Máu chảy ruột mềm
Từ mấy năm nay tôi thường có dịp về thăm lại quê hương Việt Nam thân yêu. Và tuy quê hương đã có nhiều đổi thay và tiến bộ, nhưng cái nghèo vẫn còn bám trụ khắp nơi, nhất là tại các thôn làng, nơi người dân chỉ biết sống nhờ vào mấy sào ruộng cằn cỗi.
Nhưng thú thật, chưa bao giờ tôi lại cảm thấy đau lòng và thương những người bà con đồng bào cùng máu mủ của mình, đặc biệt ở các tình miền Trung – từ Thánh Hóa cho đến Quảng Nam Quảng Ngãi – một cách sâu xa như lần này.
Trước hết, vì kỳ nghĩ hè không kéo dài được bao lâu, nên khi vừa đặt chân tới Saigon, mấy người anh em bạn chúng tôi đã thuê một chiếc xe 16 chỗ ngồi với các mục tiêu tham quan đã được mọi người nhất trí: Hà Nội, nhà thờ đá Phát Diệm, Vịnh Hạ Long, và trên đường trở về : động Hương Tích ở Nghệ An, động Phong Nha Quảng Bình và cố đô Huế.
Nhưng sau khi tham quan Hà Nội ba mươi sáu phố phường và vừa dừng chân tới trung tâm Giáo phận Phát Diệm với những ngôi nhà thờ đá, một kỳ công có một không hai, không những ở Việt Nam mà ở khắp nơi trên thế giới nữa, thì mưa tự nhiên ập đổ xuống như trút, kéo theo cả cơn bão có sức tàn phá dữ dội.
Thấy tình hình không thuận tiện nữa, chúng tôi đành «bỏ lại các mục tiêu tham quan khác» để chạy lấy người. Nhưng khi xe tới Thanh Hóa mức nước sông đã dâng cao, làm tràn ngập tất cả mọi tuyến đường. Tuy vâỵ, chúng tôi cũng đã cố gắng về đến thành phô Vinh. Nhưng khi đến Vinh thì chúng tôi đành phải chấp nhận ở lại vì - ngoài con đường quốc lộ số 1 nhiều chỗ đã bị ngập sâu dưới nước đến 2,3 thước - không còn cách nào khác để xe hơi có thể lăn bánh được nữa.
Từ khách sạn nơi chúng tôi tạm trú nhìn ra, người ta không còn có thể phân biệt được đâu là sông, đâu là làng mạc hay đâu là ruộng lúa sắp gặt nữa. Tất cả chỉ còn là một biển nước màu đất đỏ mênh mông vô bờ bến, nhiều thôn làng xa xa người ta chỉ còn thấy được mấy ngọn tre cây mít trồi lên. Và phương tiện giao thông lúc này không còn là ô-tô hay xe máy nữa, nhưng là các con ghe thuyền to nhỏ.
Không để đi tham quan, nhưng là để đi cứu nạn, chúng tôi đã nhập đoàn với các đoàn thanh niên thiện nguyện của các xứ đạo, xuống thuyền, mang theo các thức ăn và đồ dùng cần thiết như mì tôm, mắm muối và chăn mền, áo quần cũ, bơi đến các thôn làng đang bị ngập trong lụt.
Kìa, một quang cảnh hiện ra trước mắt chúng tôi : Trong toàn thôn, các gia đình gồm ông bà, cha mẹ và con cái, đều đội nón mang áo tơi leo ngồi trên mái nhà để thoát nguy, vì nhà họ nước đã dâng ngập đến nửa mái rồi. Đặc biệt các em bé phần vì rét, phần vì đói nên cả thân mình run lập cập, trông rất thảm thương đau lòng. Thấy ghe thuyền chúng tôi tới, ai nấy mừng hớn hỡ trông thấy. Nhưng những bao mì tôm đâu còn lửa nữa để nấu, nên mọi người bóc ra và nhai ăn sống cho đỡ đói vậy.
