BÀI CHIA SẺ
MỘT THOÁNG LINH ĐẠO DÀNH CHO LINH MỤC COI XỨ
Lời thưa trước :
NênThánh là ơn gọi chung của mọi Kitô hữu. “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Giáo Hội, Hiền Thê Chúa Kitô là một ”trường dạy nên thánh” (1). Qua chiều dài lịch sử tiến bước dưới ánh sáng Phúc âm, qua bao nhiêu kinh nghiệm nên thánh phong phú của những “hoa trái thánh thiện” là các thánh nhân của mọi thời, mọi dân, mọi nước, quả thật, chúng ta không thiếu những chỉ dẫn cần thiết để tiến bước trên con đường thánh thiện. Đặc biệt, trong thời đại nầy, chúng ta còn được lợi điểm là có được những hướng dẫn cụ thể, chính xác, truyền thống và cập nhật của những văn kiện Huấn quyền nền tảng khởi đi từ Công đồng Vatican II (Như các văn kiện : Hiến Chế Giáo Hội, Hiến chế Phụng vụ Thánh, Hiến chế Mặc Khải, Sắc lệnh chức vụ và đời sống linh mục, Đào tạo linh mục…). Tiếp theo đó là những Tông huấn của các Đức Giáo hoàng (như Pastores dabo vobis, Đời thánh hiến của ĐGH G.P.II), hoặc những hướng dẫn dành riêng cho linh mục của Thánh bộ Giáo sĩ (như Kim chỉ nam cho Thừa tác vụ và đời sống linh mục, Linh mục, Mục tử và lãnh đạo cộng đoàn giáo xứ…).
Tuy nhiên, trong cái kho tàng phong phú bao la đó, chúng ta cũng cần rút tỉa,chắc lọc những chiều kích nào, những nhân tố nào phù hợp và thiết thực nhất cho đời sống nên thánh của riêng mình. “Riêng mình” nói ở đây chính là “linh mục coi xứ”, linh mục làm mục vụ giữa cộng đoàn giáo dân được giao phó.
Tại sao lại phải tìm “cái thích hợp cho riêng mình” ? Cũng dễ hiểu thôi. Vì
trong Giáo Hội có hàng trăm ngàn linh mục mặc dù giống nhau trên căn bản bí tích Truyền chức thánh, trong căn tính của ơn gọi nên thánh phổ quát, nhưng lại rất khác nhau về lựa chọn cách sống, về chức vụ, về môi trường sống và làm việc, về các đối tượng phải quan hệ và chăm sóc, về văn hóa bản địa phải hội nhập…(Một linh mục dòng không thể tiến đức giống y như linh mục triều, một linh mục coi xứ không thể rập khuôn như các linh mục giáo sư ĐCV hay làm việc tại Thánh bộ, một linh mục coi xứ đạo nhà quê phải có cái gì đó khác với các linh mục coi xứ ở thành phố…). Chính trong trăn trở và thao thức làm sao để có một linh đạo thích hợp cho riêng mình, một linh mục coi xứ, xin được mạo muội chia sẻ vài điều cảm nhận riêng tư.
ĐỀ NGHỊ 4 CHIỀU KÍCH CƠ BẢN TRONG LINH ĐẠO DÀNH CHO LINH MỤC COI XỨ
1. LINH ĐẠO MANG CHIỀU KÍCH PHỤNG VỤ :
a/. “Hãy thờ Cha trong thần khí và sự thật” (Ga 4,23-24)
+ Lý do chọn lựa : Phụng vụ chính là trọng tâm sự sống của Hội Thánh, là hoạt động cao cả nhất, quan trọng nhất mà không sinh hoạt nào sánh bằng.
+ Dẫn chứng :
“Phụng vụ là tột đỉnh mà mọi hoạt động của Giáo Hội qui hướng về, đồng thời là nguồn mạch tuổn trào mọi năng lực của Giáo Hội”… Vì thế, Phụng vụ, nhất là Lễ Tạ Ơn, như là nguồn mạch từ đó ân sủng tuôn tràn trong chúng ta và làm cho con người được thánh hóa trong Chúa Kitô một cách vô cùng hữu hiệu, đồng thời Thiên Chúa được tôn vinh : đây cũng là cứu cánh của mọi công việc khác của Giáo Hội” (PV số 10).
“Do đó, vì là công việc của Chúa Kitô tư tế và Thân thể của Người là Giáo Hội, nên mọi việc cử hành Phụng vụ đều là hành vi chí thánh, và không một hành vi nào khác của Giáo Hội có hiệu lực bằng, xét cả về danh hiệu lẫn đẳng cấp…” (PV số 7).
