Thư trong nước (9): Món Nợ Máu (tiếp theo và hết).
Người đàn bà xách bị quần áo, cùng con ra khỏi nhà. Bà khép hờ hai cánh cổng, dắt tay con bước qua khoảng đất trống được dùng làm chợ làng, leo lên dốc đê. Gió sớm từ dưới sông thổi lên, luồn vào những sợi tóc thưa đang ngả màu muối tiêu của bà. Chưa đến năm mươi tuổi nhưng bà đã già nhanh vài năm sau này. Con sông nhỏ lượn vòng và xa dần về phía bên trái bà. Dọc theo khúc bờ sông quanh co này, người ta đổ những đống đá lớn cách nhau vài ba trăm mét, mà dân địa phương gọi là “cánh hàn”, để giảm bớt sức nước chảy có thể sói mòn đê. Bà thở dài. Cảnh vật và thiên nhiên không thay đổi nhiều, nhưng đất nước bà đang trải qua một khúc quẹo gắt - độc lập một phần từ tay thực dân Pháp. Dù bà không được học nhiều nhưng bà cũng biết rằng độc lập cho đất nước luôn luôn là ước vọng của toàn dân Việt kể từ ngày dựng nước. Hơn một ngàn năm bị đế quốc phương bắc thống trị, người dân Việt, với một đất nước chỉ lớn bằng phân nửa chữ S phía trên, đã không những không bị anh khổng lồ đồng hóa, không những đã quét sạch được kẻ xâm lăng, mà còn tiến về phía Nam, mở rộng đất nước để tạo thành một chữ S toàn vẹn như ngày hôm nay. Và quả thực, suốt hơn 80 năm đô hộ nước ta, thực dân Pháp chưa từng có một ngày hoàn toàn yên ổn để mà cai trị. Ðó đây rải rác khắp nước luôn luôn có một hình thức chống đối, một cuộc nổi dậy, dù lớn hay nhỏ, do đủ mọi thành phần dân chúng tham dự. Vậy mà ngày toàn dân khởi nghĩa chống Pháp đã bị một số người lái đi chệch hướng để rồi ngày hôm nay tạo ra cái chiến dịch bệnh hoạn này, cái chiến dịch khủng bố, khơi dậy hận thù, đòi hỏi trả thù, cái chiến dịch đầy nước mắt và máu. Tại sao vậy? Ðể làm gì vậy? Phải chăng đó là lý do khiến đất nước chưa được độc lập hoàn toàn? Không ai có thể giải thích được ngoài những người chủ trương tạo ra nó. Thình lình người đàn bà nghe tiếng cười nói phía sau lưng bà. Bà quay lại và trông thấy từng tốp năm người, ba người, những khuôn mặt quen thuộc cũng như những khuôn mặt lạ, những người dân làng bà và những người dân các làng lân cận. Bà nắm tay con đi chậm lại để chào hỏi người quen, và để xem mình có còn “bạn bè” không. Nhưng bà thật thất vọng, bà không còn bạn bè nữa. Tiếng cười nói im bặt khi những người dân làng đi qua mặt mẹ con bà. Tất cả họ quay mặt đi như không nhìn thấy hai bóng người một lớn một nhỏ đang thất thểu bước đi trên con đường đê vào cái buổi sáng sớm khó quên ấy. Bà nắm chặt tay con để khỏi bật ra tiếng khóc. Không, bà phải can đảm, phải tỉnh táo để đương đầu với nghịch cảnh này. Từ đầu dốc đổ xuống đình làng, người đàn bà có thể trông thấy từng nhóm người đang đứng trước sân đình truyện trò, khoa chân múa tay, cười nói vui vẻ. Bà chắc chắn rằng họ đang nói về gia đình bà, về chồng bà. Ðây là một “phiên toà” ư? Họ làm to chuyện như thế này thì bà có thể thấy trước được số phận của chồng bà. Cái hy vọng nhỏ nhoi trong bà biến mất. Sự việc sẽ công khai hơn, có bài bản hơn, nhưng cũng dữ dội hơn. Bước chân bà thật nặng khi mẹ con bà tiến đến gần sân đình. Dân làng bỗng im lặng, họ chỉ liếc nhìn hai mẹ con bà và rẽ lối cho hai mẹ con bà bước vào trong đình làng.
