HƯỚNG VỀ TRĂM NĂM TRÌ CHÍNH
Hồng ân Thiên Chúa tràn trào
Tri ân, cảm tạ, dạt dào niềm vui.
Linh mục Hồng Phúc
Nhà thờ Giáo xứ Trì Chính

Kể từ sau ngày lễ Chầu lượt giáo xứ Trì Chính hôm Chúa nhật XXX Thường niên năm C, ngày 28.10.2007 năm vừa rồi, cho tới nay, em có về Giáo phận Phát Diệm nhiều lần nhưng chưa có dịp trở lại thăm giáo xứ Trì Chính. Trong ngày lễ Chúa Chiên Lành năm nay, em về Phát Diệm vào chiều thứ Bảy để hôm sau tham dự lễ Chầu lượt xứ Tôn Đạo. Và được sự cho phép của Cha Phêrô Nguyễn Hồng Phúc, chính xứ Nhà thờ Chính Toà Phát Diệm kiêm phụ trách hai xứ Trì Chính và xứ Phát Vinh, em đã tới tham dự lễ sáng Chúa nhật lễ Chúa Chiên Lành tại giáo xứ Trì Chính nhân dịp giáo xứ đang chuẩn bị kỷ niệm 100 năm thành lập giáo xứ, năm 1908 – 2008.
Nhà thờ Trì Chính nằm ở trong khu dân cư thuộc xã Kim Chính, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Nhà thờ Trì Chính cách Nhà thờ Chính Tòa Phát Diệm hơn 1000m, phía bên kia sông Vạc. Theo lời kể của ông Chánh trương Giuse Đỗ Văn Bằng thì vào năm 1908 thành lập Giáo xứ Trì Chính đã có ngôi Nhà thờ này. Nhà thờ được xây dựng đặt hướng nhìn ra dòng sông Vạc. Sông Vạc nối tiếp bởi sông Luồn và sông Chanh thuộc sông Hoàng Long. Dòng sông Vạc chảy qua thành phố Ninh Bình và còn là ranh giới của hai huyện Yên Khánh với huyện Yên Mô chảy tới thị trấn Kim Sơn dọc qua hai xã Kim Chính và xã Thượng Kiệm rồi nhập vào sông Đáy, từ sông Đáy chảy ra Biển Đông. Em đã đọc bài viết “Quê Hương Yêu Dấu” của Kim Ân đăng trên www.dunglac.org thì được hiểu hơn vì sao các dòng sông của huyện Kim Sơn nhiều phù sa đến thế. Trong bài, ngài viết: “Đất quê ta lật lên có màu đỏ sậm. Thủa ấu thơ tôi vẫn tin rằng đất ở đâu mà chẳng thế. Mãi tới khi lưu lạc tha hương tôi mới nhận ra rằng cũng là đất nhưng có chỗ màu vàng, có nơi màu nâu, lại có chỗ màu đen hay màu sám. Màu đất nạc đỏ sậm là nét đặc trưng của đồng bằng châu thổ sông Hồng. Đó là màu nặng trĩu muôn triệu hạt phù sa. Thiên nhiên vốn trường cửu và cứ bình thản theo nhịp sống của riêng mình để những dải đất phì nhiêu sậm đỏ cứ lớn dần lớn dần về phía biển.
Tôi từng đọc sử hai triều Đinh – Lê. Thời đó ngọn núi mà bây giờ có tên Non Nước được gọi là Trấn Hải Đài. Như vậy thì cửa biển hẳn là cách đó chẳng bao xa. Cứ theo đó mà tính thì trong khoảng ngàn năm, phù sa đã bồi đắp một dải đất chừng 50 cây số. Quê hương yêu dấu vẫn còn lưu giữ lại nhiều vết tích về công việc âm thầm nhưng thật mạnh mẽ của các dòng sông cùng với công sức khai hoang lấn biển của con người.”
Ngài viết về sự hình thành quốc lộ 10:
“Từ thị xã Ninh Bình đi theo đường số 10 chừng 15 cây số, ta gặp một con đường cắt ngang mà những bậc cao niên nay vẫn còn gọi là Đê Hồng Đức. Con đường mang tên gọi này vì đây chính là con đê lấn biển được đắp vào năm Tân Mão 1471, thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức thứ 2.
Rồi tiếp tục xuôi theo quốc lộ 10 chừng 4 cây số nữa, ta lại gặp một con đường cắt ngang nhỏ hơn có tên gọi Đường Quan. Tương truyền đó chính là con đê được quan đại thần thời Trịnh Sâm là Nguyễn Nghiễm, thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du, cho đắp vào năm Quý Tỵ 1773, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34. Tên gọi Đường Quan dường như có liên quan gì đó với đại thần Nguyễn Nghiễm. Cũng nên biết thêm rằng chữ Thần viết trên vách núi ở cửa biển Thần Phù khi xưa chính là bút tích của vị đại thần này. Tuy nhiên, sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục lại chép rằng người được Trịnh Sâm cử đi lo việc khai khẩn là Phó đô ngự sử Nguyễn Lệ.
Còn con đường huyết mạch nối Bến Đò Mười với huyện Nga Sơn Thanh Hoá, chính là con đê được đắp vào năm Kỷ Sửu 1829, năm Minh Mạng thứ 10. Cùng với con đê này, diện mạo căn bản về địa lý huyện Kim Sơn như ta thấy ngày nay cũng đã được hình thành từ thời đó.”
Khách hành hương đến Nhà thờ Trì Chính có thể đứng trên bờ sông Vạc, lối rẽ vào Nhà thờ hay đứng gần tượng Chúa Giêsu sẽ nhìn thấy được toàn cảnh Nhà thờ. Ngôi Nhà thờ thực sự nhỏ bé về diện tích, kiến trúc giản dị, khiêm tốn so với kiến trúc độc đáo của quần thể Nhà thờ Phát Diệm. Chiều dài Nhà thờ Trì Chính là 29m và chiều rộng dài 12,5m. Tháp chuông Nhà thờ được xây vào năm 1914 (có ghi năm xây dựng trên mặt tiền của tháp). Phía bên trong Nhà thờ, Cung Thánh được lát lại nền bằng gạch men; gác đàn bằng gỗ vẫn được giữ lại. Trước năm 1954, giáo xứ Trì Chính có diện tích là 4 mẫu nhưng đến nay tổng diện tích còn là gần 2 mẫu. Số giáo dân cũng có ba lần thay đổi lớn về nhân danh trong 6 họ: Trị Sở, Kiến Thái, Thủy Cơ, Kim Đại, Xuân Đài, Tân Chính.
