LTS: Băng Cơ là công tác viên thường xuyên của VietCatholic.Net. Tác giả đóng góp vào chương trình Thông Tấn Xã Công Giáo Việt Nam qua loạt bài Thư Trong Nước thường được đưa lên mạng lưới vào mỗi ngày Chúa Nhật. Trân trọng kính mời quý độc giả đón xem.
Thư trong nước (8): Món nợ máu (tiếp theo).
Một tia hy vọng nhỏ nhoi lóe trong đầu bà. Có xử án ư? May ra chồng bà có thể tránh được cái chết. Bà lấy vài bộ quần áo của ông để đem theo, trường hợp ông chỉ bị tù thì có cái mà thay đổi. Bà kiểm điểm lại những việc làm của ông trong quá khứ. Ông không gây thù chuốc oán với ai. Ngược lại, ông chỉ giúp đỡ những người nghèo hơn khi họ cần đến ông. Bà vào giường, vén mùng, đánh thức con dậy. Ðứa bé vuôn vai, vô tư như không nhớ chuyện gì đã xảy ra chiều hôm trước. Bà bảo con ra ao rửa mặt rồi vào ăn cơm. Ðã từ lâu, nồi cơm gia đình gồm một phần gạo, độn với hai ba phần khoai lang khô, thức ăn là vại cà chén nén ăn quanh năm. Bà ngồi nhìn con ăn mà nước mắt lại ứa ra. Bà cũng muốn ăn chút đỉnh nhưng nuốt không trôi. Thằng bé thấy mẹ không ăn cũng muốn hỏi nhưng lại thôi. Nó biết mẹ nó đang lo lắm. Nó cũng buồn. Người ta đã bắt bố nó đi mà nó hỏi thì mẹ nó cũng không biết tại sao. Những câu trả lời của mẹ nó không làm nó thỏa mãn. Nó có cảm tưởng như mẹ nó cũng chẳng biết gì hơn nó. Chợt có tiếng gà gáy xa xa. Người đàn bà quay nhìn ra phía ao. Qua rặng tre phía bên kia bờ ao, bà có thể trông thấy một phần trái cầu đỏ đang xuất hiện ở chân trời, với những tia lửa gay gắt bắn lên bầu trời. Bà rùng mình - đỏ, mầu máu. Không, thiên nhiên không tàn ác như vậy. Tất cả chỉ do con người.
“Hồng nhan đa truân”, ai đó đã có lần nói với bà. Tất cả cái dĩ vãng bỗng hiện nhanh về. Từ khi bắt đầu cắp sách đến trường, bà đã ở với anh trai bà có tiệm vải trong Huế để được đi học. Rồi khi mới chín hay mười tuổi, một lần Vua tới thăm trường và học sinh đứng sắp hàng đón Vua. Vua đi tới bà thì dừng lại, cầm tay bà và khen: “Con cái nhà ai mà có bàn tay đẹp thế này”. Mẹ bà biết được, bèn bảo anh bà đưa bà về quê, e rằng khi lớn lên sẽ bị Vua gọi vào cung làm tì thiếp, vì bà không những “có bàn tay đẹp” mà còn rất xinh gái. Vậy mà cái câu khen tặng của Vua vẫn cứ ám ảnh mẹ bà, để rồi mẹ bà đã gả chồng cho bà vào năm bà mới mười hai tuổi. Chồng bà hơn bà hai tuổi. Gia đình bên chồng làm nghề dệt chiếu và buôn bán cói để dệt chiếu, có ghe để đi giao hàng tới tận các tỉnh lân cận; thỉnh thoảng bà cũng đi theo, rất vui. Cặp vợ chồng con nít này cứ cãi nhau, tranh ăn… khiến mẹ chồng bà phải can thiệp, dàn xếp. Thế rồi đứa con trai đầu lòng ra đời khi bà mười bốn tuổi và đến năm bà mười bẩy tuổi thì đã ba con, hai trai một gái. Một lần chồng bà đi theo ghe giao hàng, và không trở về nữa. Mấy người chèo ghe báo lại rằng cậu chủ nhắn về là cậu đi làm cách mạng. Gia đình buồn lắm. Mẹ chồng bà và bà khóc hết nước mắt. Mẹ chồng bà nói rằng chồng bà ham vui đi theo bạn bè rủ rê, chứ biết gì mà đi làm cách mạng. Mười năm chờ chồng, thỉnh thoảng bà lại đem con về ở với mẹ ruột vài tháng. Và vào buổi chiều trước tết năm ấy, gia đình đang chuẩn bị đón xuân thì một người đàn ông trạc tuổi chồng bà bước vào, báo tin chồng bà đã hy sinh cách đó nhiều năm nhưng không có người về đưa tin. Một mùa xuân buồn. Gia đình biếu người đưa tin bánh, mứt để đón xuân nhưng anh không nhận. Ít lâu sau, bà xin phép gia đình