Vai Trò thông truyền đức tin của Hội Đồng Giáo xứ



Qua Bí tích Rửa tội các thành phần Dân Chúa trong gia đình giáo xứ đựơc dự phần vào ba chức vụ linh mục, tiên tri và vương đế của Chúa Giêsu Kitô, như là Hiền thê của Đức Kitô họ được tham dự vào sứ vụ của Giáo hội. Vì những ân sủng đã lãnh nhận “mọi giáo dân vừa là chứng nhân vừa là dụng cụ sống động cho chính sứ mệnh của Giáo hội” (LG số 33).

Vì thế người giáo dân trong giáo xứ như là thành phần của dân Chúa một mặt họ là những thành phần tích cực trong lãnh vực thuộc Giáo hội như tham dự tích cực phụng vụ của Giáo hội, cộng tác trực tiếp vào công việc tông đồ của hàng giáo phẩm hay là góp ý trong việc mục vụ. Một mặt khác họ quan tâm đến những lãnh vực thuộc về trần thế về những nhu cầu của cuộc sống như: về nghề nghiệp, về công việc, về cuộc sống trong gia đình và xã hội. Có hai hình thức cốt yếu khác biệt nhau của sứ vụ Dân Thiên Chúa. Sứ vụ nầy chính là truyền bá và bảo vệ đức tin bằng lời nói và việc làm” (LG số 11).

Giáo xứ còn là một hình thức tông đồ kiểu mẫu, vì đó là nơi qui tụ đủ mọi hạng người thành một cộng đoàn và đem họ vào tinh thần đại đồng của Giáo hội, và trở thành không gian thuận tiện để người giáo dân thể hiện ơn gọi của mình cách cụ thể và hữu hiệu. Công đồng Vat. II mời gọi: người giáo dân nên tập thói quen cộng tác chặt chẽ với các linh mục của mình để hoạt động trong giáo xứ… Họ cũng phải tùy sức mà cố gắng đóng góp vào mọi công việc tông đồ và truyền giáo của Giáo hội địa phương (AA số 10). Và Hội Đồng Giáo xứ là một trong những hình thức được thiết lập để người giáo dân cộng tác với cha xứ làm cho giáo xứ trở thành môi trường thuận lợi thúc đẩy cộng đoàn Dân Chúa thể hiện những giá trị Tin Mừng và giáo huấn của Giáo Hội trong cuộc sống xã hội và mọi sinh hoạt nghề nghiệp. (x. Thư Mục Vụ số 9 § 1).

Như là cộng sự viên của cha xứ trong việc chăm sóc mục vụ, các thành viên Hội đồng Giáo xứ phải là những người đóng vai trò “môi giới cho mạc khải”, có nghĩa là tuyên xưng đức tin và làm chứng cho đức tin, hay nói cách khác là thông truyền đức tin đến cho mọi người, cho mọi thế hệ. Việc “môi giới cho mạc khải” nầy được cụ thể qua việc giáo dục đức tin bởi các khóa học giáo lý, các buổi sinh họat đạo đức dưới các hình thức lòng đạo đức bình dân: như lần chuỗi, chặng đàng Thánh Giá, kiệu rứơc, đi hành hương… và quan trọng nhất là tham dự các việc cử hành phụng vụ như: lãnh nhận các Bí tích, đặc biệt là Thánh Lễ. Kế đó là việc thể hiện đời sống bác ái, tình tương thân tương trợ trong Giáo xứ; chăm lo cho anh chị em di dân, những nạn nhân của các tệ nạn xã hội, những người bơ vơ hoặc bị bỏ rơi. (Thư Mục Vụcủa HĐGMVN 2006, số 9 § 2).

