai thêm, bớt hoặc sửa đổi bất cứ điều gì trong các vấn đề phụng vụ theo sáng kiến của riêng mình”.
Buổi tiếp kiến chung diễn ra trong bối cảnh các cuộc thảo luận tiếp tục trong Giáo hội về việc thực hiện đúng đắn cuộc cải cách phụng vụ. Trong những năm gần đây, các trường hợp đổi mới phụng vụ được ghi nhận bao gồm các buổi biểu diễn múa được tích hợp vào việc cử hành Thánh lễ. Năm 2023, một video từ một giáo xứ ở Đức cho thấy một đoàn múa phụng vụ biểu diễn trong khi đọc Kinh Vinh Danh. Những màn trình diễn tương tự đã được ghi nhận ở Brazil và một số vùng của Hoa Kỳ.
Năm 2024, Giám mục Michael Martin của Charlotte, Bắc Carolina, đã ban hành dự thảo các quy tắc phụng vụ giáo phận nhằm hạn chế các hoạt động như cử hành ad orientem, việc sử dụng lan can bàn thờ và một số hình thức sùng kính truyền thống, gây ra cuộc tranh luận đáng kể trước khi một số phần của văn bản được sửa đổi hoặc gác lại.
Chính Sacrosanctum Concilium nêu rõ trong điều 116: “Giáo hội công nhận thánh ca Grêgôriô đặc biệt phù hợp với phụng vụ Rôma: do đó, nếu các yếu tố khác như nhau, nó nên được ưu tiên trong các nghi lễ phụng vụ.” Nhiều người Công Giáo gắn bó với truyền thống đã nhận thấy sự tương phản giữa chỉ thị này và việc thay thế rộng rãi thánh ca Gregorian bằng âm nhạc đương đại trong các lễ nghi thông thường. Việc Đức Giáo Hoàng Lêô nhấn mạnh vào sự phát triển hữu cơ, tính liên tục và lòng trung thành với di sản phụng vụ của Giáo hội đã được nhiều người Công Giáo truyền thống hoan nghênh vì phù hợp với giáo huấn của Thánh Piô X, Piô XII và Bênêđíctô XVI. Buổi tiếp kiến kết thúc bằng lời chào gửi đến các đoàn hành hương và lời kêu gọi hòa bình ở Ukraine.
Source:Catholic Herald