- Lần thứ nhất từ năm 1908 đến năm 1954 có hơn 1700 tín hữu;
- Lần thứ hai từ năm 1954 số giáo dân di cư vào miền Nam gần 1000 tín hữu nên giáo xứ chỉ còn khoảng 800 tín hữu;
- Lần thứ ba là năm 2007 thành lập giáo xứ mới là giáo xứ Phát Vinh, tách ba giáo họ Kim Đại, Xuân Đài, Tân Chính nên số giáo xứ Trì Chính giờ có 1300 tín hữu.
Mặc dầu công việc mục vụ nhiều vô kể, Cha Hồng Phúc vẫn quan tâm và lo chu đáo công việc tại giáo xứ Nhà thờ Chính Toà Phát Diệm và công việc mục vụ cho hai xứ Trì Chính và xứ Phát Vinh. Ngày mồng 01.03.2004 Cha Hồng Phúc về nhận xứ Phát Diệm, thì một tháng sau Cha đã thực hiện công việc cho giáo xứ Trì Chính có được khu đất với diện tích 1.380m2 do người dân lấn chiếm trong khu đất của Nhà thờ. Bốn năm sau, ngay khi nhận lại được khu đất, Cha tiến hành công việc làm hồ và đường xung quanh hồ. Cha cũng đã cho xây lễ đài để chuẩn bị mừng lễ kỷ niệm 100 năm thành lập giáo xứ vì chưa có điều kiện để xây dựng được ngôi Nhà thờ mới. Công việc xây dựng hồ và lễ đài vẫn chưa thể hoàn tất trước ngày đại lễ do kinh phí còn thiếu nhiều, nhưng các công trình xây dựng tại giáo xứ Trì Chính là bước đánh dấu sự tồn tại và phát triển của một giáo xứ mà trong đó là rất nhiều sự nỗ lực của các Cha từng coi sóc giáo xứ và những cố gắng quyết tâm sống Đạo của giáo dân đã giữ vững đời sống Đạo từ suốt một trăm năm nay.
Trời hôm nay chuyển gió và có lất phất mưa trong cái rét của tháng Ba âm lịch. Thánh lễ lúc 5 giờ sáng Chúa nhật lễ Chúa Chiên Lành do Cha Hồng Phúc dâng lễ. Còn 15 phút nữa mới đến giờ lễ nhưng giáo dân trong xứ đang tấp nập đến Nhà thờ mỗi lúc một đông hơn. Trong Nhà thờ thì các dãy ghế chật kín người ngồi, phía ngoài sân và cuối Nhà thờ giáo dân xếp ghế nhựa để ngồi, khi số ghế nhựa cũng hết thì một số người phải đứng để tham dự thánh lễ. Các em thiếu nhi được ưu tiên ngồi ở ba dãy ghế của hai bên và ngồi ở chiếu trải phía thềm gần Cung Thánh. Em bước vào Nhà thờ và thấy có một bác chỉ chỗ cho ngồi ở hàng ghế thứ tư tính từ Cung Thánh xuống. Trong Nhà thờ thật ấm và càng ấm hơn trong tình người của giáo dân xứ Trì Chính, em nghe thấy mấy tiếng thì thầm của các bà hỏi thăm nhau nhưng tiếng đọc Kinh ngày Chúa nhật và Kinh Năm Thánh vẫn âm vang, trầm bổng.
Thánh lễ được bắt đầu trong tiếng hát cất lên của ca đoàn giáo xứ với bài Thánh ca “Chúa chăn nuôi tôi”. Niềm vui hân hoan của ngày lễ Chúa Chiên Lành có trong từng lời cầu nguyện của giáo dân đang hướng về kỷ niệm 100 năm thành lập giáo xứ Trì Chính, và đặc biệt là bài giảng lễ của Cha Hồng Phúc, Cha quảng diễn Tình Yêu của Đức Giêsu Kitô, Ngài là Chúa Chiên Lành, là Mục tử nhân hậu của đàn chiên:
“Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Chiên Lành vì Đức Giêsu tự xưng mình là Mục tử tốt lành “Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta”. Không phải Chúa tự xưng thì chúng ta mới biết, nhưng là Chúa đã tự hạ và dẫn dắt chúng ta. Có một điều, một mối tương quan trong tình yêu không chỉ là đơn phương, tình yêu đáp đền bằng tình yêu. Chúa không tuyên xưng, tuyên bố thì mình cũng thấy Chúa là Mục tử tốt lành. Nhưng điều quan trọng là: Mục tử tốt lành thì chiên phải biết người Mục tử. Đối với người Do Thái thì mối tương quan giữa chủ chiên với đàn chiên không chỉ là một mối tương quan trong tình giữa chủ và đàn vật nhưng là cả một sự sống, cả một gia tài liên đới với người chủ chiên. Người Do Thái coi con chiên là tình bạn, là gia tài, thậm chí là cả một phần sự sống của họ. Như chúng ta vẫn nói, sự sống của người Do Thái là dân du mục, phụ thuộc vào đàn chiên.
Người Việt Nam chúng ta có câu: “Con trâu là đầu cơ nghiệp của nhà nông”, và vì thế người ta nói với trâu như nói với bạn:
“Trâu ơi! Ta bảo trâu này: trâu ăn no cỏ, trâu cày với ta.”
Người Do Thái còn nói với đàn chiên thân thiết hơn nhiều. Bởi lẽ, đối với con chiên của người Do Thái thì người chăn chiên với con chiên; người chăn trâu với con trâu. Người chăn trâu Việt Nam cầm cái roi đi sau con trâu còn người chăn chiên cầm cái gậy đi trước đàn chiên. Lý do, người chăn trâu cầm roi để đánh trâu, trâu đau thì trâu mới đi. Còn ngược lại, người chăn chiên cầm gậy đi trước không bao giờ để đánh chiên mà để đánh chó sói, bảo vệ cho đàn chiên. Tại sao người Việt Nam không làm như thế? Vì con trâu không dễ nghe như con chiên; người chăn chiên đi đâu thì chiên theo đó, vì chiên hiền lành đến nỗi tiên tri Isaia đã sánh ví rằng: “Như con chiên bị đem đi xén lông làm thịt, Người không la lối, không thoá mạ” ám chỉ về Đấng Mesia, Đấng xưng mình là Chiên Thiên Chúa.