1 Thông truyền Đức tin qua việc giáo dục về đời sống Phụng vụ

Việc thông truyền đức tin trước tiên là chuyển giao đức tin cho các thế hệ. Việc nầy được thực hiện trước nhất chính là gia đình được coi như là “Giáo hội tại gia”. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong tông huấn Christifideles laici đã trình bày: là ‘Giáo Hội tại gia,’ gia đình kitô cũng là trường học tự nhiên và cơ bản, để đào tạo tín hữu: qua bí tích hôn phối, cha mẹ đã lãnh nhận ơn trợ giúp và thừa tác vụ để giáo dục con cái trong đức tin kitô; họ làm chứng và chuyển thông cho con cái những giá trị nhân bản và tôn giáo. Khi học nói lời đầu, các con em cũng học biết những lời ca tụng Chúa, Ðấng mà chúng cảm thấy gần gũi như một người Cha đầy yêu thương săn đón. Khi học làm cử chỉ tình thương đầu tiên, các em cũng học biết cách mở lòng mình ra cho người khác, và khi học biết trao ban chính mình là các em biết về thế giới loài người. Chính đời sống thường nhật của gia đình công giáo sẽ làm nẩy sinh kinh nghiệm đầu tiên về Giáo Hội” (số 62) những bậc làm cha mẹ, những kẻ tham dự vào tình phụ tử của Thiên Chúa, là những kẻ đầu tiên chịu trách nhiệm giáo dục con cái và là những kẻ đầu tiên rao giảng đức tin cho con cái. Đức Bênêđictô XVI., diễn văn bế mặc Đại hội Gia đình Thế giới lần V. tại Valencia, Tây Ban Nha, 9.7.2006 củng đã nhắc lại vai trò chuyển giao đức tin của gia đình: “Cha mẹ có bổn phận yêu thương và tôn trọng con cái như là những nhân vị và như là những con cái của Thiên Chúa. Ðặc biệt, các ngài có sứ mạng giáo dục chúng sống đức tin kitô”.

Hội Đồng Giáo Xứ như là những chất xúc tác giúp các gia đình trong giáo xứ chu toàn trách nhiệm, chuyển giao và giáo dục đức tin cho các thế hệ. Các thành viện hội đồng Giáo xứ phải là những cộng sự viên tích cực của cha xứ trong nhiệm vụ nầy. Như là chất xúc tác, Hội Đồng Giáo Xứ trước tiên phải là những thành viên gương mẫu trong việc chuyển giao đức tin ngay trong gia đình của mình.

Chuyển giao đức tin không đơn thuần là bế con cái đến nhà thờ xin được nhận lãnh bí tích Rửa tội, nhưng còn phải là động lực thông truyền đức tin cho con cái qua lời nói mà gương sáng trong đời sống đức tin của chính cha mẹ (x. AA số 11). Ngôn ngữ đức tin mà cha mẹ thông truyền cho con cái chính là đời sống cầu nguyện và việc thực hành đời sống đức tin, đó là ngôn ngữ được hình thành bởi một tình yêu nồng thắm giữa cha mẹ, được chuyển lan tới con cái và tỏa bay đến người lân cận.

Các thành viên Hội Đồng Giáo xứ phải là mẫu mực của việc thực hành đời sống đức tin trước nhất được thể hiện trong đời sống phụng vụ, vì đó “là tột đỉnh mà hoạt động của Giáo hội qui hướng về, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo hội” (SC số 10). Việc siêng năng tham dự cử hành Thánh Thể là đỉnh cao của đời sống Phụng vụ mỗi người kitô hữu phải biểu tỏ. Chính từ Bí tích Thánh Thể, người tín hữu khám phá ra nguồn mạch sự sống đích thật, bắt nguồn từ một tình yêu vô biên. Qua bí tích Thánh Thể người tín hữu nhận ra một tình yêu cả nhất, một tình yêu mãnh liệt đến nỗi hy sinh cả mạng sống cho con người vì yêu (Ga 15, 13). Từ nơi Bí tích Thánh Thể người tín hữu hiểu được sự sống chỉ có thể tuôn trào từ một tình yêu đích thật, để từ đó dấn thân học yêu như Chúa yêu.