Trên đường di chuyển, ghe chúng tôi đã phải đối mặt với những đe dọa vô cùng nguy hiểm do các ngôi nhà tranh của dân và các thứ cây cối cũng như đủ thứ ván gỗ, v.v…bị nước cuốn và đang trôi lềnh bềnh theo dòng nước xoáy mạnh như chực nghiền nát chiếc ghe mỏng manh chở chúng tôi. Và kìa, những xác trâu, bò, chó, mèo đang trôi lẫn với các thứ rác rưởi, trông rất kinh sợ.
Vì vốn được sinh ra trong chốn nông thôn bùn lầy nước đọng, nên tôi rất biết đánh giá những con vật đó quan trọng như thế nào đối với sự sống còn của một gia đình nông dân, và vì thế lòng tôi tự nhiên se lại khi nghĩ đến những mất mát to lớn đó của các bà con nông dân, và tự hỏi rồi đây một khi nước lại rút đi họ sẽ sống ra sao? Gia đình họ đã nghèo như thế thì đào đâu ra tiền để sắm sửa lại từ đầu?
Đối với các bà con đồng bào nạn nhân cơn lụt, thì những bao mì tôm chỉ là một chút an ủi qua loa tạm thời. Sau khi cơn nước tạm rút từ từ, nhiều gia đình đã phải đào củ chuối ăn đỡ cơm. Thật vô cùng tang thương.
Mà không chỉ nhà dân mà cả trường học, nhà thờ cũng đều ngập nước đến một nửa. Các bàn ghế học sinh ở nhà trường, các cánh cửa gỗ,các bàn ghế và các đồ thờ phượng trong nhà thờ đều phải ngâm sâu dưới nước gần cả tuần lễ và tất cả kể như hư hỏng toàn bộ. Rồi đây, các xứ đạo sẽ kiếm đâu ra tiền để sắm sửa lại bao thiệt hại to lớn như thế. Thật là tuyệt vọng.
Khi phải chứng kiến cảnh tượng đau thương này của các Xứ đạo và của các bà con giáo dân trong các vùng bị lụt này, tôi lại liên tưởng đến những nhục mạ và bài bác bất công của một số Việt kiều ở hải ngoại đối với Giáo Hội Việt Nam qua những ngụy ngôn của họ như «mục vụ xin tiền» : Sao trong những lúc như thế này họ lại không về đây, hoặc ít nhất bật Ti-vi nhà họ lên, để nhìn cho rõ sự đau khổ của bà con đồng bào mình, những người đang cần tới sự trợ giúp của mọi người đồng hương để có thể sống còn được?
Khi chúng tôi với bao vất vả và nhất là với bao mạo hiểm mới lần về được tới Huế, thì từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng ngãi và Qui Nhơn cho tới Nha Trang, nhiều quãng đường còn hoàn toàn ngập sâu dưới nước, cắt đứt mọi giao thông trên bộ. Vì thế chúng tôi đành phải từ giã chiếc xe bao cùng với tài xế và lấy máy bay trở lại Saigon, hầu soạn sửa trở lại Âu Châu.
Và khi tôi vừa đặt chân tới phi trường Frankfurt trở lại Đức, quê hương thứ hai của tôi, thì điện thọai ở VN gọi sang cho biết là cơn bão số 5 đã kéo theo một trân lũ dữ dội khác lại ập vào không chỉ các tỉnh miền Trung, từ Thanh Hóa đến Huế, mà còn càn quyét cả tỉnh Ninh Bình và các miền ven biển Nam Định nữa. Ngay trong chính trong những giây phút tôi đang ngồi viết những dòng này, cơn lụt thế kỷ vẫn còn tiếp tục tràn ngập và lôi cuốn tất cả những gì có thể lôi cuốn được tại các tỉnh miền Trung, đặc biệt tại Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, v.v...
Quả là họa vô đơn chí! Sau khi phải chứng kiến tận mắt những cảnh tượng vô cùng tang thương và đau lòng như thế, đã và đang ập xuống trên hàng chục ngàn người dân nghèo ở các tỉnh miền Trung, lòng tôi mãi tới nay vẫn còn vô cùng bồi hồi xúc động. Đúng là cổ nhân đã nói không sai: «Máu chảy ruột mềm!» Và một cách cụ thể, tôi đã vận động các bạn bè quen thân, Việt cũng như Đức, kẻ ít người nhiều «góp gió làm bão» để góp phần thoa dịu cho những mất mát đau thương của đồng bào Việt Nam.