Và như vậy, thì việc đàn chiên đi theo Chúa chiên tới đồng cỏ xanh tươi là những hình ảnh đẹp tuyệt vời đối với người Do Thái. Chúng ta nghe Thánh vịnh và chúng ta thấy điều đó:
“Chúa chăn nuôi tôi
Tôi chẳng thiếu thốn chi.
Trên đồng cỏ xanh rì
Người thả cho tôi nằm nghỉ.
Đến nguồn nước chỗ nghỉ ngơi
Người hướng dẫn tôi,
Tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính
sở dĩ vì uy danh Người,
Dù bước đi trong thung lũng tối
Tôi không lo mắc nạn vì Chúa ở cùng tôi.”
Tv 22
Cây roi và cái gậy của Người đó là điều an ủi lòng tôi. Không bao giờ cây roi và cái gậy là điều sợ hãi mà đó là điều an ủi lòng tôi, vì cây roi và cái gậy ấy đánh chó sói bảo vệ cho đàn chiên. Không những thế, trong cách diễn tả của người Do Thái, có một niềm tự hào thật đáng yêu:
“Người dọn cho tôi mâm cỗ ngay trước mặt những kẻ đối phương;
đầu tôi thì Chúa xức dầu thơm;
chén rượu tôi đầy tràn chan chứa.”
Tv 22
Một dân Do Thái xưa cảm nghiệm rất rõ bàn tay của Thiên Chúa, mặc dầu khi đó Thiên Chúa đến với họ qua lời các tiên tri. Còn một dân Do Thái hiện đại thì không cảm thấy tấm lòng, bàn tay của Thiên Chúa đang hiện diện với họ qua Đức Giêsu Kitô. Thành thử, Đức Giêsu tuyên bố “Ta biết chiên của Ta và chiên Ta phải biết Ta” đấy mới là điều quan trọng. Ông Pascan nói rằng: “Đức Chúa Trời phải được cảm nghiệm bằng trái tim.””
Bài giảng lễ của Cha Hồng Phúc kết thúc trong câu chuyện kể về đoàn từ thiện của Mỹ mới đến Phát Diệm vào chiều thứ Bảy ngày 12.4.2008 gồm ba người, hai người thì mới đến lần đầu tiên, nhưng một người thì đến lần thứ hai, và ông nói chuyện với Cha: “Lần trước tôi đến đây dự lễ ở Nhà thờ Chính toà Phát Diệm này, người đông đến nỗi người ta ngồi đầy trong Nhà thờ, người ta còn ngồi ra cả ngoài hè. Thành thử, tôi có cảm nhận rằng chính những người ngồi ngoài hè làm cho Nhà thờ rộng ra.” Tấm lòng của những người ngồi ngoài hè làm cho lòng Nhà thờ rộng thêm gấp bao nhiêu lần. Cha ân cần và trìu mến nói với cộng đoàn: “Hôm nay, chúng ta cũng phải nói như vậy với Trì Chính rằng Nhà thờ chúng ta bé nhưng tấm lòng của những người Kitô hữu chúng ta cũng có thể làm cho Nhà thờ của chúng ta rộng lên gấp nhiều lần. Và Chúa đang chờ đợi những tấm lòng rộng rãi đó của đàn chiên đối với Chúa Chiên. Chúng ta hãy bày tỏ, lòng kính mến của chúng ta trong lời Kinh Tin Kính mà giờ đây tôi mời gọi tất cả chúng ta cùng tuyên xưng.”
Lời Kinh Tin Kính đã được Cha Hồng Phúc cất xướng, giọng Cha khiêm tốn, mạch lạc, bình tĩnh và rất mạnh mẽ đã hướng cộng đoàn vào niềm tin và phó thác trong tâm tình yêu mến Chúa, thể hiện đức tin đích thực trong lời tuyên xưng của Hội Thánh trước Chúa, trước cộng đoàn và chính mình. Những hình ảnh và công việc rao giảng Tin Mừng của các Thánh Tông Đồ được ghi lại trong Kinh Thánh, những công việc truyền giáo của các vị thánh nam nữ, đời sống Đức Tin của các thánh Tử Đạo Việt Nam trong đó biết bao nhiêu vị Thừa Sai cùng các Đấng là người Việt Nam, của những người Kitô hữu Việt Nam, của những tín hữu thuộc Giáo phận Phát Diệm và đặc biệt là nơi Giáo xứ Trì Chính dần hiện lên trong tâm trí em. Em được nghe kể về Đức Cha Gioan Maria Phan Đình Phùng ( 24.12.1891 – 28.4.1944) là Giám Mục phó Giáo phận Phát Diệm (1940 – 1944), quê ở họ Kiến Thái, giáo xứ Trì Chính. Ngôi mộ của Đức Cha Phùng được đặt trong Cung Thánh của Nhà thờ Chính Toà Phát Diệm, ngôi mộ thứ hai tính từ trái sang. Người thứ hai em được biết là Mẹ Bề Trên Tổng Quyền Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm đương nhiệm Maria Phan thị Mai, quê tại họ Thủy Cơ, giáo xứ Trì Chính. Các ngài cùng với các đấng đã và đang coi sóc giáo xứ Trì Chính luôn sẵn sàng giúp cho giáo dân trong giáo xứ sống trung thành với Đức Tin tuyên xưng vào Thiên Chúa, theo thời gian, theo năm tháng, các ngài là gương nhân đức tuyệt vời cho biết bao người cùng tin theo, cùng sống, cùng cảm nghiệm, cùng chia sẻ…
Cuối Thánh lễ, sau khi Cha Hồng Phúc chúc lành xong, Cha đọc danh sách “Nhịp Cầu Thân Yêu”, đó là các gia đình ở Trì Chính có những người thân ở các xứ xa, con cái đã trưởng thành nhớ về quê hương và cùng hướng về trăm năm Trì Chính. Em nghe thấy có nhiều giáo dân ở các giáo xứ trong miền Nam như: Giáo xứ Phú Nhuận, Quảng Tân, Bình Minh, Bắc Hà, Bình Triệu, Định Quán, Dốc Mơ, Phú Lâm, Túc Trưng… em cũng cảm thấy trong lòng vui tươi cùng với giáo dân giáo xứ Trì Chính.