Bài học tình yêu được kín múc từ việc cử hành thánh thể, và được thực hành trong chính cuộc sống thường ngày của người tín hữu. Đức Bênêđictô VI. trong Tông huấn Sacramentum caritatis đã trình bày một hình thức cử hành phụng vụ Thánh Thể trong đời sống mà ngài gọi là: “logiké latreia”, tức là “sự thờ phượng thiêng liêng”.

Việc thờ phượng thiêng liêng nầy được thực hiện qua việc “hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rom 12, 1) thánh Phaolô coi đó là cách thức xứng hợp để thờ phượng Thiên Chúa (x. Rm 12, 1). Theo Đức Bênêđictô XVI. việc thờ phượng nầy được bắt nguồn từ Thánh Thể, bởi việc hiến dâng thân mình chỉ mang ý nghĩa phượng thờ khi cuộc sống của người tìn hữu được Thánh Thể biến đổi. Thật vậy khi nhận lãnh Thánh Thể, người tín hữu được biến đổi nên giống Chúa Giêsu, chứ không phải Thánh Thể được biến đổi nên giống người nhận lãnh. Vì được Thánh Thể biến đổi nên việc hiến dâng thân mình của người tín hữu trở thành một hiến lễ duy nhất trong sự hiệp thông với toàn thể Giáo hội. Do đó Thánh thể “hiến lễ của Chúa Kitô, cũng chính là hiến lễ của Giáo hội và của mọi tín hữu” (Sacramentum caritatis số 70).

Đức Thánh cha Bênêđictô XVI. nhấn mạnh “việc phượng tự dành cho Thiên Chúa nơi đời sống con người không thể bị đóng khung trong một thời khắc đặc biệt và riêng tư nào đó, nhưng do tự bản chất, việc phượng tự này hướng tới việc thấm nhập từng khía cạnh của thực tại con người” (Sacramentum caritatis số 71). Vì thế, Đức Bênêđictô XVI. mời gọi mọi kitô hữu hãy bày tỏ việc phượng tự đích thực dành cho Thiên Chúa trong mọi hành vi của đời sống. Chính việc cử hành việc thờ phượng nầy mà căn tính Thánh Thể của đời sống kitô hữu bắt đầu hình thành. Có nghĩa là Thánh Thể có khả năng ngày qua ngày tạo nên sự biến đổi nơi con người, từ tư tưởng và tình cảm cho đến lời nói và việc làm để ngày càng trở nên hình ảnh của Con Thiên Chúa (Sacramentum caritatis số 71). Từ hình thức thờ phượng nầy, Đức Thánh cha đã đề ra một linh đạo và văn hóa Thánh Thể. Linh đạo Thánh Thể, có nghĩa là ngoài việc tham dự Thánh Lễ và tôn sùng Thánh Thể, người kitô hữu còn phải đổi mới cách suy nghĩ theo khuôn mẫu Thánh Thể, như thánh Phaolô đã nhắn nhủ: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2).

Hơn ai hết các thành viên Hội đồng Giáo xứ phải thấm nhuần linh đạo và văn hóa Thánh Thể, để minh chứng và công khai bảo vệ đức tin Công giáo. Thật vậy, thế giới hôm nay, một thế giới được mệnh danh là thế giới của sự thịnh vượng nhờ sự phát triển tột bực về khoa học kỹ thuật. Thế giới nầy đang nỗ lực mang lại cho con người một cuộc sống thoải mái hơn trong những tiện nghi do khoa học kỹ thuật phát minh. Nhưng bên cạnh đó, thế giới nầy cũng đang đẩy mạnh một trao lưu hưởng thụ ích kỷ, đề cao cá nhân chủ nghĩa, nỗ lực đẩy lùi những khái niệm trách nhiệm, luân lý đạo đức, để từ đó hình thành một nền “văn hóa sự chết” nói như Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Đứng trước thách đố nầy, người tín hữu được mời gọi phải tỏ ra một thái độ công khai về đức tin công giáo của mình.

