<B>Thư Trong Nước (11).



Hôm đọc xong “Món Nợ Máu” của bác Tiên thuật lại câu chuyện thực của gia đình ổng, em về kể cho vợ em nghe, vợ em muốn khóc. Vợ em bảo chắc ổng buồn lắm vì mẹ ổng có một cuộc đời gian truân như vậy. Ba đời chồng không trọn vẹn, người nào cũng qua đi một cách không bình thường, nhất là ông sau cùng. Thật là tàn ác, tra tấn và giết chồng người ta trong khi bắt vợ con người ta ngồi chứng kiến. Vậy mà cuộc sống của ổng trong chế độ mới có vẻ vẫn ung dung, thoải mái. Có lẽ đúng như lời ổng nói, ổng đã để hận thù lui vào dĩ vãng, ổng đã sống theo lời Phật Thích Ca và Chúa Giê Su dạy: “Tha thứ cho kẻ thù”. Nếu mọi con người trên cõi sống tạm bợ này chỉ cần làm theo một phần những gì Phật và Chúa dạy thì cuộc sống đã có thể là một thiên đàng nho nhỏ rồi, đâu cần bám lấy chủ nghĩa vu vơ này nọ để đi tìm thiên đàng, mà rốt cuộc lại tạo ra một địa ngục trần gian.

Hôm nay bác Tiên lại tới trễ. Em nhâm nhi đã hết gần nửa xị và nửa đĩa mồi mà chưa thấy ổng xuất hiện. Em đang thắc mắc không biết ổng có “mạnh giỏi” không thì liếc mắt thấy mấy bàn bên cạnh có thêm các “cô” đang “dui dẻ” với các ông rất là “thoải mái”. Em bỗng thấy nhói trong tim. Như vậy thì tim em chưa hoàn toàn khô, phải không bác? Nó còn ươn ướt, nó còn tình cảm, nó còn biết thương cho những cô gái bụi đời này. Ngày xưa người ta gọi các cô là “gái ăn sương”, có lẽ vì các cô chỉ hoạt động về đêm; ngày nay các cô hành nghề bất kể giờ giấc và ở khắp mọi nơi. Tại sao thế nhỉ? Ai gây ra nông nỗi này nhỉ? Tất cả chỉ vì cái nghèo. Nhưng tại sao dân ta vẫn còn nghèo sau gần ba mươi năm thống nhất đất nước?

Nhớ lại cái ngày mới “giải phóng”, những người “chiến thắng” vào thành phố này, cùng với gia đình họ. Trừ những kẻ “nói không thật” đã biết quá rõ thành phố, quá rõ Miền Nam, tất cả đều choáng ngợp với mảnh đất nổi tiếng là Hòn Ngọc Viễn Ðông, sững sờ với cuộc sống của người dân Miền Nam. Hồi chưa đặt chân vào đây, những người nhẹ dạ và cả tin, trong đó có em, thương nhân dân Miền Nam quá trời vì người ta bảo nhân dân Miền Nam đang bị bóc lột đến tận xương tủy, đang chết đói. Tội nghiệp cho những người cả tin như em, có người lặn lội từ miền Bắc vào đem theo một chục bát ăn cơm cho thân nhân họ, vì họ tưởng thân nhân họ không có bát ăn cơm, phải dùng gáo dừa thay thế. Thế rồi khi đến đúng địa chỉ thì họ không dám vào nhà, chỉ thập thò ngoài cửa vì thân nhân “nghèo” của họ đang sống trong một căn nhà sang trọng mà họ chưa bao giờ dám mơ tới, chưa bao giờ được bước chân vào. Rồi thân nhân họ mở cửa hỏi han, nhận ra họ hàng, quá cảm động ôm nhau mà khóc, kết quả là kẻ đi nuôi người lại được người nuôi. Cái tình ruột thịt máu mủ nó là như vậy. Cái tình người nó là như vậy. Bao nhiêu năm sống trong thiếu thốn, nghèo nàn, bao nhiêu năm bị bưng bít thông tin, bao nhiêu năm chỉ nghe những “lời không thật”, người dân Miền Bắc mới thật là đáng thương. Nhưng bằng cách nào mà người dân Miền Bắc vào Miền Nam tìm thân nhân họ có thể đến trúng phóc địa chỉ nếu không có tình báo nhân dân giúp đỡ. Tình báo nhân dân cho đúng địa chỉ nhưng không cho đúng cuộc sống