chồng đem con về ở với mẹ ruột, chỉ nhận một số tiền nhỏ làm lộ phí. Ðược tin chồng bà chết, anh ruột bà ở Huế nhắn bà đưa con vào ở với ông, phụ bán hàng cho khuây khỏa. Lần này trở lại Huế, người góa phụ ba con đã gặp một “mối tình đầu nở muộn”. Ông là bạn của anh bà, thường tới lui chơi bài vào những ngày nghỉ. Vợ ông mới mất vì buồn rầu nhiều hơn vì bệnh. Hai người con trai ông bà đã trưởng thành và thoát ly đi làm cách mạng. Ông để họ tự quyết định, nhưng bà thì cương quyết can ngăn vì cái “tương lai sáng chói” đang chờ đón họ. Ông đang phục vụ trong Cơ Mật Viện của triều đình, và đã từng học luật tại Pháp. Tính tình ông hơi ngang tàng. Trong thời gian học luật tại Pháp, ông đã gia nhập Hội Nhân Quyền Pháp. Cái Hội này hay thọc gậy vào bánh xe cai trị của thực dân Pháp tại Ðông Dương nên Chính Phủ Pháp không ưa lắm. Tính tình ngang tàng của ông đã ảnh hưởng tới hoạn lộ của ông, ông không vượt qua nổi cái chức tham tá ở Cơ Mật Viện. Thế rồi một đám cưới đơn giản được tổ chức. Thực ra ông cũng chẳng giàu có gì - một căn nhà khiêm nhường ở cửa Thượng Tứ, không xe ô tô, chỉ có một cái xe tay kéo làm phương tiện di chuyển. “Rổ xề cạp lại”, vài người bạn thân cười nói với ông. Nhưng người trong cuộc thì rất hạnh phúc. Ông thương và lo cho ba đứa con riêng của bà, chỉ tội cái ông rất ghen, quá ghen. Một lần ông về nhà trong giờ làm việc, bà đi chợ về trễ, ông bèn đem hết quần áo của bà ra sân tẩm dầu đốt, để rồi lại phải ra ông anh bà mua vải may quần áo mới cho bà. Bà tuy ngán cái tính ghen của ông, nhưng bà rất sung sướng vì “được” ghen như vậy. Khoảng một năm sau, bà sanh cho ông một con trai khiến cuộc tình muộn càng thêm thắm thiết. Sau ngày làm việc, ông thường kể chuyện trong sở làm và trong triều đình cho bà nghe. Với sức học của bà, bà chỉ lắng nghe ông nói chứ có biết gì để góp chuyện. Một hôm đi làm về, ông kể cho bà nghe chuyện ông đánh viên quan Pháp đồng sự trong Cơ Mật Viện. Ông bảo nó dám nói xấu Vua. Ông thẳng tay tặng cho nó một cái tát nẩy lửa. Viên quan Pháp không dám đánh lại vì nó biết ông có võ. Bà hơi giật mình và linh cảm có sự chẳng lành sẽ xảy ra. Ông bảo bà đừng lo, có chuyện gì thì ông cũng có cách đối phó. Và “cái chuyện gì” đó là ông phải ra tòa về tội hành hung. Bà lo lắm nhưng ông nói cho bà biết cách ứng xử của ông. Bằng cách nào đó, ông cho tiền người bồi Việt Nam làm cho viên quan Pháp để mượn chiếc giày bên phải của viên quan Pháp. Ông in chiếc giày lên chiếc áo gấm ông mặc đi làm ngày hôm đó. Khi ra tòa, ông đem chiếc áo gấm ra làm tang vật rằng ông bị viên quan Pháp đạp vào bụng nên ông phản ứng tự vệ. Người bồi bỏ trốn mất tiêu. Ít lâu sau, ông được thăng chức Bố Chánh Án Sát tại tỉnh quê bà. Các quan đồng sự mở tiệc mừng. Dự tiệc về, ông thấy choáng váng và rất khó chịu. Ông biết đó không phải do rượu gây ra, bèn bảo bà đưa ông đi bệnh viện, nhưng ông tắt thở trên đường đi, chỉ kịp nói với bà là ông bị thuốc độc. Các con trai lớn của ông thì vắng nhà, bà thì sức học chưa qua bậc tiểu học, làm sao mà kiện cáo, mà bằng chứng đâu mà kiện cáo. Thời gian thực sự hạnh phúc của bà kéo dài được gần hai năm. Khi ông mất đi, bà đã mang thai được hơn ba tháng. Một lần nữa, bà lại thu xếp đưa các con về quê ngoại. Mãn tang ông và do sự mai mối, bà lại đi thêm bước nữa. Và giờ đây…. (còn tiếp)
Thư trong nước (8): Món nợ máu (tiếp theo).
