Một sự phát triển đất nước đầy đủ và đúng đắn



Khách quan mà nói, nhờ thiện chí của nhà nước và nhờ sự nỗ lực của mọi tầng lớp đồng bào - ở trong nước cũng như ở hải ngoại – và nhờ làn sóng đầu tư ồ ạt của các nước cũng như của các nhà tư bản trên khắp thế giới vào Việt Nam, nên nếu so sánh với các thập niên về trước, nền kinh tế nước ta đang đi lên, quê hương chúng ta đang thay da đổi thịt từng ngày và đời sống vật chất của các tầng lớp nhân dân cũng đang được cải thiện dần. Ðó là một điều tích cực, một bước khởi đầu rất đáng khích lệ.

Nhưng cũng ngay trong bước đầu khá tích cực đó, chúng ta cần can đảm và thành thật nhìn thẳng vào chính vấn đề phát triển đất nước, để thấy ngay được những ưu khuyết điểm, những sở trường sở đoãn, hầu cho đất nước chúng ta đạt được một nền phát triển thật sự có quy mô, đầy đủ và đúng đắn, chứ không phải một sự phát triển thiển cận, lệch lạc, méo mó và bất quân bình như tại một số quốc gia hiện nay trên thế giới,.

Để dễ hiểu được vấn đề, Người ta có thể so sánh sự phát triển của một đất nước với sự phát triển nơi mỗi một người. Vâng, để có được một cuộc sống khỏe mạnh, vui vẻ, hạnh phúc và hữu ích cho xã hội nhân quần, người đó cần phải biết phát triển con người mình một cách lành mạnh và quân bình. Nghĩa là người đó phải biết tập luyện và trau dồi con người mình một cách đầy đủ về mọi mặt : Thể lý, tinh thần và tâm linh, hầu thực sự là : « Mens sana in corpore sano » - một tinh thần lành mạnh trong một thân thể cường tráng, hay ngược lại : một thân thể cường tráng với một tinh thần lành mạnh ! Trái lại, nếu một người chỉ chú trọng phát triển con người mình trong một lãnh vực nhất định mà thôi và sao nhãng các lãnh vực khác, thì sự phát triển đó đương nhiên sẽ bị lệch lạc và hậu quả tai hại sau cùng là tình trạng bất quân bình và bệnh hoạn không thể tránh được về mọi mặt, tâm lý cũng như sinh lý.

Ðúng vậy, người ta không thể gọi là một người sống hạnh phúc và hữu ích cho xã hội được, khi người đó có đầy đủ mọi kiến thức khoa học, nhưng lại mang một thân xác èo uột, ốm yếu và mang đủ thứ bệnh tật, đến nỗi chẳng những không thể đóng góp được bất cứ điều gì cho xã hội, nhưng còn phải sống lệ thuộc vào sự giúp đỡ của người khác. Ngược lại, nếu một người đã dày công luyện tập cho mình có được một thân thể cường tráng, vai u thịt bắp, nhưng đầu óc và tâm hồn người đó lại hoàn toàn trống rỗng, lại u mê ngu muội, dốt nát, thiếu văn hóa, và nhất là thiếu niềm tin tôn giáo hướng dẫn nên kéo theo những hậu quả tai hại khác trong cuộc sống, như : thiếu lòng vị tha, thiếu đạo đức, thiếu luân lý, thiếu nhân bản, tàn bạo, v.v…, thì cả là một đại họa cho xã hội.

Một cách tương tự, công cuộc phát triển của một đất nước chẳng những cũng sẽ lôi kéo theo những hậu quả tiêu cực tất yếu như thế, nhưng còn tai hại khủng khiếp hơn, vì nó thuộc một phạm vi rộng lớn hơn, nếu như sự phát triển đó không được tổ chức một cách có quy mô, một cách quân bình, một cách hợp lý và nhất là không vì quyền lợi quốc gia dân tộc, nhưng chỉ nhắm tới việc củng cố và mưu lợi ích của phe nhóm, đảng phái tư riêng.

Trong bài này chúng tôi thử đưa ra ba nguyên tắc tượng trưng cho một sự phát triển hợp lý, đúng đắn và mang lại thành công đích thực.

1. Cần phát triển trên mọi lãnh vực

Nếu như mỗi người gồm có hai phần : linh hồn và thể xác, nên cũng có hai cuộc sống : cuộc sống tâm linh-tinh thần và cuộc sống vật chất, và cả hai đều có những nhu cầu cấp thiết riêng biệt, đòi phải được thỏa mãn, thì cuộc sống của một dân tộc cũng gồm hai lãnh vực : đời sống kinh tế và đời sống tâm linh-tinh thần. Và để cho cuộc sinh hoạt của một dân tộc được hài hòa, quân bình và tốt đẹp, thì cả hai lãnh vực đó đều đòi phải được tôn trọng và cần phải được phát huy đồng đều. Lý do đơn giản là vì một dân tộc hay một xã hội không gì khác hơn là gồm những cá nhân họp lại.