Bên trong đình không có ai ngoài anh du kích quen thuộc. Anh đang ngồi trên một trong hai cái ghế sau một cái bàn nhỏ kê lùi về phía sau gian đình. Trên bàn đặt bức hình vị lãnh tụ của chế độ mới. Anh du kích đứng dậy, chỉ vào chỗ gần giữa đình, ra hiệu cho hai mẹ con bà ngồi xuống. Bà nhìn đăm đăm hình vị lãnh tụ. Khuôn mặt ông trông thật hiền, với cặp mắt sáng và bộ râu dài. Bà thắc mắc ông có biết nước mắt và máu đang rơi trong một phần dân chúng của ông không, ông có biết một không khí hận thù đang toả lan trong vùng ông cai trị không. Ông không biết hay chính ông chủ trương? Sao ông có thể ngồi đó để chứng kiến những hành động bạo tàn này? Trên tường phía sau cái bàn có treo lá cờ lớn của chế độ mới, màu đỏ với ngôi sao vàng ở giữa. Ngay phía dưới lá cờ là một cái hình lớn hơn của vị lãnh tụ. Nhích hơn về phía trên, hơi lùi về phía bên trái là lá cờ của giới vô sản quốc tế, cũng màu đỏ với hình cái búa và cái liềm đặt chéo lên nhau. Bà thấy lạnh xương sống. Hai lá cờ màu đỏ đập vào mắt bà, che mất tầm nhìn của bà. Mắt bà hoa lên. Bà chỉ trông thấy trong một không gian màu đỏ, những người làm cách mạng vô sản đang giữ nhịp, đang hướng dẫn đám dân lành ca hát, nhảy múa, hò hét những khẩu hiệu đầy hận thù, những khẩu hiệu đòi nợ máu. “Nhưng chồng tôi có nợ máu ai đâu”, bà thầm nghĩ.
Một hồi trống vang lên. Dân làng lũ lượt kéo nhau vào trong đình, ngồi bẹp xuống đất chung quanh gian đình. Chờ dân làng ngồi vào vị trí xong, anh du kích đứng dậy, khoác khẩu súng trường lên vai, bước tới cánh cửa phía sau gian đình, và mất dạng. Lát sau anh mở cửa bước ra, đi cùng một người đàn ông trạc tuổi trên sáu mươi. Ông thấp người, hai tay chắp sau lưng, dáng mệt mỏi, nhưng bước đi vẫn vững vàng. Mọi người nhìn ông chằm chằm. Anh du kích dắt ông tới giữa đình, khoảng giữa người đàn bà và cái bàn. Ông nhìn vợ con thương cảm, nhưng bình tĩnh, vì vợ chồng ông đã chuẩn bị cho cái giờ phút này từ lâu. Anh du kích nắm vai xoay người ông, và đè vai cho ông ngồi xuống. Lúc này vợ con ông mới thấy rằng tay ông bị trói bằng một dây thừng to bằng ngón tay cái. Trước lúc rời khỏi nhà, người đàn bà đã dặn con rằng dù thấy bố bị như thế nào cũng không được khóc. Giờ đây nó chỉ dụi mắt vào chiếc áo nâu bạc màu của mẹ nó. Một hồi trống thứ hai nổi nên. Mọi người nhìn vào phía trong gian đình. Cửa mở, ông chủ tịch xã bước ra cùng một người đàn bà lạ vai đeo chiếc túi da kẹp. Họ bước tới chiếc bàn, ông chủ tịch kéo ghế cho người đàn bà lạ ngồi, rồi ông mới ngồi xuống. Ông hắng giọng cho mọi người chú ý, rồi giới thiệu người đàn bà lạ là ủy viên tư pháp trên huyện về để xử lý vụ việc này. Bà huyện ủy mở túi da, lấy ra một xắp giấy, lật đi lật lại, rồi bắt đầu đọc tên họ, tuổi tác, lý lịch của nạn nhân. Bà ngưng đọc. Anh du kích hiểu ý, bắt nạn nhân qùy. Bà huyện ủy gằn giọng đọc bản cáo trạng, đầy rẫy những tội ác mà họ gán cho nạn nhân, tất cả đều là tội bóc lột dưới mọi hình thức, đưa đến cái đói nghèo cho nhân dân, và cái chết đói của nhân dân. Ðó là món nợ máu của nhân dân mà nạn nhân phải trả.