+ Không phải lúc nào các Kitô hữu cũng được chỉ dạy rõ ràng như thế. Đã có một thời, người ta chú trọng quá nhiều tới khía cạnh thực hành các “việc đạo đức” như : ăn chay, hãm mình, cầu nguyện, lần chuổi…và coi đó là phương thế chính để nên thánh (Thánh Simon cột…., đã có lập luận rất gần đây : “Thà bỏ lễ chứ không được bỏ nguyện gẫm” ! )
+ Trích các văn kiện riêng dành cho đời sống linh mục liên quan đến chiều kích nầy :
“Nhưng phải lưu tâm đừng để việc huấn luyện tu đức chỉ hệ tại những việc đạo đức ấy hay chỉ là một nỗ lực tạo ra thứ đạo đức tình cảm” (Đào tạo linh mục, số 8)
“Việc thống nhất đời sống nầy không thể được thực hiện nguyên bằng cách tổ chức hoàn toàn bên ngoài các sinh hoạt của tác vụ hoặc bằng cách thực thi các việc đạo đức” (Chức vụ và đời sống linh mục số 14)
“Chính những hành vi Phụng tự hằng ngày cũng như toàn thể tác vụ của các ngài thi hành hòa điệu với Giám Mục và các linh mục khác, đều hướng các ngài đến đời sống hoàn hảo” (Chức vụ và đời sống linh mục số 12)
“Đối với linh mục, bí tích Thánh Thể chiếm một vị trí thật sự trung tâm, trong thừa tác vụ cũng như trong đời sống thiêng liêng của các Ngài…Từ những bí tích khác nhau và và cách riêng, từ ân sủng loại biệt thuộc về từng bí tích, đời sống thiêng liêng của linh mục nhận được những dấu ấn riêng biệt : thực vậy, đời sống ấy được cơ chế hóa và được uốn nắn nhờ vào những đặc tính và đòi buộc đa dạng của các bí tích được cử hành và được cảm nghiệm bằng cuộc sống” (Tông huấn Pastores dabo vobis, số 26)
Nếu linh mục như vẫn thường được ám chỉ, là Alter Christus, thì căn cốt của đời linh mục chính là nối dài Đức Kitô, tiếp nối cuộc sống và hy tế của Ngài. Thế mà, Ngài đã hoàn tất đời Ngài qua mầu nhiệm Vượt qua, và đã mời gọi, truyền lệnh : “Hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”. “Việc nầy” đó chính là Phụng vụ, chính là Bí tích Thánh Thể. Cho nên, một linh mục coi xứ muốn tự kiến tạo cho mình một đời sống thánh thiện và xây dựng một cộng đoàn thánh thiện như lòng Chúa mong ước, thì Phụng vụ, thiết tưởng, chính là con đường nên thánh trước tiên phải đi, là phương thế nên thánh tối hảo phải chọn lựa, như lời dạy của Công Đồng :
“Hằng ngày, Phụng vụ kiến tạo những người bên trong Giáo Hội thành đến thánh trong Chúa, thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa trong Thánh Thần, để đạt tới mức tuổi sung mãn của Chúa Kitô” (PV số 2)
b/. Vài áp dụng cụ thể :
+ Người ta có thể đánh giá một cộng đoàn đạo đức thánh thiện, một linh mục mục đạo đức thánh thiện thông qua cách thể hiện Phụng vụ thường xuyên (Trang trí cung thánh, bàn thờ, đồ lễ, việc tham dự của cộng đoàn, các tác viên phụng vụ : đọc sách, giúp lễ, ca đoàn….Tư cách phụng vụ của chủ tế, bài giảng…)
+ Có một số cử hành Phụng vụ dễ bị đánh mất tính linh thánh của Phụng vụ để “giảm xuống hàng đạo đức” hay trở thành một loại “dịch vụ đạo đức theo yêu cầu”, đó là bí tích Giải Tội, Xức dầu bệnh nhân…
2. LINH ĐẠO MANG CHIỀU KÍCH MỤC VỤ :
a/. “Để phục vụ và hiến dâng mạng sống” (Mt 20,24-28)
+ Lý do chọn lựa : Là một linh mục coi xứ, như vậy việc nên thánh không thể tách khỏi môi trường mục vụ, công tác mục vụ, cộng đoàn mục vụ. Hơn nữa, một linh mục coi xứ không phải nên thánh cho riêng mình, mà phải nên thánh cho, vì, với và nhờ công đoàn mà mình phục vụ.
+ Dẫn chứng :
Tông huấn Pastores dabo vobis dành trọn 6 số (từ 21-26) để triển khai khía cạnh “linh đạo mục vụ” nầy qua hai nội dung chính : - Đức Ái mục vụ và – Thi hành thừa tác vụ.
Từ những gợi ý của giáo huấn trên, có thể rút ra kết luận khái quát : Linh đạo của một linh mục coi xứ phải mang chiều kích mục vụ; nghĩa là linh đạo đó phải gắn liền với cộng đoàn, phải được tác dụng “cộng hưởng” với cộng đoàn mà mình phục vụ : cho-vì-với-nhờ cộng đoàn.
“Đời sống thiêng liêng của các thừa tác viên Tân ước phải được đóng ấn bằng thái độ tiên khởi ấy, thái độ phục vụ đối với Dân Thiên Chúa” (TH.Pastores dabo vobis số 21).