Một tia hy vọng nhỏ nhoi lóe trong đầu bà. Có xử án ư? May ra chồng bà có thể tránh được cái chết. Bà lấy vài bộ quần áo của ông để đem theo, trường hợp ông chỉ bị tù thì có cái mà thay đổi. Bà kiểm điểm lại những việc làm của ông trong quá khứ. Ông không gây thù chuốc oán với ai. Ngược lại, ông chỉ giúp đỡ những người nghèo hơn khi họ cần đến ông. Bà vào giường, vén mùng, đánh thức con dậy. Ðứa bé vuôn vai, vô tư như không nhớ chuyện gì đã xảy ra chiều hôm trước. Bà bảo con ra ao rửa mặt rồi vào ăn cơm. Ðã từ lâu, nồi cơm gia đình gồm một phần gạo, độn với hai ba phần khoai lang khô, thức ăn là vại cà chén nén ăn quanh năm. Bà ngồi nhìn con ăn mà nước mắt lại ứa ra. Bà cũng muốn ăn chút đỉnh nhưng nuốt không trôi. Thằng bé thấy mẹ không ăn cũng muốn hỏi nhưng lại thôi. Nó biết mẹ nó đang lo lắm. Nó cũng buồn. Người ta đã bắt bố nó đi mà nó hỏi thì mẹ nó cũng không biết tại sao. Những câu trả lời của mẹ nó không làm nó thỏa mãn. Nó có cảm tưởng như mẹ nó cũng chẳng biết gì hơn nó. Chợt có tiếng gà gáy xa xa. Người đàn bà quay nhìn ra phía ao. Qua rặng tre phía bên kia bờ ao, bà có thể trông thấy một phần trái cầu đỏ đang xuất hiện ở chân trời, với những tia lửa gay gắt bắn lên bầu trời. Bà rùng mình - đỏ, mầu máu. Không, thiên nhiên không tàn ác như vậy. Tất cả chỉ do con người.
“Hồng nhan đa truân”, ai đó đã có lần nói với bà. Tất cả cái dĩ vãng bỗng hiện nhanh về. Từ khi bắt đầu cắp sách đến trường, bà đã ở với anh trai bà có tiệm vải trong Huế để được đi học. Rồi khi mới chín hay mười tuổi, một lần Vua tới thăm trường và học sinh đứng sắp hàng đón Vua. Vua đi tới bà thì dừng lại, cầm tay bà và khen: “Con cái nhà ai mà có bàn tay đẹp thế này”. Mẹ bà biết được, bèn bảo anh bà đưa bà về quê, e rằng khi lớn lên sẽ bị Vua gọi vào cung làm tì thiếp, vì bà không những “có bàn tay đẹp” mà còn rất xinh gái. Vậy mà cái câu khen tặng của Vua vẫn cứ ám ảnh mẹ bà, để rồi mẹ bà đã gả chồng cho bà vào năm bà mới mười hai tuổi. Chồng bà hơn bà hai tuổi. Gia đình bên chồng làm nghề dệt chiếu và buôn bán cói để dệt chiếu, có ghe để đi giao hàng tới tận các tỉnh lân cận; thỉnh thoảng bà cũng đi theo, rất vui. Cặp vợ chồng con nít này cứ cãi nhau, tranh ăn… khiến mẹ chồng bà phải can thiệp, dàn xếp. Thế rồi đứa con trai đầu lòng ra đời khi bà mười bốn tuổi và đến năm bà mười bẩy tuổi thì đã ba con, hai trai một gái. Một lần chồng bà đi theo ghe giao hàng, và không trở về nữa. Mấy người chèo ghe báo lại rằng cậu chủ nhắn về là cậu đi làm cách mạng. Gia đình buồn lắm. Mẹ chồng bà và bà khóc hết nước mắt. Mẹ chồng bà nói rằng chồng bà ham vui đi theo bạn bè rủ rê, chứ biết gì mà đi làm cách mạng. Mười năm chờ chồng, thỉnh thoảng bà lại đem con về ở với mẹ ruột vài tháng. Và vào buổi chiều trước tết năm ấy, gia đình đang chuẩn bị đón xuân thì một người đàn ông trạc tuổi chồng bà bước vào, báo tin chồng bà đã hy sinh cách đó nhiều năm nhưng không có người về đưa tin. Một mùa xuân buồn. Gia đình biếu người đưa tin bánh, mứt để đón xuân nhưng anh không nhận. Ít lâu sau, bà xin phép gia đình chồng đem con về ở với mẹ ruột, chỉ nhận một số tiền nhỏ làm lộ phí. Ðược tin chồng bà chết, anh ruột bà ở Huế nhắn bà đưa con