Bà huyện ủy đặt mấy tờ giấy xuống bàn:
-Tên địa chủ ác ôn kia! Mày biết tội mày chưa?
Nạn nhân nhìn thẳng vào mặt bà huyện ủy, nói lớn:
-Tôi không bóc lột ai. Tôi không nợ máu ai.
Bà huyện ủy đập bàn:
-Mày không bóc lột thì sao mày giàu, hả? Mày giàu mà người khác chết đói, không phải mày gây nợ máu, hả?
Nạn nhân cũng la lớn không kém:
-Tôi lao động lương thiện. Tôi không giết ai. Tôi đã giao nộp đất đai cho các người từ lâu.
Bà huyện ủy quay nhìn dân làng:
-Tên địa chủ ác ôn này ngoan cố lắm. Nó có giao nộp đất thì trước đó nó đã hưởng bao nhiêu năm rồi.
Rồi bà ta chỉ vào mặt nạn nhân:
-Chúng ta sẽ cho mày biết kỷ luật của cách mạng.
Bà huyện ủy giơ tay ra hiệu. Từ trong đám dân làng bước ra hai thanh niên lực lưỡng, một người cầm cuộn dây thừng to gần bằng cườm tay người lớn. Họ bước tới nạn nhân và đè nạn nhân nằm sấp xuống. Dùng một đầu dây, họ trói hai tay và hai chân nạn nhân vào với nhau theo cách thức mà người ta trói heo khiêng đi bán hay đi làm thịt. Rồi họ tung đầu dây còn lại qua cái xà chính của gian đình, to gần bằng một vòng tay người lớn, chờ đợi. Dân làng nín thở. Người đàn bà bật khóc, giấu mặt giữa hai đầu gối. Thằng bé cũng giấu mặt vào cạnh sườn của mẹ nó.
Bà huyện ủy quát lớn:
-Tên địa chủ ác ôn kia có nhận tội không?
Không nghe nạn nhân trả lời, bà huyện ủy hắng giọng. Hai thanh niên vươn cao tay, kéo mạnh đầu dây. Nạn nhân bị rút khỏi mặt đất lên khoảng đầu gối hai thanh niên, trong tư thế cong người, rồi rớt bụng xuống trước. Ông khẽ kêu: “Giê…Su…”.
Hai thanh niên nghe ông kêu Giê Su, bèn báo cáo với bà huyện ủy:
-Nó kêu Chúa nó.
Bà huyện ủy nổi giận:
-Cao hơn cho nó thấy Chúa nó.
Hai thanh niên nhón gót, kéo mạnh hơn. Nạn nhân bị rút lên khoảng ngang tầm bụng hai thanh niên, rồi cho rơi. Dân làng có thể nghe tiếng “bịch” của bụng nạn nhân, và tiếng “kịch” của đầu nạn nhân. Nạn nhân không rên la. Ông chỉ lim rim cặp mắt, dường như ông đang đọc kinh ăn năn tội.
Người đàn bà lau nước mắt, ngước nhìn bà huyện ủy:
-Xin bà….
Nhưng bà không thể nói hết vì như có một cái gì chặn ngang cổ họng bà. Ðiều bà muốn “xin” không phải là mạng sống cho chồng bà, mà là một cái chết ít đau đớn hơn, ít dữ dội hơn. Không nói được, bà chỉ còn biết nhìn chồng, đau đớn, và lâm râm cầu nguyện cho cơn đau đớn của chồng bà chóng qua đi..
Nở một nụ cười quỷ quyệt, bà huyện ủy đổi giọng, nhỏ nhẹ hỏi nạn nhân:
-Sao, ông địa chủ? Ông sẵn sàng nhận tội chưa? Nếu ông nhận tội, chúng tôi sẽ xin với trên khoan hồng cho ông.
Nạn nhân không trả lời. Ông dư biết rằng đó chỉ là trò chơi xảo quyệt của bà huyện ủy, bản án của ông đã được định sẵn, không cách gì ông có thể thoát được cái chết. Ông cố gắng quay đầu nhìn vợ con như nhìn lần cuối cùng.
Thấy vậy, ông chủ tịch xã nói với bà huyện ủy:
-Nó muốn chết.
-Ðâu có dễ vậy.
Ðoạn bà quay thét với hai thanh niên:
-Cao lên gấp hai lần.