của thân nhân họ. Trong chiến tranh, cái chiêu bài “nhân dân” được sử dụng tối đa, và thật là hữu hiệu, quên mình vì nhân dân, hy sinh vì nhân dân, cái gì cũng vì nhân dân. Ôi, đem cái mạng sống của mình ra vì nhân dân thì nhân dân chỉ mê tít đi thôi. Lại thêm cái câu “Ðược thì được cả giang sơn. Mất thì chỉ mất cái khố rách” khiến người dân lành còn gì khoái cho bằng.. Ðúng quá đi chứ. Nhân dân đâu có gì, đem cái khố rách để đánh đổi lấy cả giang sơn thì ai mà không làm. Thế rồi khi “được” cả giang sơn thì hầu như giang sơn lại không thuộc về nhân dân, mà thuộc về quyền sử dụng tuyệt đối của các cán bộ cách mạng, các con cái nhân dân ngày nào.Các vị đã từng gần gũi nhân dân bao nhiêu, đã từng được nhân dân hy sinh bao bọc che chở bao nhiêu, thì ngày nay lại xa rời nhân dân bấy nhiêu. Ðiều đó dễ hiểu thôi, vì các vị đâu còn là con cái nhân dân nữa, mà các vị đã lột xác để trở thành các quan cách mạng. Chẳng bao lâu sau chiến thắng, các con cái nhân dân xưa đã mập béo hẳn ra, mặt mày bóng láng như mỡ. Cũng dễ hiểu thôi, đã là quan thì phải mập mạp cho nó oai vệ chứ. Các vị mập béo, mũm mĩm dễ thương như vậy mà gần gũi nhân dân gầy gò, đen đủi, để người ta trông thấy rõ cái nét tương phản tốt xấu à, cái nét tương phản béo gầy à, để người ta thấy nhân dân vẫn không chịu béo ra à. Người ta nói ba phần tư của cải nhân dân làm ra hằng năm, ba phần tư những tài nguyên khai thác của đất nước, chui tọt vào những cái túi của khoảng hai triệu các ông quan cách mạng lớn nhỏ và những kẻ ăn theo trong cái “đại gia đình” họ. Chỉ có một phần tư của cải đó được dùng để lo cho con số gần tám mươi triệu nhân dân còn lại. Cho đến ngày hôm nay, năm thứ ba của thiên niên kỷ thứ ba, có những người dân quê Miền Bắc chưa bao giờ được trông thấy miếng bánh mì. Cuộc đời họ chưa từng ra khỏi luỹ tre làng. Giấc mơ của họ thật đơn giản: một miếng cơm no, một manh áo lành. Thế mà vẫn chưa thực hiện được. Khi cố gắng mua được chiếc vé xe lửa vào “thăm” thân nhân Miền Nam, được mua bánh mì cho ăn, họ lấy làm lạ lắm. Họ còn phải “tập” ăn thịt nữa, vì thức ăn của họ thật là “cổ truyền”, một bài toán cộng đơn giản: một nắm rau lang luộc cộng một miếng nước mắm cáy tự muối lấy. Con cáy giống như con cua đồng nhỏ, mình nó thì nhỏ mà hai cái càng thì đỏ và to nhưng chẳng có thịt bao nhiêu; chúng lang thang dọc theo các bờ sông mà không ai thèm bắt trừ những người nghèo. Họ cũng chưa bao giờ bước vào một căn nhà có cầu thang đi lên gác, hoặc chính họ đi lên gác. Thấy họ “bò” từng bậc cầu thang để lên gác, thân nhân Miền Nam của họ chỉ có cười ra nước mắt. Cái chữ “Miền” được dùng nơi đây để nói lên sự cách biệt của hai cuộc sống Bắc Nam sao thấy nó vô duyên quá, nó đau lòng quá. Nhớ lại cách đây đã lâu lắm, có lẽ đã mười mấy năm rồi, một ông kẹ nào đó ở ngay thủ đô Hà Nội đã làm đám ma cho chó. Ôi! Ông đã tỏ cái trí thông minh của ông quá phi thường trong việc tiếp thu cái nét sống văn minh phương Tây quá nhanh. Nhưng ngay ở đất nước của đế quốc Mỹ, người ta cũng chỉ lo cho chó khi nó còn sống, khi nó chết rồi thì thôi. Riêng ông thì ông quý chó hơn cả những người