Một cách cụ thể, nghề nghiệp, công ăn việc làm và công cuộc sản xuất của mọi tầng lớp dân chúng sẽ có chất lượng, sẽ đạt hiệu quả cao, và qua đó sẽ là một đóng góp tích cực và thực tiễn vào sự phát triển đất nước, khi cuộc sống người dân được tự do thoải mái, khi tinh thần họ được thanh thản an vui. Nhưng tinh thần con người chỉ thanh thản và an ui, khi đời sống tâm linh tín ngưỡng của họ được sống động, đầy an ủi và vững chắc.

Vậy, nếu đất nước chúng ta sau bao thế kỷ bị ngoại xâm, bị chiến tranh dày vò, bị đủ mọi thế lực gò ép cùm kẹp, nên trở nên nghèo nàn, chậm tiến, và tụt hậu quá xa so với các nước khác trên thế giới, và ngày nay đang vùng vươn lên, đổi mới, hội nhập thế giới và mở rộng cửa tiếp xúc với mọi dân tộc trên thế giới, hầu để phát triển đất nước, chúng ta cần phải có một chương trình phát triển đúng đắn và đầy đủ !

Một chương trình phát triển đầy đủ và đúng đắn đòi phải nâng cao và phát huy mọi lãnh vực của đời sống xã hội, của đời sống mọi tầng lớp nhân dân, chứ không thể chỉ đề cao lãnh vực này mà hạ thấp hay coi thường lãnh vực khác, không thể chỉ dành mọi ưu tiên cho lãnh vực này mà loại bỏ hay giới hạn lãnh vực khác. Nếu không, chúng ta sẽ chỉ có được một sự phát triển méo mó, nghèo nàn và thiếu quân bình. Và hậu quả đương nhiên là dân tộc chúng ta vẫn còn bị cột chân trong tình trạng chậm tiến và thiếu phát triển, bởi vì một sự phát triển lệch lạc, thiếu thốn, không thể gọi được là một sự phát triển chân chính và đây đủ được.

Nhìn vào công cuộc phát triển hiện nay của Việt Nam, người ta phải khách quan công nhận rằng nhà nước đang thực sự muốn phát triển nền kinh tế cho đất nước, muốn nâng cao đời sống vật chất để xóa đói giảm nghèo cho dân chúng. Ðồng thời nhà nước cũng tìm mọi cách nâng cao trình độ văn hóa của dân chúng; tổ chức lại ngành giáo dục, từ tiểu học đến đại học cho có quy mô, hợp lý và có chất lượng quốc tế hơn; phát động phong trào chấn hưng các ngành nghệ thuật. Nhưng bên cạnh đó, một lãnh vực quan trọng khác đã bị nhà nước sao nhãng, thiếu quan tâm tới, nếu không nói là còn tìm cách hạn chế ít là tại một số địa phương, đó là lãnh vực tinh thần, lãnh vực tâm linh hay lãnh vực tôn giáo của các tầng lớp nhân dân.

Một điều cụ thể là nhà nước Việt Nam hiện nay là một nhà nước cộng sản, nghĩa là đang do đảng cộng sản vô thần nắm quyền lãnh đạo. Nhưng không phải vì chủ trương vô thần của mình mà nhà nước cộng sản Việt Nam lại được phép bỏ sót công cuộc phát triển lãnh vực tinh thần và tâm linh của đại đa số nhân dân được. Bởi vì trách nhiệm của một nhà nước dân chủ thực sự là lo cho cuộc sống của nhân dân được hài hòa, hạnh phúc và được phát triển đồng đều trên mọi phương diện. Đàng khác, ngày nay, sau đúng 90 năm, 1917-2007, đảng cộng sản trên khắp thế giới đã bị thoái hóa, biến thể và bị đào thải như trường hợp các đảng cộng sản ở Liên Sô và ở các nước Đông Âu; nhất là đảng cộng sản không thể đi ngược lại sự nhận thức bình thường của trí năng cũng như sự tiến bộ của nhân loại, nên đành phải loại bỏ chủ trương « tam vô » : vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo, một trong những chủ trương chính yếu của chủ thuyết Mác-xít duy vật, đầy quá khích, chủ quan và thiếu lý hữu của buổi đầu. Nghĩa là ngày nay, các nhà nước cộng sản trên thế giới không còn công khai đàn áp tôn giáo bằng cách phá đổ hay tục hóa các nhà thờ, các thánh thất, các nơi thờ phượng và bắt ép các tầng lớp nhân dân phải chối bỏ niềm tin tôn giáo của mình một cách hết sức đẫm máu như trong ba bốn thập niên đầu tiên tại Liên Sô và các nước cộng sản khác!