“Nguyên lý nội tại, nhân đức thôi thúc và hướng dẫn đời sống thiêng liêng của linh mục, xét như đã nên đồng hình, đồng dạng với Đức Kitô Đầu và Mục tử, chính là Đức Ái Mục Vụ” (23)
“Linh mục sống trong một bầu khi liên lỷ ứng trực và sẵn sàng để cho mình bị chộp giữ hay, có thể nói, để cho mình “bị ăn” do bởi những nhu cầu và những đòi hỏi, dỉ nhiên cần phải hợp lý của đoàn chiên” (28)
“Tốt hơn phải vì đó huấn luyện cho họ biết dùng chính hoạt động mục vụ của họ, để kiên cường đời sống tu đức cho thật vững mạnh” (Đào tạo linh mục, số 9)
b/. Lưu ý và áp dụng cụ thể :
+ Đừng bao giời tự cho mình là “đấng ban phát sự thánh thiện”, là “thầy dạy đàng nên thánh” để xem thường và không tìm học hỏi được gì nơi cộng đoàn. Vì Đức Kitô mà còn “nên giống anh em mình mọi đàng ngoại trừ tội lỗi”, và “Ở giữa các ngươi, ta là một kẻ hầu bàn”.
Cộng đoàn có nhiều hoa trái thánh thiện (Trẻ em, các người già lảo, những thanh niên nam nữ…)
+ Trong đời sống giáo dân có nhiều nhân đức mà linh mục không có hay ít có : nhân đức nghèo, khổ, vất vả nhọc mệt, túng thiếu, đầu tắt mặt tối, bệnh hoạn tật nguyền, mất con, mất vợ…)
Như vậy, chính khi gắn kết với cộng đoàn, yêu thương và kính trọng, thăng tiến và xây dựng cộng đoàn, sẽ giúp cho linh mục coi xứ tiến đức. Linh đạo mang chiều kích mục vụ là như thế.
3. LINH ĐẠO MANG CHIỀU KÍCH GIÁO HỘI :
a/. Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh” (Ep 5,25)
+ Lý do chọn lựa : “Kẻ nào càng yêu mến Giáo Hội Chúa Kitô, càng có Chúa Thánh Thần” (St. Augustinô)
+ Dẫn chứng :
Tông huấn Pastores dabo vobis dành trọn các số từ 31-32 để khai triển tư tưởng nầy.
“Cũng như bất cứ đời sống thiêng liêng Kitô giáo chính hiệu nào, đời sống của linh mục cũng sở đắc một chiều kích Giáo hội cốt yếu và bất khả thay thế : đời sống ấy tham dự vào sự thánh thiện của chính Giáo Hội” (31)
“Sự trao hiến chính mình, cội rễ và chóp đỉnh của Đức Ái mục vụ nhằm đối tượng là Giáo hội. Điều nầy ứng dựng cho Đức Kitô : “Đấng đã yêu mến Giáo Hội và đã nộp mình cho Giáo Hội”. Linh mục cũng phải làm như vậy. Với Đức Ái mục vụ thấm nhuần vào việc thực thi thừa tác vụ linh mục như một “tác vụ tình yêu”, linh mục một khi đón nhận ơn gọi thi hành tác vụ, có nhiệm vụ làm cho ơn gọi ấy trở thành một lựa chọn do tình yêu, nhờ đó Giáo Hội và các linh hồn trở thành mối lợi chính yếu của linh mục. Sống đường thiêng liêng ấy một cách cụ thể, linh mục sẽ có khả năng yêu mến Giáo hội phổ quát và thành phần Giáo Hội được giao phó cho mình, với tất cả sự nồng nhiệt của một người chồng đối với vợ mình” (số 22)
Chiều kích nầy sẽ là động lực giúp cho các linh mục coi xứ những điều tích cực sau :
- Tinh thần tham chiếu, học hỏi, lắng nghe kinh nghiệm mọi nơi, mọi thời, mọi gương lành tỏa sáng trong lịch sử Giáo Hội hôm qua, hôm nay và mãi mãi cho đến ngày tận thế. Dỉ nhiên, tinh thần nầy không chấp nhận thái độ cực đoan chỉ chấp nhận một phương thế, một con người, một thời đại nào đó mà coi thường, khinh chê các giá trị của các đường hướng tu đức khác.
- Chiều kích nầy còn động viên chúng ta nỗ lực xây dựng Hội Thánh địa phương, yêu mến Hội Thánh và sẵn sàng bảo vệ Hội Thánh tới cùng.
“Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi con người cách riêng rẻ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện” (HC Giáo Hội số 9)
b/. Lứu ý và áp dụng cụ thể :
+ Trên mọi nhân đức, cần có “nhân đức Giáo hội”. Một khi tập luyện được nhân đức đặc biệt nầy, tức khắc sẽ có được các nhân đức khác !
+ Những anh em đang xây dựng Hội Thánh trong lặng lẽ, âm thầm, ẩn khuất : hãy an tâm. Tòa nhà Giáo Hội vẫn cần thiết phải có những viên gạch nằm sâu trong góc tối. Sự thánh thiện đó là biết “nằm đúng vị trí trong Thân Mình mầu nhiệm của Chúa Kitô”.