Từ mấy năm nay tôi thường có dịp về thăm lại quê hương Việt Nam thân yêu. Và tuy quê hương đã có nhiều đổi thay và tiến bộ, nhưng cái nghèo vẫn còn bám trụ khắp nơi, nhất là tại các thôn làng, nơi người dân chỉ biết sống nhờ vào mấy sào ruộng cằn cỗi.
Nhưng thú thật, chưa bao giờ tôi lại cảm thấy đau lòng và thương những người bà con đồng bào cùng máu mủ của mình, đặc biệt ở các tình miền Trung – từ Thánh Hóa cho đến Quảng Nam Quảng Ngãi – một cách sâu xa như lần này.
Trước hết, vì kỳ nghĩ hè không kéo dài được bao lâu, nên khi vừa đặt chân tới Saigon, mấy người anh em bạn chúng tôi đã thuê một chiếc xe 16 chỗ ngồi với các mục tiêu tham quan đã được mọi người nhất trí: Hà Nội, nhà thờ đá Phát Diệm, Vịnh Hạ Long, và trên đường trở về : động Hương Tích ở Nghệ An, động Phong Nha Quảng Bình và cố đô Huế.
Nhưng sau khi tham quan Hà Nội ba mươi sáu phố phường và vừa dừng chân tới trung tâm Giáo phận Phát Diệm với những ngôi nhà thờ đá, một kỳ công có một không hai, không những ở Việt Nam mà ở khắp nơi trên thế giới nữa, thì mưa tự nhiên ập đổ xuống như trút, kéo theo cả cơn bão có sức tàn phá dữ dội.
Thấy tình hình không thuận tiện nữa, chúng tôi đành «bỏ lại các mục tiêu tham quan khác» để chạy lấy người. Nhưng khi xe tới Thanh Hóa mức nước sông đã dâng cao, làm tràn ngập tất cả mọi tuyến đường. Tuy vâỵ, chúng tôi cũng đã cố gắng về đến thành phô Vinh. Nhưng khi đến Vinh thì chúng tôi đành phải chấp nhận ở lại vì - ngoài con đường quốc lộ số 1 nhiều chỗ đã bị ngập sâu dưới nước đến 2,3 thước - không còn cách nào khác để xe hơi có thể lăn bánh được nữa.
Từ khách sạn nơi chúng tôi tạm trú nhìn ra, người ta không còn có thể phân biệt được đâu là sông, đâu là làng mạc hay đâu là ruộng lúa sắp gặt nữa. Tất cả chỉ còn là một biển nước màu đất đỏ mênh mông vô bờ bến, nhiều thôn làng xa xa người ta chỉ còn thấy được mấy ngọn tre cây mít trồi lên. Và phương tiện giao thông lúc này không còn là ô-tô hay xe máy nữa, nhưng là các con ghe thuyền to nhỏ.
Không để đi tham quan, nhưng là để đi cứu nạn, chúng tôi đã nhập đoàn với các đoàn thanh niên thiện nguyện của các xứ đạo, xuống thuyền, mang theo các thức ăn và đồ dùng cần thiết như mì tôm, mắm muối và chăn mền, áo quần cũ, bơi đến các thôn làng đang bị ngập trong lụt.
Kìa, một quang cảnh hiện ra trước mắt chúng tôi : Trong toàn thôn, các gia đình gồm ông bà, cha mẹ và con cái, đều đội nón mang áo tơi leo ngồi trên mái nhà để thoát nguy, vì nhà họ nước đã dâng ngập đến nửa mái rồi. Đặc biệt các em bé phần vì rét, phần vì đói nên cả thân mình run lập cập, trông rất thảm thương đau lòng. Thấy ghe thuyền chúng tôi tới, ai nấy mừng hớn hỡ trông thấy. Nhưng những bao mì tôm đâu còn lửa nữa để nấu, nên mọi người bóc ra và nhai ăn sống cho đỡ đói vậy.
Trên đường di chuyển, ghe chúng tôi đã phải đối mặt với những đe dọa vô cùng nguy hiểm do các ngôi nhà tranh của dân và các thứ cây cối cũng như đủ thứ ván gỗ, v.v…bị nước cuốn và đang trôi lềnh bềnh theo dòng nước xoáy mạnh như chực nghiền nát chiếc ghe mỏng manh chở chúng tôi. Và kìa, những xác trâu, bò, chó, mèo đang trôi lẫn với các thứ rác rưởi, trông rất kinh sợ.