Ở Việt Nam, trên lý thuyết quyền tự do tôn giáo luôn được đề cao : được ghi rõ trong Hiến Pháp và được các nhà lãnh đạo nhà nước công nhận

Tuy nhiên, đảng cộng sản Việt Nam trước sau vẫn duy trì tính chất vô thần của mình, không chấp nhận một thực tại khách quan là vũ trụ này do Thiên Chúa Tạo Hóa dựng nên và chỉ Người là Ðấng Tối Cao duy nhất, chứ ngoài Người ra không còn Thần Linh cứu độ nào khác như Thánh Kinh đã minh chứng (x. Xh 20,1-2; Is 45,18-21) hay như chính lý trí lành mạnh con người tự cảm nhận và tự khám phá ra được.

Do đó, nhà nước Việt Nam tuy không còn đàn áp các tôn giáo, ít là cách công khai và toàn diện, và các cấp lãnh đạo luôn khẳng định là họ hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, nhưng với cái nhìn khách quan, người ta nhận thấy rằng bộ máy nhà nước cộng sản Việt Nam nói chung, từ trung ương đến địa phương, vẫn chưa loại bỏ được cái nhìn đầy ngờ vực đối với các tôn giáo lớn trong nước.

Sự ngờ vực đó đương nhiên không chỉ thuần túy nằm trong tư duy và lý thuyết, nhưng nó cũng được thể hiện ngay cả trong các hoạt động kinh tế và trong sự phát triển của đất nước, kéo theo một hậu quả tiêu cực là sự kỳ thị ! Trên thực tế :

• Tôn giáo của người công dân được ghi rõ trên thẻ Căn Cước hay thẻ Chứng Minh Nhân Dân của họ. Đó là một điều không hề xảy ra trong các nước dân chủ tiến bộ. Vì tôn giáo luôn là một sự thâm tín riêng tư của từng cá nhân.

• Sự giới hạn ở học đường đối với con em của các gia đình thuộc Kitô giáo : Trong các thập niên từ 40 đến 80, hầu như các con em của các gia đình Công Giáo khó lòng bước qua được cổng trường đại học để theo học các ngành chuyên môn, trừ phi các gia đình đó có công đăc biệt với nhà nước. Ngày nay tuy đã cởi mở hơn nhiều, nhưng các rào cản vẫn chưa hoàn toàn được tháo bỏ.

• Các quyền lợi trong các lãnh vực nói chung và trong lãnh vực kinh tế nói riêng, thường được phân phối dựa theo tiêu chuẩn : đảng viên, các thành phần thuộc gia đình thương binh liệt sĩ, các thành phần có công với chế độ, các thành phần được hưởng « chính sách », và sau cùng là các tầng lớp công dân khác còn lại, thường là các công dân thuộc các tôn giáo. Trong khi đó các nước có nền kinh tế phồn tịnh và phát triển lại dựa theo tiêu chuẩn khả năng chuyên môn của từng người dân.

Trên đây là một vài dẫn chứng cụ thể tượng trưng về tình trạng và cách hành xử trong tiến trình phát triển nước ta. Nhưng nếu tiến trình công cuộc phát triển nói chung và công cuộc phát triển kinh tế nói riêng của cả một đất nước lại chỉ dựa theo các tiêu chuẩn đãi ngộ, thưởng công, tình cảm đảng phái riêng tư, v.v…, chứ không dựa theo quy luật tuyển dụng và đào thải trung lập nghiêm nhặt của kinh tế, thì sẽ hoàn toàn thất bại hay rất khó lòng đạt được những thành công như đã hoạch định. Sự thất bại và sụp đổ về kinh tế và chính trị của các nhà nước cộng sản thuộc Liên Sô cũ và của toàn khối Đông Âu là một dẫn chứng hùng hồn

Từ hậu quả tiêu cực đó, người ta có thể nêu lên một nguyên tắc cần thiết khác trong tiến trình phát triển, đó là :

2. Sự cộng tác chủ động của mọi thành phần dân chúng

Không chỉ ở Việt Nam, nhưng trong tất cả các nước theo chế độ cộng sản, nghĩa là do đảng cộng sản nắm chính quyền, trọn bộ máy nhà nước, từ cấp quyền hành cao nhất là chủ tịch nước cho tới cấp quyền hành thấp nhất là viên công an tại các phường xã, đều hoàn toàn nằm trong tay các đảng viên hết. Chẳng những thế, trong các lãnh vực khác, như kinh tế, xã hội, văn hóa, v.v… cũng đều do những người có thẻ đảng viên điều hành, như : Giám đốc các công ty và các hãng xưởng quốc doanh, chủ tịch các hiệp hội hay các nghiệp đoàn, chủ trì điều hành các phương tiện truyền thông và ngay cả các người phối hợp và điều khiển một chương trình lẻ tẻ trên các phương tiện truyền thông.