Thái độ đúng đắn nhất mà chúng ta phải tỏ bày chính là trình bày một nền “văn minh tình thương”. Có nghĩa là chúng ta ra sức “tôn trọng và bảo vệ sự sống con người từ lúc thụ thai đến khi chết cách tự nhiên, như xây dựng gia đình trên nền tảng hôn nhân giữa người nam và người nữ, tự do giáo dục con cái và thăng tiến công ích dưới mọi hình thức” (Đúc Bênêđictô XVI. Tông huấn Sacramentum caritatis số 83), can đảm bảo vệ phẩm giá con người, chống lại mọi hình thức làm băng hoại phẩm giá đó, củng cố và bảo vệ mục đích và đặc tính hôn nhân gia đình.

Việc chứng tá trước tiên là làm cho người ta nhận ra sự hiện diện đích thật của Chúa Giêsu qua hành động, lời nói và thái độ của chúng ta. Có nghĩa là chúng ta phải dấn thân làm chứng cho sự thật, làm chứng cho sự hiện hữu của Thiên Chúa Tình Yêu. Trong một thế giới đang nỗ lực đẩy lùi sự hiện hữu của Thiên Chúa, và coi những tiến bộ khoa học, kỹ thuật như là cứu cánh của con người, đẩy mạnh trào lưu tục hóa, coi thường các giá trị luân lý, lương tâm bị vô hiệu hóa để không còn nhận ra tội và không tội; ngoài ra làn sóng chống đối Giáo hội vì Giáo hội hoặc là không chiều theo ý muốn của các khuynh hướng thế tục, hoặc là chủ trương tự do tôn giáo của Giáo hội, cũng như niềm xác tín Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất như một thách đố cho chủ nghĩa tôn giáo quá khích, càng ngày càng lan rộng, thì quả thật, sứ vụ loan báo chân lý của người kitô hữu càng trở nên thúc bách. Việc làm chứng cho sự thật nhiều khi đòi hỏi một sự hy sinh chính mạng sống của mình. “Qua hiến dâng mạng sống mình vì chân lý, người kitô hữu thực sự bước vào trong sự hiệp thông trọn vẹn với cuộc Vượt qua của Đức Giêsu Kitô, và như thế họ trở nên Thánh Thể cùng với Người.” (Sacramentum caritatis số 86). Để sống chứng tá của Mầu nhiệm Thánh Thể Đức Bênêđictô XVI. khích lệ: “Cho dù chúng ta không phải chịu thử thách tử đạo, nhưng chúng ta vẫn biết rằng việc phượng tự đẹp lòng Chúa đòi hỏi tận trong sâu thẳm sự sẵn sàng này, và phải được thể hiện qua chứng tá đầy vui mừng và tin tưởng trước thế giới bằng một đời sống kitô hữu nhất quán trong những môi trường mà Chúa mời gọi chúng ta loan báo Ngài”. (Sacramentum caritatis số 86).

2- Thông truyền Đức tin qua các hình thức cầu nguyện mang tính phổ thông

Việc thông truyền đức tin còn được thực hiện qua những hình thức đạo đức khác được gọi là “lòng đạo đức bình dân”, đó cũng là kho tàng quí gía cho việc làm giàu đời sống đức tin mà cha mẹ nên tiếp tục chỉ dẫn cho con cái. Thật vậy, mặc dầu, “Phụng vụ là trung tâm điểm của đời sống Giáo Hội và không có một diễn tả đạo đức nào khác có thể thay thế Phụng vụ hoặc được xem ngang hàng với Phụng vụ” (Gioan- Phaolô II, thơ gởi hội nghị khống đại của bộ Phụng tự v Kỷ luật Bí tích ngy 21.09.2001, số 5), Giáo Hội cũng không ngừng cổ võ “Lòng đạo đức bình dân”, nếu việc thi hành lòng đạo đức đó không đi ngược với cá lề luật và qui tắc của Giáo Hội (x. SC, số 13). Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong tông thư Vicesimus Quintus Annus đã nói: “Lòng đạo đức bình dân không thể bị làm ngơ, hay bi đối xử một cách dửng dưng, khinh miệt, vì giá trị của nó rất phong phú và tự thân nó diễn tả nền tảng tín ngưỡng của con người trước Thiên Chúa. … Các việc đạo đức của Dân chúa, cũng như những hình thức sùng mộ khác đều được đón nhận và cổ vũ, miễn là chúng không thay thế và không lẫn lộn với những cử hành phụng vụ” (Gioan-Phaolô II, tông thư Vicesimus Quintus Annus, ban hành ngày 4.12.1988, số 18)