+ Chính lòng yêu mến Giáo Hội sẽ phát sinh nhiệt tâm truyền giáo, tinh thần huynh đệ hiệp thông, tương thân tương trợ, lòng quảng đại và anh hùng làm chứng tá phúc âm…
+ Một linh mục coi xứ mà đặt quyền lợi cá nhân trên danh dự và quyền lợi của Giáo Hội, vì mục tiêu và tham vọng cá nhân mà coi thường sự hiệp thông, hiệp nhất trong Hội Thánh…thì sớm chiều sẽ sụp đổ tòa nhà thiêng liêng của chính mình và ảnh hưởng tai hại đối với cộng đoàn được giao phó.
+ Hơn lúc nào hết, Hội Thánh tại Việt nam đang đứng trước những thách đố và lựa chọn hết sức tế nhị và gắt gao. Nếu không có “nhân đức giáo hội”, không có lòng yêu mến Hội Thánh chân thật và đúng đắn, sẽ có nguy cơ “lựa chọn sai”, hoặc, sẽ trở nên những yếu tố phá hoại Hội Thánh. (2)
4. LINH ĐẠO MANG CHIỀU KÍCH HỘI NHẬP VĂN HÓA
a/. “Lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ” (Mt 13,52)
+ Lý do chọn lựa : “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”.
Là người Việt nam, là linh mục Giáo phận Qui Nhơn, đang phục vụ đồng bào trong địa phương nầy, vậy không lẽ gì chúng ta lại ứng xử theo một phong cách “ngoại lai”, vong bản. Ngày hôm nay, nhiều giá trị nền tảng của gia đình kitô hữu đang bị đe dọa và lung lay, phải chăng vì đang khi các giá trị Kitô giáo chưa đủ sức thấm nhuần, trong khi các giá trị truyền thống Đông phương : Tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức, nhân nghĩa lễ trí tin…đã đội nón ra đi.
+ Dẫn chứng :
Bởi vậy bất cứ điều gì tốt đẹp được nhận biết là đã được gieo vãi trong tâm trí con người, hay trong những lễ chí và văn minh riêng của các dân tộc, sẽ không bị hủy diệt, mà còn được thăng tiến và hoàn tất, để Thiên Chúa được tôn vinh, ma quỷ bị xấu hổ và con người được hạnh phúc” (Sắc lệnh về Truyền Giáo số 9). (Cf. Tuyên ngôn “Các tôn giáo ngoài KTG”, và HC MV Gaudium et spes)
b/. Lưu ý và áp dụng :
+ Mục tiêu phải đạt cho được là “Nên Thánh”. Tuy nhiên, không phải cứ “gồng mình” theo sát cái cách hãm mình và cầu nguyện của Cha Thánh Gioan Vianê thì mới đúng hướng, hay phải như thánh Phanxicô khó khăn thì mới được chấp nhận. Là người Việt nam, mang xác thân, vóc dáng “nhỏ con” của dòng tộc Lạc hồng, thì cái phong cách nên thánh của chúng ta cũng phải chọn “kích cở sao cho vừa”, sao cho thích hợp.
+ Không hẳn cứ cao to, sừng sững như những pho tượng cẩm thạch nơi đền thánh Phêrô tại giáo đô Rôma thì mới có giá trị, còn những bức tranh thủy mạc thanh thoát, nhẹ nhàng với mái tranh, với khói lam chiều, với bà mẹ quê, với đàn cò trắng… lại chỉ đáng bỏ đi. Phải vận dụng cái phong cách nên thánh của Việt nam, của Qui nhơn, cái phong cách mà những bậc cha ông như “Ông Tám Ân, như cha già Long, cha già Quảng, Phêrô Bích, cha già Châu, cha già Tiên…” đã đi và đã để lại dấu ấn không phai mờ.
+ Đó là chưa kể, quanh chúng ta, nơi các tôn giáo bạn, Phật, Khổng…có đầy dẫy những gương lành, những phương thế thật tốt, có thể vận dụng đem vào linh đạo để làm phong phú cho đời sống thiêng liêng.
Kết : Cho dù đi con đường nào, lựa chọn phương pháp nào, áp dụng linh đạo nào, tiêu đích cuối cùng, vẫn là như Thánh Phaolô “Tôi sống, không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”. Là một linh mục coi xứ, quả thật, rất có nhiều điều kiện để thực hành việc nên thánh. Bởi chưng, khi được gắn kết với một cộng đoàn mục vụ, các linh mục coi xứ hoàn toàn thể hiện cái căn tính và sự sống thường xuyên của Giáo Hội, Hiền Thê Chúa Kitô qua Phụng vụ, qua sự hiệp thông cộng đoàn và qua chính môi trường cuộc sống đời thường với tất cả mọi nhân tố làm nên một Hội Thánh thu nhỏ. Ước mong sao mọi linh mục coi xứ đều ý thức và biết vận dụng hiệu quả mọi yếu tố tích cực và thuận lợi nầy để trở thành những “mục tử như lòng Chúa mong ước”.