Điều mong mỏi từ nhiều năm nay của Cha xứ và giáo dân xứ Trì Chính là mong xây dựng được ngôi Nhà thờ mới, đủ rộng để giáo dân trong đến thờ phượng Chúa, không để ai phải ngồi ngoài trời trong những ngày đông giá rét nữa; không để ai phải ngồi ngoài trời trong những ngày mưa phùn gió bấc khí hậu khắc nghiệt nữa; không để ai phải ngồi ngoài trời trong những ngày trời năng chang chang như đổ lửa nữa. Và những cuộc Rước sẽ rất trọng thể khi có con đường bằng phẳng, không gồ ghề, không còn bức tường ngăn giữa Nhà thờ với con đường của Chúa; con đường mà hai bên có cỏ và hoa thiên nhiên; con đường mà từng bước chân đặt lên đó là những bước chân loan báo Tin Mừng về Thiên Chúa là Tình Yêu; con đường đó dẫn ta đến gần Chúa, dẫn ta vào Nhà Chúa. Và điều quan trọng chính là làm sao để tất cả đều cùng được quây quần bên Bàn Tiệc Thánh, chia sẻ yêu thương và quan tâm tới nhau qua lời cầu nguyện tâm tình hiệp thông với Chúa, tạ ơn Chúa.
Chỉ năm ngày nữa thôi là Giáo xứ Trì Chính mừng lễ Kỷ niệm 100 năm thành lập giáo xứ, một ngày trọng đại của cả trăm năm mới có, là của giáo xứ Trì Chính, là của giáo phận Phát Diệm và biết bao tín hữu đang ở trong nước cũng như ngoài nước cùng hướng về. em lắng nghe lời mời của Cha Hồng Phúc và ông Chánh trương, em thấy hồi hộp lạ lùng sao ấy! Những hình dung về ngày lễ trọng đại của Giáo xứ Trì Chính…
Và cùng với quý Cha, quý khách em cũng đang hướng về Trì Chính.
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2008
Teresa Avila Thuỳ Chi
CHƯƠNG TRÌNH
LỄ KHAI MẠC NĂM THÁNH GIÁO XỨ TRÌ CHÍNH
Nhờ Hồng ân Thiên Chúa qua lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria
và Thánh Quan thầy Phêrô, với tình thương hiền mẫu của Tòa Thánh:
ĐỨC CHA GIUSE NGUYỄN CHÍ LINH
Phó Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam
Giám mục Giáo Phận Thanh Hóa
Giám quản Giáo Phận Phát Diệm
Sẽ Chủ sự Thánh Lễ Khai Mạc Năm Thánh
Mừng kỷ niệm 100 năm thành lập Giáo xứ Trì Chính
Vào hồi 15h00’ ngày 23 tháng 4 năm 2008
tại Nhà thờ Giáo xứ Trì Chính
xã Kim Chính, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Chương trình:
14h00’: Đón tiếp
- Quý Cha, quý Thầy;
- Quý Hội Dòng
- Quý tu sĩ nam nữ;
- Quý khách
14h45’: Rước đoàn Đồng tế
15h00’: Thánh Lễ Khai Mạc Năm Thánh.
Thay mặt Giáo xứ:
Linh mục phụ trách xứ Phêrô Nguyễn Hồng Phúc
Điện thoại: 091.3344.103
Chánh Trương Giuse Đỗ văn Bằng
Điện thoại: 097.7019.791
KINH NĂM THÁNH GIÁO XỨ TRÌ CHÍNH
Lạy Thiên Chúa Toàn Năng hằng hữu,
Chúng con xin tạ ơn Chúa vì yêu thương và muốn cứu độ loài người,
Chúa đã sai Con Một Chúa xuống trần gian,
Qua lòng Đức Trinh Nữ Maria, bởi quyền năng Chúa Thánh Thần.
Chúng con xin cảm tạ Chúa,
Vì từ gần bốn trăm năm qua,
nhờ sự hy sinh nhiệt thành của các nhà truyền giáo và các đấng các bậc,
Đạo Thánh Chúa được gieo trồng,
trổ bông và kết trái trên mảnh đất Phát Diệm này.
Và cũng nhờ đó, giáo xứ Trì Chính chúng con sau này đã được khai sinh.
Suốt một trăm năm qua, qua bao nhiêu biến cố thăng trầm,
với bao nhiêu chông gai thử thách,
Chúa luôn yêu thương, phù trì, che chở giáo xứ chúng con.
Trước muôn vàn hồng ân ấy,
nay chúng con mừng kỷ niệm một trăm năm thành lập giáo xứ Trì Chính. Hầu mỗi người chúng con cảm nghiệm sâu sắc hơn
tình thương của Chúa đã dành cho chúng con.
Xin Chúa thương tiếp tục gìn giữ
các thế hệ Trì Chính khỏi mọi cám dỗ làm xa lìa Thiên Chúa
mà tôn thờ tiền bạc, danh vọng, lạc thú.
Xin Chúa cho các vị chủ chăn được thêm thánh thiện, khôn ngoan;
cho các tu sĩ được trung thành với ơn gọi tu trì;
cho các bậc cha mẹ biết nêu gương sáng cho con cái;
cho những người trẻ biết sống có lý tưởng, sống trong sáng,
không ngừng học hỏi, lao động, xây dựng cuộc đời theo tinh tần Kitô giáo.
Xin Chúa cho mọi người biết sống yêu thương bác ái.
Nhờ đó, diện mạo của Hội Thánh mỗi ngày một thêm rạng rỡ.
Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria và thánh Phêrô Quan thầy,
chúng con cầu xin Chúa cho mỗi người chúng con thêm lòng tin sắt son,
lòng cậy vững bền, lòng mến tha thiết.
Để nhờ Năm Thánh này, chúng con được biến đổi như lòng Chúa mong ước,
hầu mang lại những lợi ích cho Hội Thánh
và cho đất nước Việt Nam thân yêu của chúng con. Amen.