Những hình thức thực hiện mối tương quan gắn kết với Thiên Chúa không chỉ thể hiện trong cuộc sống khác thường, nhưng còn trong tình huống cụ thể trong cuộc sống hằng ngày. Qủa thật đời sống thiêng liêng trong Giáo hội vẫn còn được biểu lộ dưới nhiều hình thức phong phú. Bởi đó Giáo hội khuyến khích và khuyên nên tổ chức cử hành và thực thi các hình thức đạo đức bình dân bên cạnh việc tham dự Phụng vụ. Lòng đạo đức bình dân có thể được hình thành từ những hình thức phát xuất bởi kinh nghiệm tôn giáo và đức tin cách chân thành. Kinh nghiệm hàng ngàn năm của Giáo hội chứng minh rằng, hình thức đạo đức trong gia đình và nơi quần chúng đã mang lại những kết qủa phong phú của đời sống Kitô hữu. Từ kinh nghiệm nầy và dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần Giáo hội tin rằng, lòng đạo đức nầy có thể mãi luôn mang lại một sự đóng góp lớn lao cho việc thể hiện đức tin hội nhập văn hóa đích thật phù hợp với sự đa dạng của các dân tộc.

Lòng đạo đức bình dân cũng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa Giáo Hội Việt Nam bước tới chỗ trưởng thành. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam sẽ không bao giờ quên hình ảnh những tín hữu Việt Nam hằng ngày qui tụ trong thánh đường dưới sự hướng dẫn của các ông trùm hay thầy giảng để đọc kinh chung với nhau qua việc viếng Thánh Thể, lần chuỗi Mân Côi, đi chặng đàng Thánh Giá, hay làm các tuần tam nhật, thất nhật, cửu nhật để suy niệm các biến cố của Mầu Nhiệm Cứu Chuộc, hay để tôn kính Đức Trinh Nữ Maria hoặc các Thánh. Đó chính là nguồn mạch nuôi dưỡng lòng đạo đức giúp người tín hữu vượt thắng được những gian lao thử thách.

Tuy nhiên các hình thức đạo đức bình dân nầy cũng đang bị xói mòn nơi đời sống của người tín hữu Việt nam. Mặc dầu Giáo Hội Việt Nam dưới cái nhìn của các Giáo Hội Châu Âu được đánh giá là Giáo Hội vẫn còn tràn đầy sức sống được nuôi dưỡng bởi lòng đạo đức nhiệt thành của các giáo hữu. Các Thánh đường vẫn đầy ắp người tín hữu vào mỗi Chủ nhật. Việc xây cất thêm hoặc sửa sang lại Thánh đường cho phù hợp với con số đông đảo giáo dân vẫn là một nhu cầu cấp bách. Thế nhưng, nếu nhìn vấn đề cho thật thấu đáo thì Giáo Hội Việt Nam cũng đang đối diện với thách đố như các Giáo Hội Châu Âu gặp phải: chủ nghĩa thực dụng và trào lưu hưởng thụ cũng đang tung hoành trên giải đất Việt Nam. Cái hậu qủa của nó mang lại là làm suy yếu đi lòng đạo đức của người tín hữu. Đặc biệt là các hình thức cầu nguyện thuộc lãnh vực của lòng đạo đức bình dân đang từ từ bị quên lãng. Thói quen những buổi tối cả nhà cùng quây quần đọc kinh đã trở thành những kỷ niệm, nhất là những vùng thị tứ. Thay vào đó là các bận bịu với computer, TV, phim ảnh hoặc các giải trí khác. Kinh hạt đã trở nên lỗi thời đối với phần nhiều các bạn trẻ hôm nay, và coi đó như là công việc của “đàn bà con nít”, và còn coi là việc “làm mất thời giờ”. Nhìn về tương lai, có nhiều thách đố mà lòng đạo đức của người tín hữu được kêu gọi đáp trả. Xã hội trong thế kỷ qua đã chịu nhiều thay đổi sâu rộng trong đó có những thay đổi đã làm cho sự dấn thân của Giáo Hội bị thử thách nặng nề.