Ghi chú:
(1) Hiến chế Tín lý về Hội Thánh (Lumen Gentium), chương V : Lời kêu gọi mọi người nên thánh trong Giáo Hội
(2)Xem các bài viểt trên mạng trong những ngày nầy : Giáo Hội Công Giáo Việt nam quốc doanh hay không quốc doanh ? (Duyên lãng – Hà tiến Nhất); Hành trình Núi Sọ và sự im lặng của giáo quyền Việt nam (Phương Duy)
MỘT THOÁNG LINH ĐẠO DÀNH CHO LINH MỤC COI XỨ
Lời thưa trước :
NênThánh là ơn gọi chung của mọi Kitô hữu. “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Giáo Hội, Hiền Thê Chúa Kitô là một ”trường dạy nên thánh” (1). Qua chiều dài lịch sử tiến bước dưới ánh sáng Phúc âm, qua bao nhiêu kinh nghiệm nên thánh phong phú của những “hoa trái thánh thiện” là các thánh nhân của mọi thời, mọi dân, mọi nước, quả thật, chúng ta không thiếu những chỉ dẫn cần thiết để tiến bước trên con đường thánh thiện. Đặc biệt, trong thời đại nầy, chúng ta còn được lợi điểm là có được những hướng dẫn cụ thể, chính xác, truyền thống và cập nhật của những văn kiện Huấn quyền nền tảng khởi đi từ Công đồng Vatican II (Như các văn kiện : Hiến Chế Giáo Hội, Hiến chế Phụng vụ Thánh, Hiến chế Mặc Khải, Sắc lệnh chức vụ và đời sống linh mục, Đào tạo linh mục…). Tiếp theo đó là những Tông huấn của các Đức Giáo hoàng (như Pastores dabo vobis, Đời thánh hiến của ĐGH G.P.II), hoặc những hướng dẫn dành riêng cho linh mục của Thánh bộ Giáo sĩ (như Kim chỉ nam cho Thừa tác vụ và đời sống linh mục, Linh mục, Mục tử và lãnh đạo cộng đoàn giáo xứ…).
Tuy nhiên, trong cái kho tàng phong phú bao la đó, chúng ta cũng cần rút tỉa,chắc lọc những chiều kích nào, những nhân tố nào phù hợp và thiết thực nhất cho đời sống nên thánh của riêng mình. “Riêng mình” nói ở đây chính là “linh mục coi xứ”, linh mục làm mục vụ giữa cộng đoàn giáo dân được giao phó.
Tại sao lại phải tìm “cái thích hợp cho riêng mình” ? Cũng dễ hiểu thôi. Vì
trong Giáo Hội có hàng trăm ngàn linh mục mặc dù giống nhau trên căn bản bí tích Truyền chức thánh, trong căn tính của ơn gọi nên thánh phổ quát, nhưng lại rất khác nhau về lựa chọn cách sống, về chức vụ, về môi trường sống và làm việc, về các đối tượng phải quan hệ và chăm sóc, về văn hóa bản địa phải hội nhập…(Một linh mục dòng không thể tiến đức giống y như linh mục triều, một linh mục coi xứ không thể rập khuôn như các linh mục giáo sư ĐCV hay làm việc tại Thánh bộ, một linh mục coi xứ đạo nhà quê phải có cái gì đó khác với các linh mục coi xứ ở thành phố…). Chính trong trăn trở và thao thức làm sao để có một linh đạo thích hợp cho riêng mình, một linh mục coi xứ, xin được mạo muội chia sẻ vài điều cảm nhận riêng tư.ĐỀ NGHỊ 4 CHIỀU KÍCH CƠ BẢN TRONG LINH ĐẠO DÀNH CHO LINH MỤC COI XỨ
1. LINH ĐẠO MANG CHIỀU KÍCH PHỤNG VỤ :
a/. “Hãy thờ Cha trong thần khí và sự thật” (Ga 4,23-24)
+ Lý do chọn lựa : Phụng vụ chính là trọng tâm sự sống của Hội Thánh, là hoạt động cao cả nhất, quan trọng nhất mà không sinh hoạt nào sánh bằng.
+ Dẫn chứng :
“Phụng vụ là tột đỉnh mà mọi hoạt động của Giáo Hội qui hướng về, đồng thời là nguồn mạch tuổn trào mọi năng lực của Giáo Hội”… Vì thế, Phụng vụ, nhất là Lễ Tạ Ơn, như là nguồn mạch từ đó ân sủng tuôn tràn trong chúng ta và làm cho con người được thánh hóa trong Chúa Kitô một cách vô cùng hữu hiệu, đồng thời Thiên Chúa được tôn vinh : đây cũng là cứu cánh của mọi công việc khác của Giáo Hội” (PV số 10).
“Do đó, vì là công việc của Chúa Kitô tư tế và Thân thể của Người là Giáo Hội, nên mọi việc cử hành Phụng vụ đều là hành vi chí thánh, và không một hành vi nào khác của Giáo Hội có hiệu lực bằng, xét cả về danh hiệu lẫn đẳng cấp…” (PV số 7).