Hồng ân Thiên Chúa tràn trào
Tri ân, cảm tạ, dạt dào niềm vui.
Linh mục Hồng Phúc
Nhà thờ Giáo xứ Trì Chính

Kể từ sau ngày lễ Chầu lượt giáo xứ Trì Chính hôm Chúa nhật XXX Thường niên năm C, ngày 28.10.2007 năm vừa rồi, cho tới nay, em có về Giáo phận Phát Diệm nhiều lần nhưng chưa có dịp trở lại thăm giáo xứ Trì Chính. Trong ngày lễ Chúa Chiên Lành năm nay, em về Phát Diệm vào chiều thứ Bảy để hôm sau tham dự lễ Chầu lượt xứ Tôn Đạo. Và được sự cho phép của Cha Phêrô Nguyễn Hồng Phúc, chính xứ Nhà thờ Chính Toà Phát Diệm kiêm phụ trách hai xứ Trì Chính và xứ Phát Vinh, em đã tới tham dự lễ sáng Chúa nhật lễ Chúa Chiên Lành tại giáo xứ Trì Chính nhân dịp giáo xứ đang chuẩn bị kỷ niệm 100 năm thành lập giáo xứ, năm 1908 – 2008.
Nhà thờ Trì Chính nằm ở trong khu dân cư thuộc xã Kim Chính, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Nhà thờ Trì Chính cách Nhà thờ Chính Tòa Phát Diệm hơn 1000m, phía bên kia sông Vạc. Theo lời kể của ông Chánh trương Giuse Đỗ Văn Bằng thì vào năm 1908 thành lập Giáo xứ Trì Chính đã có ngôi Nhà thờ này. Nhà thờ được xây dựng đặt hướng nhìn ra dòng sông Vạc. Sông Vạc nối tiếp bởi sông Luồn và sông Chanh thuộc sông Hoàng Long. Dòng sông Vạc chảy qua thành phố Ninh Bình và còn là ranh giới của hai huyện Yên Khánh với huyện Yên Mô chảy tới thị trấn Kim Sơn dọc qua hai xã Kim Chính và xã Thượng Kiệm rồi nhập vào sông Đáy, từ sông Đáy chảy ra Biển Đông. Em đã đọc bài viết “Quê Hương Yêu Dấu” của Kim Ân đăng trên www.dunglac.org thì được hiểu hơn vì sao các dòng sông của huyện Kim Sơn nhiều phù sa đến thế. Trong bài, ngài viết: “Đất quê ta lật lên có màu đỏ sậm. Thủa ấu thơ tôi vẫn tin rằng đất ở đâu mà chẳng thế. Mãi tới khi lưu lạc tha hương tôi mới nhận ra rằng cũng là đất nhưng có chỗ màu vàng, có nơi màu nâu, lại có chỗ màu đen hay màu sám. Màu đất nạc đỏ sậm là nét đặc trưng của đồng bằng châu thổ sông Hồng. Đó là màu nặng trĩu muôn triệu hạt phù sa. Thiên nhiên vốn trường cửu và cứ bình thản theo nhịp sống của riêng mình để những dải đất phì nhiêu sậm đỏ cứ lớn dần lớn dần về phía biển.
Tôi từng đọc sử hai triều Đinh – Lê. Thời đó ngọn núi mà bây giờ có tên Non Nước được gọi là Trấn Hải Đài. Như vậy thì cửa biển hẳn là cách đó chẳng bao xa. Cứ theo đó mà tính thì trong khoảng ngàn năm, phù sa đã bồi đắp một dải đất chừng 50 cây số. Quê hương yêu dấu vẫn còn lưu giữ lại nhiều vết tích về công việc âm thầm nhưng thật mạnh mẽ của các dòng sông cùng với công sức khai hoang lấn biển của con người.”
Ngài viết về sự hình thành quốc lộ 10:
“Từ thị xã Ninh Bình đi theo đường số 10 chừng 15 cây số, ta gặp một con đường cắt ngang mà những bậc cao niên nay vẫn còn gọi là Đê Hồng Đức. Con đường mang tên gọi này vì đây chính là con đê lấn biển được đắp vào năm Tân Mão 1471, thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức thứ 2.
Rồi tiếp tục xuôi theo quốc lộ 10 chừng 4 cây số nữa, ta lại gặp một con đường cắt ngang nhỏ hơn có tên gọi Đường Quan. Tương truyền đó chính là con đê được quan đại thần thời Trịnh Sâm là Nguyễn Nghiễm, thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du, cho đắp vào năm Quý Tỵ 1773, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34. Tên gọi Đường Quan dường như có liên quan gì đó với đại thần Nguyễn Nghiễm. Cũng nên biết thêm rằng chữ Thần viết trên vách núi ở cửa biển Thần Phù khi xưa chính là bút tích của vị đại thần này. Tuy nhiên, sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục lại chép rằng người được Trịnh Sâm cử đi lo việc khai khẩn là Phó đô ngự sử Nguyễn Lệ.
Còn con đường huyết mạch nối Bến Đò Mười với huyện Nga Sơn Thanh Hoá, chính là con đê được đắp vào năm Kỷ Sửu 1829, năm Minh Mạng thứ 10. Cùng với con đê này, diện mạo căn bản về địa lý huyện Kim Sơn như ta thấy ngày nay cũng đã được hình thành từ thời đó.”
Khách hành hương đến Nhà thờ Trì Chính có thể đứng trên bờ sông Vạc, lối rẽ vào Nhà thờ hay đứng gần tượng Chúa Giêsu sẽ nhìn thấy được toàn cảnh Nhà thờ. Ngôi Nhà thờ thực sự nhỏ bé về diện tích, kiến trúc giản dị, khiêm tốn so với kiến trúc độc đáo của quần thể Nhà thờ Phát Diệm. Chiều dài Nhà thờ Trì Chính là 29m và chiều rộng dài 12,5m. Tháp chuông Nhà thờ được xây vào năm 1914 (có ghi năm xây dựng trên mặt tiền của tháp). Phía bên trong Nhà thờ, Cung Thánh được lát lại nền bằng gạch men; gác đàn bằng gỗ vẫn được giữ lại. Trước năm 1954, giáo xứ Trì Chính có diện tích là 4 mẫu nhưng đến nay tổng diện tích còn là gần 2 mẫu. Số giáo dân cũng có ba lần thay đổi lớn về nhân danh trong 6 họ: Trị Sở, Kiến Thái, Thủy Cơ, Kim Đại, Xuân Đài, Tân Chính.