Hội Đồng Giáo xứ có trách nhiệm tìm phương thế giải đáp cho những thách đố trên. Một trong những phương thế mà các thành viên Hội Đồng Giáo xứ phải quan tâm và củng cố là hình thức đọc kinh tối trong gia đình. Những lời kinh đơn sơ cùng đọc với cha với mẹ, con cái sẽ cảm nhận được sự hiệp thông trong mái ấm gia đình. Chính trong giây phút nầy các thành viên trong gia đình sẽ khám phá ra gia đình là mái ấm chứ không là quán trọ. Và điều quan trọng hơn hết, qua việc qui tụ nầy sự hiện diện của Chúa như là bảo chứng cho sự hiệp nhất trong gia đình; kế đến là hình thức đọc kinh liên gia, qua hình thức đạo đức nầy, Hội Đồng Giáo xứ tạo được một mối tương quan huynh đệ giữa các gia đình trong giáo xứ cách tốt đẹp, cùng nhau chia sẻ vui buồn, giúp đỡ nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, đây cũng là phương thế loan báo Tin Mừng cách hữu hiệu. Trong vai trò là người cộng tác công việc mục vụ với cha xứ, Hội Đồng Giáo Xứ cũng cố gắng thực hiện việc đi thăm và giúp kẻ liệt dọn mình, phải làm cho cuộc thăm viếng nầy trở thành niềm hy vọng và vui mừng, không những cho người đau yếu mà còn cho cả thân nhân của họ. Nên tổ chức những cuộc hành hương, để ngưới giáo dân khám phá những điều kỳ diệu và sự phong phú của sự mạc khải của Thiên Chúa, để rồi mau mắn đáp trả lời mời gọi từ trời cao nhằm hoàn thiện đời sống đức tin cho chính mình cho cho tha nhân.

Hội Đồng Giáo Xứ không là một cơ cấu nhằm phục vụ cho những tổ chức lễ hội của Giáo xứ. Không chỉ lo gìn giữ trật tự trong nhà thờ, hay là những người xướng kinh. Nhưng HĐGX là những cộng sự viên tích cực và sống động của cha xứ trong việc chăm lo mục vụ của Giáo xứ. Việc cộng tác được thể hiện trong những công việc liên quan đến việc bảo tồn và sống đức tin. Để chu toàn trách vụ nầy, từng thành viên của Hội Đồng Giáo xứ phải là những người gương mẫu trong đời sống đạo đức và luân lý. Đặc biệt, họ là những người nhiệt tình với đời sống của Giáo hội, thực sự quan tâm đến phần rỗi của từng người giáo dân trong giáo xứ, và họ phải là những chất xức tác tạo một mối liên kết chặt chẽ giữa cha xứ và giáo dân, là nguyên tố tạo nên mối đoàn kết, hiệp thông nên một thực sự trong Giáo xứ. Một sự hiệp thông vững bền trong đời sống đức tin, để từ đó Giáo xứ trở thành dấu chỉ của Vương quốc Thiên Chúa, một Vường quốc an bình và công chính, nơi vương quốc nầy không có hận thù, không có chia rẻ và ghét ghen.

(bài chia sẻ cho các thành viên Hội Đồng Giáo xứ giáo phận Phú Cường vào ngày 24/06/2007)