Hai con người lực lưỡng nhún mình, lấy đà nhảy lên cao để kéo sợi dây thừng. Lần này nạn nhân bị kéo cao ngang tầm vai một người lớn. Người đàn bà nhảy chồm tới chồng bà như muốn đưa thân mình ra để đỡ, nhưng một thanh niên nhanh mắt đạp bà ngược trở lại. Bà chỉ kịp quay lại nhìn máu ọc ra từ khoé miệng chồng bà. Ông thở hắt ra rồi nằm bất động.
Một cơn gió lạnh buốt ào vào trong gian đình cuốn tung mấy tờ giấy cáo trạng của bà huyện ủy rơi lả tả xuống đất. Dân làng ngơ ngác nhìn nhau, một số người ôm lấy nhau, trong khi anh du kích chĩa mũi súng vu vơ ra phía ngoài, sẵn sàng nhả đạn. Vợ con nạn nhân không khóc được nữa. Họ chỉ lặng nhìn người ta vừa khiêng vừa kéo người thân của họ đi ra phía sau đình làng, mất hút.
Người đàn bà và con được lệnh rời khỏi nhà ngay sau phiên xử, chỉ được mang theo quần áo và gạo đủ ăn trong ba ngày.
Thấy em đã đọc xong, nhưng vẫn mân mê mấy tờ giấy, bác Tiên cũng không nói gì. Ông có vẻ lơ đãng, ngắt mấy cái lá mơ, chấm sâu vào chén mắm tôm, kẹp theo vài miếng ớt, bỏ miệng nhai chậm chậm. Em nghĩ ông đang nhai những mùi vị của cuộc đời, chua, cay, mặn, chát, nhưng không có vị ngọt. Nuốt hết những mùi vị của cuộc đời đó, ông mới nhìn em, nói chậm rãi: “Người đàn bà là… mẹ tôi. Nạn nhân là bố ghẻ của tôi. Ðứa con trai là em cùng mẹ khác bố với tôi”. “Vậy bác là…”, em định hỏi xem bác Tiên là con ông thứ nhất hay ông thứ hai, thì ông xua tay: “Hôm nay như vậy đủ rồi. Ðể khi khác”. Ðoạn ông nâng ly: “Uống đi”.
Người đàn bà xách bị quần áo, cùng con ra khỏi nhà. Bà khép hờ hai cánh cổng, dắt tay con bước qua khoảng đất trống được dùng làm chợ làng, leo lên dốc đê. Gió sớm từ dưới sông thổi lên, luồn vào những sợi tóc thưa đang ngả màu muối tiêu của bà. Chưa đến năm mươi tuổi nhưng bà đã già nhanh vài năm sau này. Con sông nhỏ lượn vòng và xa dần về phía bên trái bà. Dọc theo khúc bờ sông quanh co này, người ta đổ những đống đá lớn cách nhau vài ba trăm mét, mà dân địa phương gọi là “cánh hàn”, để giảm bớt sức nước chảy có thể sói mòn đê. Bà thở dài. Cảnh vật và thiên nhiên không thay đổi nhiều, nhưng đất nước bà đang trải qua một khúc quẹo gắt - độc lập một phần từ tay thực dân Pháp. Dù bà không được học nhiều nhưng bà cũng biết rằng độc lập cho đất nước luôn luôn là ước vọng của toàn dân Việt kể từ ngày dựng nước. Hơn một ngàn năm bị đế quốc phương bắc thống trị, người dân Việt, với một đất nước chỉ lớn bằng phân nửa chữ S phía trên, đã không những không bị anh khổng lồ đồng hóa, không những đã quét sạch được kẻ xâm lăng, mà còn tiến về phía Nam, mở rộng đất nước để tạo thành một chữ S toàn vẹn như ngày hôm nay. Và quả thực, suốt hơn 80 năm đô hộ nước ta, thực dân Pháp chưa từng có một ngày hoàn toàn yên ổn để mà cai trị. Ðó đây rải rác khắp nước luôn luôn có một hình thức chống đối, một cuộc nổi dậy, dù lớn hay nhỏ, do đủ mọi thành phần dân chúng tham dự. Vậy mà ngày toàn dân khởi nghĩa chống Pháp đã bị một số người lái đi chệch hướng để