+ Không phải lúc nào các Kitô hữu cũng được chỉ dạy rõ ràng như thế. Đã có một thời, người ta chú trọng quá nhiều tới khía cạnh thực hành các “việc đạo đức” như : ăn chay, hãm mình, cầu nguyện, lần chuổi…và coi đó là phương thế chính để nên thánh (Thánh Simon cột…., đã có lập luận rất gần đây : “Thà bỏ lễ chứ không được bỏ nguyện gẫm” ! )
+ Trích các văn kiện riêng dành cho đời sống linh mục liên quan đến chiều kích nầy :
“Nhưng phải lưu tâm đừng để việc huấn luyện tu đức chỉ hệ tại những việc đạo đức ấy hay chỉ là một nỗ lực tạo ra thứ đạo đức tình cảm” (Đào tạo linh mục, số 8)
“Việc thống nhất đời sống nầy không thể được thực hiện nguyên bằng cách tổ chức hoàn toàn bên ngoài các sinh hoạt của tác vụ hoặc bằng cách thực thi các việc đạo đức” (Chức vụ và đời sống linh mục số 14)
“Chính những hành vi Phụng tự hằng ngày cũng như toàn thể tác vụ của các ngài thi hành hòa điệu với Giám Mục và các linh mục khác, đều hướng các ngài đến đời sống hoàn hảo” (Chức vụ và đời sống linh mục số 12)
“Đối với linh mục, bí tích Thánh Thể chiếm một vị trí thật sự trung tâm, trong thừa tác vụ cũng như trong đời sống thiêng liêng của các Ngài…Từ những bí tích khác nhau và và cách riêng, từ ân sủng loại biệt thuộc về từng bí tích, đời sống thiêng liêng của linh mục nhận được những dấu ấn riêng biệt : thực vậy, đời sống ấy được cơ chế hóa và được uốn nắn nhờ vào những đặc tính và đòi buộc đa dạng của các bí tích được cử hành và được cảm nghiệm bằng cuộc sống” (Tông huấn Pastores dabo vobis, số 26)
Nếu linh mục như vẫn thường được ám chỉ, là Alter Christus, thì căn cốt của đời linh mục chính là nối dài Đức Kitô, tiếp nối cuộc sống và hy tế của Ngài. Thế mà, Ngài đã hoàn tất đời Ngài qua mầu nhiệm Vượt qua, và đã mời gọi, truyền lệnh : “Hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”. “Việc nầy” đó chính là Phụng vụ, chính là Bí tích Thánh Thể. Cho nên, một linh mục coi xứ muốn tự kiến tạo cho mình một đời sống thánh thiện và xây dựng một cộng đoàn thánh thiện như lòng Chúa mong ước, thì Phụng vụ, thiết tưởng, chính là con đường nên thánh trước tiên phải đi, là phương thế nên thánh tối hảo phải chọn lựa, như lời dạy của Công Đồng :
“Hằng ngày, Phụng vụ kiến tạo những người bên trong Giáo Hội thành đến thánh trong Chúa, thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa trong Thánh Thần, để đạt tới mức tuổi sung mãn của Chúa Kitô” (PV số 2)
b/. Vài áp dụng cụ thể :
+ Người ta có thể đánh giá một cộng đoàn đạo đức thánh thiện, một linh mục mục đạo đức thánh thiện thông qua cách thể hiện Phụng vụ thường xuyên (Trang trí cung thánh, bàn thờ, đồ lễ, việc tham dự của cộng đoàn, các tác viên phụng vụ : đọc sách, giúp lễ, ca đoàn….Tư cách phụng vụ của chủ tế, bài giảng…)
+ Có một số cử hành Phụng vụ dễ bị đánh mất tính linh thánh của Phụng vụ để “giảm xuống hàng đạo đức” hay trở thành một loại “dịch vụ đạo đức theo yêu cầu”, đó là bí tích Giải Tội, Xức dầu bệnh nhân…
2. LINH ĐẠO MANG CHIỀU KÍCH MỤC VỤ :
a/. “Để phục vụ và hiến dâng mạng sống” (Mt 20,24-28)
+ Lý do chọn lựa : Là một linh mục coi xứ, như vậy việc nên thánh không thể tách khỏi môi trường mục vụ, công tác mục vụ, cộng đoàn mục vụ. Hơn nữa, một linh mục coi xứ không phải nên thánh cho riêng mình, mà phải nên thánh cho, vì, với và nhờ công đoàn mà mình phục vụ.
+ Dẫn chứng :
Tông huấn Pastores dabo vobis dành trọn 6 số (từ 21-26) để triển khai khía cạnh “linh đạo mục vụ” nầy qua hai nội dung chính : - Đức Ái mục vụ và – Thi hành thừa tác vụ.
Từ những gợi ý của giáo huấn trên, có thể rút ra kết luận khái quát : Linh đạo của một linh mục coi xứ phải mang chiều kích mục vụ; nghĩa là linh đạo đó phải gắn liền với cộng đoàn, phải được tác dụng “cộng hưởng” với cộng đoàn mà mình phục vụ : cho-vì-với-nhờ cộng đoàn.
“Đời sống thiêng liêng của các thừa tác viên Tân ước phải được đóng ấn bằng thái độ tiên khởi ấy, thái độ phục vụ đối với Dân Thiên Chúa” (TH.Pastores dabo vobis số 21).