- Lần thứ nhất từ năm 1908 đến năm 1954 có hơn 1700 tín hữu;
- Lần thứ hai từ năm 1954 số giáo dân di cư vào miền Nam gần 1000 tín hữu nên giáo xứ chỉ còn khoảng 800 tín hữu;
- Lần thứ ba là năm 2007 thành lập giáo xứ mới là giáo xứ Phát Vinh, tách ba giáo họ Kim Đại, Xuân Đài, Tân Chính nên số giáo xứ Trì Chính giờ có 1300 tín hữu.
Mặc dầu công việc mục vụ nhiều vô kể, Cha Hồng Phúc vẫn quan tâm và lo chu đáo công việc tại giáo xứ Nhà thờ Chính Toà Phát Diệm và công việc mục vụ cho hai xứ Trì Chính và xứ Phát Vinh. Ngày mồng 01.03.2004 Cha Hồng Phúc về nhận xứ Phát Diệm, thì một tháng sau Cha đã thực hiện công việc cho giáo xứ Trì Chính có được khu đất với diện tích 1.380m2 do người dân lấn chiếm trong khu đất của Nhà thờ. Bốn năm sau, ngay khi nhận lại được khu đất, Cha tiến hành công việc làm hồ và đường xung quanh hồ. Cha cũng đã cho xây lễ đài để chuẩn bị mừng lễ kỷ niệm 100 năm thành lập giáo xứ vì chưa có điều kiện để xây dựng được ngôi Nhà thờ mới. Công việc xây dựng hồ và lễ đài vẫn chưa thể hoàn tất trước ngày đại lễ do kinh phí còn thiếu nhiều, nhưng các công trình xây dựng tại giáo xứ Trì Chính là bước đánh dấu sự tồn tại và phát triển của một giáo xứ mà trong đó là rất nhiều sự nỗ lực của các Cha từng coi sóc giáo xứ và những cố gắng quyết tâm sống Đạo của giáo dân đã giữ vững đời sống Đạo từ suốt một trăm năm nay.
Trời hôm nay chuyển gió và có lất phất mưa trong cái rét của tháng Ba âm lịch. Thánh lễ lúc 5 giờ sáng Chúa nhật lễ Chúa Chiên Lành do Cha Hồng Phúc dâng lễ. Còn 15 phút nữa mới đến giờ lễ nhưng giáo dân trong xứ đang tấp nập đến Nhà thờ mỗi lúc một đông hơn. Trong Nhà thờ thì các dãy ghế chật kín người ngồi, phía ngoài sân và cuối Nhà thờ giáo dân xếp ghế nhựa để ngồi, khi số ghế nhựa cũng hết thì một số người phải đứng để tham dự thánh lễ. Các em thiếu nhi được ưu tiên ngồi ở ba dãy ghế của hai bên và ngồi ở chiếu trải phía thềm gần Cung Thánh. Em bước vào Nhà thờ và thấy có một bác chỉ chỗ cho ngồi ở hàng ghế thứ tư tính từ Cung Thánh xuống. Trong Nhà thờ thật ấm và càng ấm hơn trong tình người của giáo dân xứ Trì Chính, em nghe thấy mấy tiếng thì thầm của các bà hỏi thăm nhau nhưng tiếng đọc Kinh ngày Chúa nhật và Kinh Năm Thánh vẫn âm vang, trầm bổng.
Thánh lễ được bắt đầu trong tiếng hát cất lên của ca đoàn giáo xứ với bài Thánh ca “Chúa chăn nuôi tôi”. Niềm vui hân hoan của ngày lễ Chúa Chiên Lành có trong từng lời cầu nguyện của giáo dân đang hướng về kỷ niệm 100 năm thành lập giáo xứ Trì Chính, và đặc biệt là bài giảng lễ của Cha Hồng Phúc, Cha quảng diễn Tình Yêu của Đức Giêsu Kitô, Ngài là Chúa Chiên Lành, là Mục tử nhân hậu của đàn chiên:
“Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Chiên Lành vì Đức Giêsu tự xưng mình là Mục tử tốt lành “Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta”. Không phải Chúa tự xưng thì chúng ta mới biết, nhưng là Chúa đã tự hạ và dẫn dắt chúng ta. Có một điều, một mối tương quan trong tình yêu không chỉ là đơn phương, tình yêu đáp đền bằng tình yêu. Chúa không tuyên xưng, tuyên bố thì mình cũng thấy Chúa là Mục tử tốt lành. Nhưng điều quan trọng là: Mục tử tốt lành thì chiên phải biết người Mục tử. Đối với người Do Thái thì mối tương quan giữa chủ chiên với đàn chiên không chỉ là một mối tương quan trong tình giữa chủ và đàn vật nhưng là cả một sự sống, cả một gia tài liên đới với người chủ chiên. Người Do Thái coi con chiên là tình bạn, là gia tài, thậm chí là cả một phần sự sống của họ. Như chúng ta vẫn nói, sự sống của người Do Thái là dân du mục, phụ thuộc vào đàn chiên.
Người Việt Nam chúng ta có câu: “Con trâu là đầu cơ nghiệp của nhà nông”, và vì thế người ta nói với trâu như nói với bạn:
“Trâu ơi! Ta bảo trâu này: trâu ăn no cỏ, trâu cày với ta.”
Người Do Thái còn nói với đàn chiên thân thiết hơn nhiều. Bởi lẽ, đối với con chiên của người Do Thái thì người chăn chiên với con chiên; người chăn trâu với con trâu. Người chăn trâu Việt Nam cầm cái roi đi sau con trâu còn người chăn chiên cầm cái gậy đi trước đàn chiên. Lý do, người chăn trâu cầm roi để đánh trâu, trâu đau thì trâu mới đi. Còn ngược lại, người chăn chiên cầm gậy đi trước không bao giờ để đánh chiên mà để đánh chó sói, bảo vệ cho đàn chiên. Tại sao người Việt Nam không làm như thế? Vì con trâu không dễ nghe như con chiên; người chăn chiên đi đâu thì chiên theo đó, vì chiên hiền lành đến nỗi tiên tri Isaia đã sánh ví rằng: “Như con chiên bị đem đi xén lông làm thịt, Người không la lối, không thoá mạ” ám chỉ về Đấng Mesia, Đấng xưng mình là Chiên Thiên Chúa.