rồi ngày hôm nay tạo ra cái chiến dịch bệnh hoạn này, cái chiến dịch khủng bố, khơi dậy hận thù, đòi hỏi trả thù, cái chiến dịch đầy nước mắt và máu. Tại sao vậy? Ðể làm gì vậy? Phải chăng đó là lý do khiến đất nước chưa được độc lập hoàn toàn? Không ai có thể giải thích được ngoài những người chủ trương tạo ra nó. Thình lình người đàn bà nghe tiếng cười nói phía sau lưng bà. Bà quay lại và trông thấy từng tốp năm người, ba người, những khuôn mặt quen thuộc cũng như những khuôn mặt lạ, những người dân làng bà và những người dân các làng lân cận. Bà nắm tay con đi chậm lại để chào hỏi người quen, và để xem mình có còn “bạn bè” không. Nhưng bà thật thất vọng, bà không còn bạn bè nữa. Tiếng cười nói im bặt khi những người dân làng đi qua mặt mẹ con bà. Tất cả họ quay mặt đi như không nhìn thấy hai bóng người một lớn một nhỏ đang thất thểu bước đi trên con đường đê vào cái buổi sáng sớm khó quên ấy. Bà nắm chặt tay con để khỏi bật ra tiếng khóc. Không, bà phải can đảm, phải tỉnh táo để đương đầu với nghịch cảnh này. Từ đầu dốc đổ xuống đình làng, người đàn bà có thể trông thấy từng nhóm người đang đứng trước sân đình truyện trò, khoa chân múa tay, cười nói vui vẻ. Bà chắc chắn rằng họ đang nói về gia đình bà, về chồng bà. Ðây là một “phiên toà” ư? Họ làm to chuyện như thế này thì bà có thể thấy trước được số phận của chồng bà. Cái hy vọng nhỏ nhoi trong bà biến mất. Sự việc sẽ công khai hơn, có bài bản hơn, nhưng cũng dữ dội hơn. Bước chân bà thật nặng khi mẹ con bà tiến đến gần sân đình. Dân làng bỗng im lặng, họ chỉ liếc nhìn hai mẹ con bà và rẽ lối cho hai mẹ con bà bước vào trong đình làng.
Bên trong đình không có ai ngoài anh du kích quen thuộc. Anh đang ngồi trên một trong hai cái ghế sau một cái bàn nhỏ kê lùi về phía sau gian đình. Trên bàn đặt bức hình vị lãnh tụ của chế độ mới. Anh du kích đứng dậy, chỉ vào chỗ gần giữa đình, ra hiệu cho hai mẹ con bà ngồi xuống. Bà nhìn đăm đăm hình vị lãnh tụ. Khuôn mặt ông trông thật hiền, với cặp mắt sáng và bộ râu dài. Bà thắc mắc ông có biết nước mắt và máu đang rơi trong một phần dân chúng của ông không, ông có biết một không khí hận thù đang toả lan trong vùng ông cai trị không. Ông không biết hay chính ông chủ trương? Sao ông có thể ngồi đó để chứng kiến những hành động bạo tàn này? Trên tường phía sau cái bàn có treo lá cờ lớn của chế độ mới, màu đỏ với ngôi sao vàng ở giữa. Ngay phía dưới lá cờ là một cái hình lớn hơn của vị lãnh tụ. Nhích hơn về phía trên, hơi lùi về phía bên trái là lá cờ của giới vô sản quốc tế, cũng màu đỏ với hình cái búa và cái liềm đặt chéo lên nhau. Bà thấy lạnh xương sống. Hai lá cờ màu đỏ đập vào mắt bà, che mất tầm nhìn của bà. Mắt bà hoa lên. Bà chỉ trông thấy trong một không gian màu đỏ, những người làm cách mạng vô sản đang giữ nhịp, đang hướng dẫn đám dân lành ca hát, nhảy múa, hò hét những khẩu hiệu đầy hận thù, những khẩu hiệu đòi nợ máu. “Nhưng chồng tôi có nợ máu ai đâu”, bà thầm nghĩ.