“Nguyên lý nội tại, nhân đức thôi thúc và hướng dẫn đời sống thiêng liêng của linh mục, xét như đã nên đồng hình, đồng dạng với Đức Kitô Đầu và Mục tử, chính là Đức Ái Mục Vụ” (23)
“Linh mục sống trong một bầu khi liên lỷ ứng trực và sẵn sàng để cho mình bị chộp giữ hay, có thể nói, để cho mình “bị ăn” do bởi những nhu cầu và những đòi hỏi, dỉ nhiên cần phải hợp lý của đoàn chiên” (28)
“Tốt hơn phải vì đó huấn luyện cho họ biết dùng chính hoạt động mục vụ của họ, để kiên cường đời sống tu đức cho thật vững mạnh” (Đào tạo linh mục, số 9)
b/. Lưu ý và áp dụng cụ thể :
+ Đừng bao giời tự cho mình là “đấng ban phát sự thánh thiện”, là “thầy dạy đàng nên thánh” để xem thường và không tìm học hỏi được gì nơi cộng đoàn. Vì Đức Kitô mà còn “nên giống anh em mình mọi đàng ngoại trừ tội lỗi”, và “Ở giữa các ngươi, ta là một kẻ hầu bàn”.
Cộng đoàn có nhiều hoa trái thánh thiện (Trẻ em, các người già lảo, những thanh niên nam nữ…)
+ Trong đời sống giáo dân có nhiều nhân đức mà linh mục không có hay ít có : nhân đức nghèo, khổ, vất vả nhọc mệt, túng thiếu, đầu tắt mặt tối, bệnh hoạn tật nguyền, mất con, mất vợ…)
Như vậy, chính khi gắn kết với cộng đoàn, yêu thương và kính trọng, thăng tiến và xây dựng cộng đoàn, sẽ giúp cho linh mục coi xứ tiến đức. Linh đạo mang chiều kích mục vụ là như thế.
3. LINH ĐẠO MANG CHIỀU KÍCH GIÁO HỘI :
a/. Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh” (Ep 5,25)
+ Lý do chọn lựa : “Kẻ nào càng yêu mến Giáo Hội Chúa Kitô, càng có Chúa Thánh Thần” (St. Augustinô)
+ Dẫn chứng :
Tông huấn Pastores dabo vobis dành trọn các số từ 31-32 để khai triển tư tưởng nầy.
“Cũng như bất cứ đời sống thiêng liêng Kitô giáo chính hiệu nào, đời sống của linh mục cũng sở đắc một chiều kích Giáo hội cốt yếu và bất khả thay thế : đời sống ấy tham dự vào sự thánh thiện của chính Giáo Hội” (31)
“Sự trao hiến chính mình, cội rễ và chóp đỉnh của Đức Ái mục vụ nhằm đối tượng là Giáo hội. Điều nầy ứng dựng cho Đức Kitô : “Đấng đã yêu mến Giáo Hội và đã nộp mình cho Giáo Hội”. Linh mục cũng phải làm như vậy. Với Đức Ái mục vụ thấm nhuần vào việc thực thi thừa tác vụ linh mục như một “tác vụ tình yêu”, linh mục một khi đón nhận ơn gọi thi hành tác vụ, có nhiệm vụ làm cho ơn gọi ấy trở thành một lựa chọn do tình yêu, nhờ đó Giáo Hội và các linh hồn trở thành mối lợi chính yếu của linh mục. Sống đường thiêng liêng ấy một cách cụ thể, linh mục sẽ có khả năng yêu mến Giáo hội phổ quát và thành phần Giáo Hội được giao phó cho mình, với tất cả sự nồng nhiệt của một người chồng đối với vợ mình” (số 22)
Chiều kích nầy sẽ là động lực giúp cho các linh mục coi xứ những điều tích cực sau :
- Tinh thần tham chiếu, học hỏi, lắng nghe kinh nghiệm mọi nơi, mọi thời, mọi gương lành tỏa sáng trong lịch sử Giáo Hội hôm qua, hôm nay và mãi mãi cho đến ngày tận thế. Dỉ nhiên, tinh thần nầy không chấp nhận thái độ cực đoan chỉ chấp nhận một phương thế, một con người, một thời đại nào đó mà coi thường, khinh chê các giá trị của các đường hướng tu đức khác.
- Chiều kích nầy còn động viên chúng ta nỗ lực xây dựng Hội Thánh địa phương, yêu mến Hội Thánh và sẵn sàng bảo vệ Hội Thánh tới cùng.
“Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi con người cách riêng rẻ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện” (HC Giáo Hội số 9)
b/. Lứu ý và áp dụng cụ thể :
+ Trên mọi nhân đức, cần có “nhân đức Giáo hội”. Một khi tập luyện được nhân đức đặc biệt nầy, tức khắc sẽ có được các nhân đức khác !
+ Những anh em đang xây dựng Hội Thánh trong lặng lẽ, âm thầm, ẩn khuất : hãy an tâm. Tòa nhà Giáo Hội vẫn cần thiết phải có những viên gạch nằm sâu trong góc tối. Sự thánh thiện đó là biết “nằm đúng vị trí trong Thân Mình mầu nhiệm của Chúa Kitô”.