vào ở với ông, phụ bán hàng cho khuây khỏa. Lần này trở lại Huế, người góa phụ ba con đã gặp một “mối tình đầu nở muộn”. Ông là bạn của anh bà, thường tới lui chơi bài vào những ngày nghỉ. Vợ ông mới mất vì buồn rầu nhiều hơn vì bệnh. Hai người con trai ông bà đã trưởng thành và thoát ly đi làm cách mạng. Ông để họ tự quyết định, nhưng bà thì cương quyết can ngăn vì cái “tương lai sáng chói” đang chờ đón họ. Ông đang phục vụ trong Cơ Mật Viện của triều đình, và đã từng học luật tại Pháp. Tính tình ông hơi ngang tàng. Trong thời gian học luật tại Pháp, ông đã gia nhập Hội Nhân Quyền Pháp. Cái Hội này hay thọc gậy vào bánh xe cai trị của thực dân Pháp tại Ðông Dương nên Chính Phủ Pháp không ưa lắm. Tính tình ngang tàng của ông đã ảnh hưởng tới hoạn lộ của ông, ông không vượt qua nổi cái chức tham tá ở Cơ Mật Viện. Thế rồi một đám cưới đơn giản được tổ chức. Thực ra ông cũng chẳng giàu có gì - một căn nhà khiêm nhường ở cửa Thượng Tứ, không xe ô tô, chỉ có một cái xe tay kéo làm phương tiện di chuyển. “Rổ xề cạp lại”, vài người bạn thân cười nói với ông. Nhưng người trong cuộc thì rất hạnh phúc. Ông thương và lo cho ba đứa con riêng của bà, chỉ tội cái ông rất ghen, quá ghen. Một lần ông về nhà trong giờ làm việc, bà đi chợ về trễ, ông bèn đem hết quần áo của bà ra sân tẩm dầu đốt, để rồi lại phải ra ông anh bà mua vải may quần áo mới cho bà. Bà tuy ngán cái tính ghen của ông, nhưng bà rất sung sướng vì “được” ghen như vậy. Khoảng một năm sau, bà sanh cho ông một con trai khiến cuộc tình muộn càng thêm thắm thiết. Sau ngày làm việc, ông thường kể chuyện trong sở làm và trong triều đình cho bà nghe. Với sức học của bà, bà chỉ lắng nghe ông nói chứ có biết gì để góp chuyện. Một hôm đi làm về, ông kể cho bà nghe chuyện ông đánh viên quan Pháp đồng sự trong Cơ Mật Viện. Ông bảo nó dám nói xấu Vua. Ông thẳng tay tặng cho nó một cái tát nẩy lửa. Viên quan Pháp không dám đánh lại vì nó biết ông có võ. Bà hơi giật mình và linh cảm có sự chẳng lành sẽ xảy ra. Ông bảo bà đừng lo, có chuyện gì thì ông cũng có cách đối phó. Và “cái chuyện gì” đó là ông phải ra tòa về tội hành hung. Bà lo lắm nhưng ông nói cho bà biết cách ứng xử của ông. Bằng cách nào đó, ông cho tiền người bồi Việt Nam làm cho viên quan Pháp để mượn chiếc giày bên phải của viên quan Pháp. Ông in chiếc giày lên chiếc áo gấm ông mặc đi làm ngày hôm đó. Khi ra tòa, ông đem chiếc áo gấm ra làm tang vật rằng ông bị viên quan Pháp đạp vào bụng nên ông phản ứng tự vệ. Người bồi bỏ trốn mất tiêu. Ít lâu sau, ông được thăng chức Bố Chánh Án Sát tại tỉnh quê bà. Các quan đồng sự mở tiệc mừng. Dự tiệc về, ông thấy choáng váng và rất khó chịu. Ông biết đó không phải do rượu gây ra, bèn bảo bà đưa ông đi bệnh viện, nhưng ông tắt thở trên đường đi, chỉ kịp nói với bà là ông bị thuốc độc. Các con trai lớn của ông thì vắng nhà, bà thì sức học chưa qua bậc tiểu học, làm sao mà kiện cáo, mà bằng chứng đâu mà kiện cáo. Thời gian thực sự hạnh phúc của bà kéo dài được gần hai năm. Khi ông mất đi, bà đã mang thai được hơn ba tháng. Một lần nữa, bà lại thu xếp đưa các con về quê ngoại. Mãn tang ông và do sự mai mối, bà lại đi thêm bước nữa. Và giờ đây…. (còn tiếp)