Một hồi trống vang lên. Dân làng lũ lượt kéo nhau vào trong đình, ngồi bẹp xuống đất chung quanh gian đình. Chờ dân làng ngồi vào vị trí xong, anh du kích đứng dậy, khoác khẩu súng trường lên vai, bước tới cánh cửa phía sau gian đình, và mất dạng. Lát sau anh mở cửa bước ra, đi cùng một người đàn ông trạc tuổi trên sáu mươi. Ông thấp người, hai tay chắp sau lưng, dáng mệt mỏi, nhưng bước đi vẫn vững vàng. Mọi người nhìn ông chằm chằm. Anh du kích dắt ông tới giữa đình, khoảng giữa người đàn bà và cái bàn. Ông nhìn vợ con thương cảm, nhưng bình tĩnh, vì vợ chồng ông đã chuẩn bị cho cái giờ phút này từ lâu. Anh du kích nắm vai xoay người ông, và đè vai cho ông ngồi xuống. Lúc này vợ con ông mới thấy rằng tay ông bị trói bằng một dây thừng to bằng ngón tay cái. Trước lúc rời khỏi nhà, người đàn bà đã dặn con rằng dù thấy bố bị như thế nào cũng không được khóc. Giờ đây nó chỉ dụi mắt vào chiếc áo nâu bạc màu của mẹ nó. Một hồi trống thứ hai nổi nên. Mọi người nhìn vào phía trong gian đình. Cửa mở, ông chủ tịch xã bước ra cùng một người đàn bà lạ vai đeo chiếc túi da kẹp. Họ bước tới chiếc bàn, ông chủ tịch kéo ghế cho người đàn bà lạ ngồi, rồi ông mới ngồi xuống. Ông hắng giọng cho mọi người chú ý, rồi giới thiệu người đàn bà lạ là ủy viên tư pháp trên huyện về để xử lý vụ việc này. Bà huyện ủy mở túi da, lấy ra một xắp giấy, lật đi lật lại, rồi bắt đầu đọc tên họ, tuổi tác, lý lịch của nạn nhân. Bà ngưng đọc. Anh du kích hiểu ý, bắt nạn nhân qùy. Bà huyện ủy gằn giọng đọc bản cáo trạng, đầy rẫy những tội ác mà họ gán cho nạn nhân, tất cả đều là tội bóc lột dưới mọi hình thức, đưa đến cái đói nghèo cho nhân dân, và cái chết đói của nhân dân. Ðó là món nợ máu của nhân dân mà nạn nhân phải trả.
Bà huyện ủy đặt mấy tờ giấy xuống bàn:
-Tên địa chủ ác ôn kia! Mày biết tội mày chưa?
Nạn nhân nhìn thẳng vào mặt bà huyện ủy, nói lớn:
-Tôi không bóc lột ai. Tôi không nợ máu ai.
Bà huyện ủy đập bàn:
-Mày không bóc lột thì sao mày giàu, hả? Mày giàu mà người khác chết đói, không phải mày gây nợ máu, hả?
Nạn nhân cũng la lớn không kém:
-Tôi lao động lương thiện. Tôi không giết ai. Tôi đã giao nộp đất đai cho các người từ lâu.
Bà huyện ủy quay nhìn dân làng:
-Tên địa chủ ác ôn này ngoan cố lắm. Nó có giao nộp đất thì trước đó nó đã hưởng bao nhiêu năm rồi.
Rồi bà ta chỉ vào mặt nạn nhân:
-Chúng ta sẽ cho mày biết kỷ luật của cách mạng.
Bà huyện ủy giơ tay ra hiệu. Từ trong đám dân làng bước ra hai thanh niên lực lưỡng, một người cầm cuộn dây thừng to gần bằng cườm tay người lớn. Họ bước tới nạn nhân và đè nạn nhân nằm sấp xuống. Dùng một đầu dây, họ trói hai tay và hai chân nạn nhân vào với nhau theo cách thức mà người ta trói heo khiêng đi bán hay đi làm thịt. Rồi họ tung đầu dây còn lại qua cái xà chính của gian đình, to gần bằng một vòng tay người lớn, chờ đợi. Dân làng nín thở. Người đàn bà bật khóc, giấu mặt giữa hai đầu gối. Thằng bé cũng giấu mặt vào cạnh sườn của mẹ nó.
Bà huyện ủy quát lớn:
-Tên địa chủ ác ôn kia có nhận tội không?
Không nghe nạn nhân trả lời, bà huyện ủy hắng giọng. Hai thanh niên vươn cao tay, kéo mạnh đầu dây. Nạn nhân bị rút khỏi mặt đất lên khoảng đầu gối hai thanh niên, trong tư thế cong người, rồi rớt bụng xuống trước. Ông khẽ kêu: “Giê…Su…”.