Và như vậy, thì việc đàn chiên đi theo Chúa chiên tới đồng cỏ xanh tươi là những hình ảnh đẹp tuyệt vời đối với người Do Thái. Chúng ta nghe Thánh vịnh và chúng ta thấy điều đó:
“Chúa chăn nuôi tôi
Tôi chẳng thiếu thốn chi.
Trên đồng cỏ xanh rì
Người thả cho tôi nằm nghỉ.
Đến nguồn nước chỗ nghỉ ngơi
Người hướng dẫn tôi,
Tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính
sở dĩ vì uy danh Người,
Dù bước đi trong thung lũng tối
Tôi không lo mắc nạn vì Chúa ở cùng tôi.”
Tv 22
Cây roi và cái gậy của Người đó là điều an ủi lòng tôi. Không bao giờ cây roi và cái gậy là điều sợ hãi mà đó là điều an ủi lòng tôi, vì cây roi và cái gậy ấy đánh chó sói bảo vệ cho đàn chiên. Không những thế, trong cách diễn tả của người Do Thái, có một niềm tự hào thật đáng yêu:
“Người dọn cho tôi mâm cỗ ngay trước mặt những kẻ đối phương;
đầu tôi thì Chúa xức dầu thơm;
chén rượu tôi đầy tràn chan chứa.”
Tv 22
Một dân Do Thái xưa cảm nghiệm rất rõ bàn tay của Thiên Chúa, mặc dầu khi đó Thiên Chúa đến với họ qua lời các tiên tri. Còn một dân Do Thái hiện đại thì không cảm thấy tấm lòng, bàn tay của Thiên Chúa đang hiện diện với họ qua Đức Giêsu Kitô. Thành thử, Đức Giêsu tuyên bố “Ta biết chiên của Ta và chiên Ta phải biết Ta” đấy mới là điều quan trọng. Ông Pascan nói rằng: “Đức Chúa Trời phải được cảm nghiệm bằng trái tim.””
Bài giảng lễ của Cha Hồng Phúc kết thúc trong câu chuyện kể về đoàn từ thiện của Mỹ mới đến Phát Diệm vào chiều thứ Bảy ngày 12.4.2008 gồm ba người, hai người thì mới đến lần đầu tiên, nhưng một người thì đến lần thứ hai, và ông nói chuyện với Cha: “Lần trước tôi đến đây dự lễ ở Nhà thờ Chính toà Phát Diệm này, người đông đến nỗi người ta ngồi đầy trong Nhà thờ, người ta còn ngồi ra cả ngoài hè. Thành thử, tôi có cảm nhận rằng chính những người ngồi ngoài hè làm cho Nhà thờ rộng ra.” Tấm lòng của những người ngồi ngoài hè làm cho lòng Nhà thờ rộng thêm gấp bao nhiêu lần. Cha ân cần và trìu mến nói với cộng đoàn: “Hôm nay, chúng ta cũng phải nói như vậy với Trì Chính rằng Nhà thờ chúng ta bé nhưng tấm lòng của những người Kitô hữu chúng ta cũng có thể làm cho Nhà thờ của chúng ta rộng lên gấp nhiều lần. Và Chúa đang chờ đợi những tấm lòng rộng rãi đó của đàn chiên đối với Chúa Chiên. Chúng ta hãy bày tỏ, lòng kính mến của chúng ta trong lời Kinh Tin Kính mà giờ đây tôi mời gọi tất cả chúng ta cùng tuyên xưng.”
Lời Kinh Tin Kính đã được Cha Hồng Phúc cất xướng, giọng Cha khiêm tốn, mạch lạc, bình tĩnh và rất mạnh mẽ đã hướng cộng đoàn vào niềm tin và phó thác trong tâm tình yêu mến Chúa, thể hiện đức tin đích thực trong lời tuyên xưng của Hội Thánh trước Chúa, trước cộng đoàn và chính mình. Những hình ảnh và công việc rao giảng Tin Mừng của các Thánh Tông Đồ được ghi lại trong Kinh Thánh, những công việc truyền giáo của các vị thánh nam nữ, đời sống Đức Tin của các thánh Tử Đạo Việt Nam trong đó biết bao nhiêu vị Thừa Sai cùng các Đấng là người Việt Nam, của những người Kitô hữu Việt Nam, của những tín hữu thuộc Giáo phận Phát Diệm và đặc biệt là nơi Giáo xứ Trì Chính dần hiện lên trong tâm trí em. Em được nghe kể về Đức Cha Gioan Maria Phan Đình Phùng ( 24.12.1891 – 28.4.1944) là Giám Mục phó Giáo phận Phát Diệm (1940 – 1944), quê ở họ Kiến Thái, giáo xứ Trì Chính. Ngôi mộ của Đức Cha Phùng được đặt trong Cung Thánh của Nhà thờ Chính Toà Phát Diệm, ngôi mộ thứ hai tính từ trái sang. Người thứ hai em được biết là Mẹ Bề Trên Tổng Quyền Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm đương nhiệm Maria Phan thị Mai, quê tại họ Thủy Cơ, giáo xứ Trì Chính. Các ngài cùng với các đấng đã và đang coi sóc giáo xứ Trì Chính luôn sẵn sàng giúp cho giáo dân trong giáo xứ sống trung thành với Đức Tin tuyên xưng vào Thiên Chúa, theo thời gian, theo năm tháng, các ngài là gương nhân đức tuyệt vời cho biết bao người cùng tin theo, cùng sống, cùng cảm nghiệm, cùng chia sẻ…
Cuối Thánh lễ, sau khi Cha Hồng Phúc chúc lành xong, Cha đọc danh sách “Nhịp Cầu Thân Yêu”, đó là các gia đình ở Trì Chính có những người thân ở các xứ xa, con cái đã trưởng thành nhớ về quê hương và cùng hướng về trăm năm Trì Chính. Em nghe thấy có nhiều giáo dân ở các giáo xứ trong miền Nam như: Giáo xứ Phú Nhuận, Quảng Tân, Bình Minh, Bắc Hà, Bình Triệu, Định Quán, Dốc Mơ, Phú Lâm, Túc Trưng… em cũng cảm thấy trong lòng vui tươi cùng với giáo dân giáo xứ Trì Chính.