+ Chính lòng yêu mến Giáo Hội sẽ phát sinh nhiệt tâm truyền giáo, tinh thần huynh đệ hiệp thông, tương thân tương trợ, lòng quảng đại và anh hùng làm chứng tá phúc âm…
+ Một linh mục coi xứ mà đặt quyền lợi cá nhân trên danh dự và quyền lợi của Giáo Hội, vì mục tiêu và tham vọng cá nhân mà coi thường sự hiệp thông, hiệp nhất trong Hội Thánh…thì sớm chiều sẽ sụp đổ tòa nhà thiêng liêng của chính mình và ảnh hưởng tai hại đối với cộng đoàn được giao phó.
+ Hơn lúc nào hết, Hội Thánh tại Việt nam đang đứng trước những thách đố và lựa chọn hết sức tế nhị và gắt gao. Nếu không có “nhân đức giáo hội”, không có lòng yêu mến Hội Thánh chân thật và đúng đắn, sẽ có nguy cơ “lựa chọn sai”, hoặc, sẽ trở nên những yếu tố phá hoại Hội Thánh. (2)
4. LINH ĐẠO MANG CHIỀU KÍCH HỘI NHẬP VĂN HÓA
a/. “Lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ” (Mt 13,52)
+ Lý do chọn lựa : “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”.
Là người Việt nam, là linh mục Giáo phận Qui Nhơn, đang phục vụ đồng bào trong địa phương nầy, vậy không lẽ gì chúng ta lại ứng xử theo một phong cách “ngoại lai”, vong bản. Ngày hôm nay, nhiều giá trị nền tảng của gia đình kitô hữu đang bị đe dọa và lung lay, phải chăng vì đang khi các giá trị Kitô giáo chưa đủ sức thấm nhuần, trong khi các giá trị truyền thống Đông phương : Tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức, nhân nghĩa lễ trí tin…đã đội nón ra đi.
+ Dẫn chứng :
Bởi vậy bất cứ điều gì tốt đẹp được nhận biết là đã được gieo vãi trong tâm trí con người, hay trong những lễ chí và văn minh riêng của các dân tộc, sẽ không bị hủy diệt, mà còn được thăng tiến và hoàn tất, để Thiên Chúa được tôn vinh, ma quỷ bị xấu hổ và con người được hạnh phúc” (Sắc lệnh về Truyền Giáo số 9). (Cf. Tuyên ngôn “Các tôn giáo ngoài KTG”, và HC MV Gaudium et spes)
b/. Lưu ý và áp dụng :
+ Mục tiêu phải đạt cho được là “Nên Thánh”. Tuy nhiên, không phải cứ “gồng mình” theo sát cái cách hãm mình và cầu nguyện của Cha Thánh Gioan Vianê thì mới đúng hướng, hay phải như thánh Phanxicô khó khăn thì mới được chấp nhận. Là người Việt nam, mang xác thân, vóc dáng “nhỏ con” của dòng tộc Lạc hồng, thì cái phong cách nên thánh của chúng ta cũng phải chọn “kích cở sao cho vừa”, sao cho thích hợp.
+ Không hẳn cứ cao to, sừng sững như những pho tượng cẩm thạch nơi đền thánh Phêrô tại giáo đô Rôma thì mới có giá trị, còn những bức tranh thủy mạc thanh thoát, nhẹ nhàng với mái tranh, với khói lam chiều, với bà mẹ quê, với đàn cò trắng… lại chỉ đáng bỏ đi. Phải vận dụng cái phong cách nên thánh của Việt nam, của Qui nhơn, cái phong cách mà những bậc cha ông như “Ông Tám Ân, như cha già Long, cha già Quảng, Phêrô Bích, cha già Châu, cha già Tiên…” đã đi và đã để lại dấu ấn không phai mờ.
+ Đó là chưa kể, quanh chúng ta, nơi các tôn giáo bạn, Phật, Khổng…có đầy dẫy những gương lành, những phương thế thật tốt, có thể vận dụng đem vào linh đạo để làm phong phú cho đời sống thiêng liêng.
Kết : Cho dù đi con đường nào, lựa chọn phương pháp nào, áp dụng linh đạo nào, tiêu đích cuối cùng, vẫn là như Thánh Phaolô “Tôi sống, không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”. Là một linh mục coi xứ, quả thật, rất có nhiều điều kiện để thực hành việc nên thánh. Bởi chưng, khi được gắn kết với một cộng đoàn mục vụ, các linh mục coi xứ hoàn toàn thể hiện cái căn tính và sự sống thường xuyên của Giáo Hội, Hiền Thê Chúa Kitô qua Phụng vụ, qua sự hiệp thông cộng đoàn và qua chính môi trường cuộc sống đời thường với tất cả mọi nhân tố làm nên một Hội Thánh thu nhỏ. Ước mong sao mọi linh mục coi xứ đều ý thức và biết vận dụng hiệu quả mọi yếu tố tích cực và thuận lợi nầy để trở thành những “mục tử như lòng Chúa mong ước”.
Ghi chú:
(1) Hiến chế Tín lý về Hội Thánh (Lumen Gentium), chương V : Lời kêu gọi mọi người nên thánh trong Giáo Hội
(2)Xem các bài viểt trên mạng trong những ngày nầy : Giáo Hội Công Giáo Việt nam quốc doanh hay không quốc doanh ? (Duyên lãng – Hà tiến Nhất); Hành trình Núi Sọ và sự im lặng của giáo quyền Việt nam (Phương Duy)