Hai thanh niên nghe ông kêu Giê Su, bèn báo cáo với bà huyện ủy:
-Nó kêu Chúa nó.
Bà huyện ủy nổi giận:
-Cao hơn cho nó thấy Chúa nó.
Hai thanh niên nhón gót, kéo mạnh hơn. Nạn nhân bị rút lên khoảng ngang tầm bụng hai thanh niên, rồi cho rơi. Dân làng có thể nghe tiếng “bịch” của bụng nạn nhân, và tiếng “kịch” của đầu nạn nhân. Nạn nhân không rên la. Ông chỉ lim rim cặp mắt, dường như ông đang đọc kinh ăn năn tội.
Người đàn bà lau nước mắt, ngước nhìn bà huyện ủy:
-Xin bà….
Nhưng bà không thể nói hết vì như có một cái gì chặn ngang cổ họng bà. Ðiều bà muốn “xin” không phải là mạng sống cho chồng bà, mà là một cái chết ít đau đớn hơn, ít dữ dội hơn. Không nói được, bà chỉ còn biết nhìn chồng, đau đớn, và lâm râm cầu nguyện cho cơn đau đớn của chồng bà chóng qua đi..
Nở một nụ cười quỷ quyệt, bà huyện ủy đổi giọng, nhỏ nhẹ hỏi nạn nhân:
-Sao, ông địa chủ? Ông sẵn sàng nhận tội chưa? Nếu ông nhận tội, chúng tôi sẽ xin với trên khoan hồng cho ông.
Nạn nhân không trả lời. Ông dư biết rằng đó chỉ là trò chơi xảo quyệt của bà huyện ủy, bản án của ông đã được định sẵn, không cách gì ông có thể thoát được cái chết. Ông cố gắng quay đầu nhìn vợ con như nhìn lần cuối cùng.
Thấy vậy, ông chủ tịch xã nói với bà huyện ủy:
-Nó muốn chết.
-Ðâu có dễ vậy.
Ðoạn bà quay thét với hai thanh niên:
-Cao lên gấp hai lần.
Hai con người lực lưỡng nhún mình, lấy đà nhảy lên cao để kéo sợi dây thừng. Lần này nạn nhân bị kéo cao ngang tầm vai một người lớn. Người đàn bà nhảy chồm tới chồng bà như muốn đưa thân mình ra để đỡ, nhưng một thanh niên nhanh mắt đạp bà ngược trở lại. Bà chỉ kịp quay lại nhìn máu ọc ra từ khoé miệng chồng bà. Ông thở hắt ra rồi nằm bất động.
Một cơn gió lạnh buốt ào vào trong gian đình cuốn tung mấy tờ giấy cáo trạng của bà huyện ủy rơi lả tả xuống đất. Dân làng ngơ ngác nhìn nhau, một số người ôm lấy nhau, trong khi anh du kích chĩa mũi súng vu vơ ra phía ngoài, sẵn sàng nhả đạn. Vợ con nạn nhân không khóc được nữa. Họ chỉ lặng nhìn người ta vừa khiêng vừa kéo người thân của họ đi ra phía sau đình làng, mất hút.
Người đàn bà và con được lệnh rời khỏi nhà ngay sau phiên xử, chỉ được mang theo quần áo và gạo đủ ăn trong ba ngày.
Thấy em đã đọc xong, nhưng vẫn mân mê mấy tờ giấy, bác Tiên cũng không nói gì. Ông có vẻ lơ đãng, ngắt mấy cái lá mơ, chấm sâu vào chén mắm tôm, kẹp theo vài miếng ớt, bỏ miệng nhai chậm chậm. Em nghĩ ông đang nhai những mùi vị của cuộc đời, chua, cay, mặn, chát, nhưng không có vị ngọt. Nuốt hết những mùi vị của cuộc đời đó, ông mới nhìn em, nói chậm rãi: “Người đàn bà là… mẹ tôi. Nạn nhân là bố ghẻ của tôi. Ðứa con trai là em cùng mẹ khác bố với tôi”. “Vậy bác là…”, em định hỏi xem bác Tiên là con ông thứ nhất hay ông thứ hai, thì ông xua tay: “Hôm nay như vậy đủ rồi. Ðể khi khác”. Ðoạn ông nâng ly: “Uống đi”.