Vì vốn được sinh ra trong chốn nông thôn bùn lầy nước đọng, nên tôi rất biết đánh giá những con vật đó quan trọng như thế nào đối với sự sống còn của một gia đình nông dân, và vì thế lòng tôi tự nhiên se lại khi nghĩ đến những mất mát to lớn đó của các bà con nông dân, và tự hỏi rồi đây một khi nước lại rút đi họ sẽ sống ra sao? Gia đình họ đã nghèo như thế thì đào đâu ra tiền để sắm sửa lại từ đầu?
Đối với các bà con đồng bào nạn nhân cơn lụt, thì những bao mì tôm chỉ là một chút an ủi qua loa tạm thời. Sau khi cơn nước tạm rút từ từ, nhiều gia đình đã phải đào củ chuối ăn đỡ cơm. Thật vô cùng tang thương.
Mà không chỉ nhà dân mà cả trường học, nhà thờ cũng đều ngập nước đến một nửa. Các bàn ghế học sinh ở nhà trường, các cánh cửa gỗ,các bàn ghế và các đồ thờ phượng trong nhà thờ đều phải ngâm sâu dưới nước gần cả tuần lễ và tất cả kể như hư hỏng toàn bộ. Rồi đây, các xứ đạo sẽ kiếm đâu ra tiền để sắm sửa lại bao thiệt hại to lớn như thế. Thật là tuyệt vọng.
Khi phải chứng kiến cảnh tượng đau thương này của các Xứ đạo và của các bà con giáo dân trong các vùng bị lụt này, tôi lại liên tưởng đến những nhục mạ và bài bác bất công của một số Việt kiều ở hải ngoại đối với Giáo Hội Việt Nam qua những ngụy ngôn của họ như «mục vụ xin tiền» : Sao trong những lúc như thế này họ lại không về đây, hoặc ít nhất bật Ti-vi nhà họ lên, để nhìn cho rõ sự đau khổ của bà con đồng bào mình, những người đang cần tới sự trợ giúp của mọi người đồng hương để có thể sống còn được?
Khi chúng tôi với bao vất vả và nhất là với bao mạo hiểm mới lần về được tới Huế, thì từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng ngãi và Qui Nhơn cho tới Nha Trang, nhiều quãng đường còn hoàn toàn ngập sâu dưới nước, cắt đứt mọi giao thông trên bộ. Vì thế chúng tôi đành phải từ giã chiếc xe bao cùng với tài xế và lấy máy bay trở lại Saigon, hầu soạn sửa trở lại Âu Châu.
Và khi tôi vừa đặt chân tới phi trường Frankfurt trở lại Đức, quê hương thứ hai của tôi, thì điện thọai ở VN gọi sang cho biết là cơn bão số 5 đã kéo theo một trân lũ dữ dội khác lại ập vào không chỉ các tỉnh miền Trung, từ Thanh Hóa đến Huế, mà còn càn quyét cả tỉnh Ninh Bình và các miền ven biển Nam Định nữa. Ngay trong chính trong những giây phút tôi đang ngồi viết những dòng này, cơn lụt thế kỷ vẫn còn tiếp tục tràn ngập và lôi cuốn tất cả những gì có thể lôi cuốn được tại các tỉnh miền Trung, đặc biệt tại Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, v.v...
Quả là họa vô đơn chí! Sau khi phải chứng kiến tận mắt những cảnh tượng vô cùng tang thương và đau lòng như thế, đã và đang ập xuống trên hàng chục ngàn người dân nghèo ở các tỉnh miền Trung, lòng tôi mãi tới nay vẫn còn vô cùng bồi hồi xúc động. Đúng là cổ nhân đã nói không sai: «Máu chảy ruột mềm!» Và một cách cụ thể, tôi đã vận động các bạn bè quen thân, Việt cũng như Đức, kẻ ít người nhiều «góp gió làm bão» để góp phần thoa dịu cho những mất mát đau thương của đồng bào Việt Nam.