Điều mong mỏi từ nhiều năm nay của Cha xứ và giáo dân xứ Trì Chính là mong xây dựng được ngôi Nhà thờ mới, đủ rộng để giáo dân trong đến thờ phượng Chúa, không để ai phải ngồi ngoài trời trong những ngày đông giá rét nữa; không để ai phải ngồi ngoài trời trong những ngày mưa phùn gió bấc khí hậu khắc nghiệt nữa; không để ai phải ngồi ngoài trời trong những ngày trời năng chang chang như đổ lửa nữa. Và những cuộc Rước sẽ rất trọng thể khi có con đường bằng phẳng, không gồ ghề, không còn bức tường ngăn giữa Nhà thờ với con đường của Chúa; con đường mà hai bên có cỏ và hoa thiên nhiên; con đường mà từng bước chân đặt lên đó là những bước chân loan báo Tin Mừng về Thiên Chúa là Tình Yêu; con đường đó dẫn ta đến gần Chúa, dẫn ta vào Nhà Chúa. Và điều quan trọng chính là làm sao để tất cả đều cùng được quây quần bên Bàn Tiệc Thánh, chia sẻ yêu thương và quan tâm tới nhau qua lời cầu nguyện tâm tình hiệp thông với Chúa, tạ ơn Chúa.
Chỉ năm ngày nữa thôi là Giáo xứ Trì Chính mừng lễ Kỷ niệm 100 năm thành lập giáo xứ, một ngày trọng đại của cả trăm năm mới có, là của giáo xứ Trì Chính, là của giáo phận Phát Diệm và biết bao tín hữu đang ở trong nước cũng như ngoài nước cùng hướng về. em lắng nghe lời mời của Cha Hồng Phúc và ông Chánh trương, em thấy hồi hộp lạ lùng sao ấy! Những hình dung về ngày lễ trọng đại của Giáo xứ Trì Chính…
Và cùng với quý Cha, quý khách em cũng đang hướng về Trì Chính.
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2008
Teresa Avila Thuỳ Chi
CHƯƠNG TRÌNH
LỄ KHAI MẠC NĂM THÁNH GIÁO XỨ TRÌ CHÍNH
Nhờ Hồng ân Thiên Chúa qua lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria
và Thánh Quan thầy Phêrô, với tình thương hiền mẫu của Tòa Thánh:
ĐỨC CHA GIUSE NGUYỄN CHÍ LINH
Phó Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam
Giám mục Giáo Phận Thanh Hóa
Giám quản Giáo Phận Phát Diệm
Sẽ Chủ sự Thánh Lễ Khai Mạc Năm Thánh
Mừng kỷ niệm 100 năm thành lập Giáo xứ Trì Chính
Vào hồi 15h00’ ngày 23 tháng 4 năm 2008
tại Nhà thờ Giáo xứ Trì Chính
xã Kim Chính, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Chương trình:
14h00’: Đón tiếp
- Quý Cha, quý Thầy;
- Quý Hội Dòng
- Quý tu sĩ nam nữ;
- Quý khách
14h45’: Rước đoàn Đồng tế
15h00’: Thánh Lễ Khai Mạc Năm Thánh.
Thay mặt Giáo xứ:
Linh mục phụ trách xứ Phêrô Nguyễn Hồng Phúc
Điện thoại: 091.3344.103
Chánh Trương Giuse Đỗ văn Bằng
Điện thoại: 097.7019.791
KINH NĂM THÁNH GIÁO XỨ TRÌ CHÍNH
Lạy Thiên Chúa Toàn Năng hằng hữu,
Chúng con xin tạ ơn Chúa vì yêu thương và muốn cứu độ loài người,
Chúa đã sai Con Một Chúa xuống trần gian,
Qua lòng Đức Trinh Nữ Maria, bởi quyền năng Chúa Thánh Thần.
Chúng con xin cảm tạ Chúa,
Vì từ gần bốn trăm năm qua,
nhờ sự hy sinh nhiệt thành của các nhà truyền giáo và các đấng các bậc,
Đạo Thánh Chúa được gieo trồng,
trổ bông và kết trái trên mảnh đất Phát Diệm này.
Và cũng nhờ đó, giáo xứ Trì Chính chúng con sau này đã được khai sinh.
Suốt một trăm năm qua, qua bao nhiêu biến cố thăng trầm,
với bao nhiêu chông gai thử thách,
Chúa luôn yêu thương, phù trì, che chở giáo xứ chúng con.
Trước muôn vàn hồng ân ấy,
nay chúng con mừng kỷ niệm một trăm năm thành lập giáo xứ Trì Chính. Hầu mỗi người chúng con cảm nghiệm sâu sắc hơn
tình thương của Chúa đã dành cho chúng con.
Xin Chúa thương tiếp tục gìn giữ
các thế hệ Trì Chính khỏi mọi cám dỗ làm xa lìa Thiên Chúa
mà tôn thờ tiền bạc, danh vọng, lạc thú.
Xin Chúa cho các vị chủ chăn được thêm thánh thiện, khôn ngoan;
cho các tu sĩ được trung thành với ơn gọi tu trì;
cho các bậc cha mẹ biết nêu gương sáng cho con cái;
cho những người trẻ biết sống có lý tưởng, sống trong sáng,
không ngừng học hỏi, lao động, xây dựng cuộc đời theo tinh tần Kitô giáo.
Xin Chúa cho mọi người biết sống yêu thương bác ái.
Nhờ đó, diện mạo của Hội Thánh mỗi ngày một thêm rạng rỡ.
Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria và thánh Phêrô Quan thầy,
chúng con cầu xin Chúa cho mỗi người chúng con thêm lòng tin sắt son,
lòng cậy vững bền, lòng mến tha thiết.
Để nhờ Năm Thánh này, chúng con được biến đổi như lòng Chúa mong ước,
hầu mang lại những lợi ích cho Hội Thánh
và cho đất nước Việt Nam thân yêu của chúng con. Amen.