đã từng bao bọc ông, những người đã tạo cho ông cái địa vị ông đang hưởng, những người mà cái dạ dày còn phải chứa những thứ mà ông không muốn chứa, hoặc cái dạ dày chưa bao giờ được căng. Ông là ai mà dám ngang nhiên như vậy? Rồi cũng theo người trong nước, có những ông kẹ hoặc con cháu ông kẹ phải sang tận Hồng Kông để tìm em út lạ, trong lúc các khách du lịch nước ngoài đến nước ta lại tìm gái nước ta vì gái nước ta thơm như múi mít. Ngày mới “giải phóng Miền Nam”, có những quan cách mạng dám ngoa ngôn rằng: “Trong ba người đàn bà Miền Nam thì có một người làm đĩ”, rằng: “Chế độ mới sẽ xoá sạch nạn đĩ điếm, sẽ tôn trọng danh dự phụ nữ, sẽ đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa … gì đấy…”. Thế mà giờ đây, con số những người phụ nữ phải bán thân nuôi miệng đã gấp nhiều lần ngày xưa, không phải chỉ có phụ nữ, mà cả con nít nữa. Họ không phải chỉ bán thân nuôi miệng trong nước, mà còn được đưa ra nước ngoài qua nhiều hình thức khác nhau. Có người con gái nào muốn làm đĩ đâu. Có bao nhiêu người con gái muốn phô trương cái “của cha mẹ cho” để được tuyển đi làm vợ người ta? Ðó đâu phải là hôn nhân, mà có lấy được người chồng tử tế cho cam. Trong số này, nhiều cô gái bất hạnh đã bị lường gạt để làm trò chơi cho cả gia đình cái người “chồng” khốn nạn ấy, để rồi có khi lại bị đem bán qua tay người khác hoặc bán vào các nhà chứa. Việc mua bán nô lệ chỉ có thể tìm thấy ở một nơi xa xôi nào đó trên thế giới và ở một thời gian xa xưa lắm rồi. Lịch sử dân tộc Việt chưa từng ghi lại cái điều đau lòng này, ngay cả suốt thời gian hơn một ngàn năm Bắc thuộc và hơn tám mươi năm Tây thuộc. Dù con số những cô gái phải bán thân nuôi miệng ngày nay nhiều như vậy, nhưng ai cũng có thể thấy rằng cái tỷ lệ những cô gái bất hạnh này chỉ là một trong khoảng hằng trăm chứ không thể là “một trong ba người” như các ông “quan cách mạng” vung vít tuyên bố lếu láo khi mới đặt chân vào Miền Nam. Nhân dân Việt Nam vẫn cắn răng chịu đựng chờ một vận hội mới. Vinh quang gì, danh dự gì khi nghe những người phụ nữ bất hạnh này nói rằng bệnh aids, bệnh sida phải mười năm mới chết, bệnh xẹp bao tử chỉ mười ngày là đi về với ông bà. Các nữ anh hùng của chế độ ta như Nguyễn Thị Minh Khai, như Võ Thị Sáu chắc đang chất vấn các đồng chí của mình nơi chín suối, đang giận giữ nhìn lên cái trần gian điên đảo này khi thấy các con cháu hai bà Trưng Triệu đang bị dày vò như vậy. Hay cái là các ông quan Nhà Nước này đâu phải không biết, các vị còn để báo chí đăng tải nữa mà, nhưng báo chí đăng tải chỉ là để cho dân hả giận tí ti, chứ sửa thì các quan không sửa, các vị còn lo sửa cái túi để nhét thêm đô la. Mà khi cái túi nó quá đầy, cũng theo những nguồn tin đáng tin cậy, các vị cũng như con cái các vị bèn sang tận Las Vegas để học cách ăn chơi, để trả lại các ông Mỹ những đồng đô la mà họ ăn cắp của dân.

Mệt quá. Tới đây, em chẳng muốn nghĩ thêm nữa, mà cũng chẳng muốn lai rai thêm nữa, bèn trả tiền, lấy xe đạp ra về. Có lẽ lần sau gặp bác Tiên, em sẽ đề nghị bớt đến các quán Cờ Tây, để dành tiền đến các quán khác “sang” hơn tí tỉnh xem có gì lạ không.