Và như đã nói trên, những người nắm giữ những chức vị điều hành chủ chốt trong các lãnh vực của bộ máy nhà nước như đã nêu trên - từ lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội cho đến lãnh vực văn hóa - chưa hẳn là những người có thực lực hay có khả năng chuyên môn. Bởi vì lý do hay điều kiện đưa đẩy họ đạt được các chức vị đó không dựa theo tiêu chuẩn các hiểu biết và khả năng chuyên môn. Đó là lý do chính yếu đã cầm chân sự phát triển đất nước nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng, mặc dù thiện chí phát triển đã có dư, mục tiêu phát triển đã được hoạch định sẵn và công cuộc phát triển đã được khởi động.

Vì thế, nếu nhà nước Việt Nam thực sự muốn phát triển đất nước một cách toàn diện, đúng đắn và thành công, tức đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp phát triển, tân tiến và giàu mạnh, thì nhà nước - dù muốn hay không - bắt buộc phải tuân thủ các luật lệ kinh tế một cách nghiêm chỉnh, như : đào tạo và tận dụng tối đa các khả năng chuyên môn đến từ mọi phía; loại bỏ hoàn toàn các bộ phận sản xuất bất lực hay yếu kém; loại bỏ quy chế ưu tiên dành cho đảng phái hay cảm tình riêng tư; luật cung cầu phải đạt mức thăng bằng; tích lũy tư bản; thu hút đầu tư, v.v… Trong luật kinh tế, tuyệt đối không có chỗ đứng cho yếu tố tình cảm riêng tư.

Điều đó muốn nói rằng nếu cho đất nước đạt được một nền phát triển lành mạnh và thành công, thì trong suốt tiến trình phát triển, nhà nước cần phải tôn trọng, thăng tiến và tận dụng mọi khả năng chuyên môn trong các tầng lớp dân chúng. Và sự tuyển dụng các khả năng chuyên môn của các tầng lớp dân chúng vào công cuộc phát triển đất nước như thế, tuyệt đối phải được dựa theo kết quả của sự cạnh tranh đúng đắn và công bằng, chứ không dựa theo tiêu chuẩn đãi ngộ và thưởng công hay cảm tình đảng phái.

Trong công cuộc phát triển kinh tế, khả năng cạnh tranh là một trong những yếu tố cơ bản và sống còn của các doanh nghiệp. Người ta vẫn nói không sai : « thương trường là chiến trường »; vâng, trong luật kinh tế, chỉ kẻ mạnh và kẻ chiến thắng mới có thể và mới xứng đáng tồn tại. Vì thế, trách nhiệm của nhà nước là cần phải khuyến khích và hướng dẫn cho sự cạnh tranh đó được lành mạnh và công bằng, chứ nhà nước không được thiên vị, không được ủng hộ doanh nghiệp này và cản ngăn doanh nghiệp kia. Đó cũng là điều kiện mà Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO đã đặt ra cho Việt Nam khi được thâu nhận làm thành viên của tổ chức trong năm 2006 vừa qua.

Sự cạnh tranh lành mạnh và công bằng là một sự cạnh tranh hoàn toàn tự do, miễn sao theo đúng luật cạnh tranh quốc tế, và là một cạnh tranh bằng chính khả năng nổi trội của mình, chứ không bằng việc hạ bệ hay tiêu diệt đối thủ bằng bạo lực. Và sự cạnh tranh lành mạnh và công bằng không chỉ là một đòi hỏi đối với các doanh nghiệp, nhưng còn là một đòi hỏi đối với chính nhà nước nữa. Nói cách khác, trách nhiệm nhà nước – dù là nhà nước cộng sản đi nữa - là đứng cầm cân nảy mực, là đóng vai trò trọng tài, cốt giữ sao cho sự cạnh tranh của các thành phần dân chúng được tự do và đúng đắn, chứ nhà nước không được thiên vị hay dùng quyền hành và thủ đoạn bạo lực có sẵn để loại trừ các doanh nghiệp này hay ủng hộ doanh nghiệp kia.

Sở dĩ một nhà nước cộng sản như nhà nước Việt Nam cũng bó buộc phải tuân thủ các luật lệ cạnh tranh trên thương trường và trong lãnh vực kinh tế như thế, vì chính nhà nước Việt Nam đã cầm bút ký chấp nhận điều kiện hợp lý của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO là không bao che và tài trợ cho các doanh nghiệp nữa. Điều đó cũng muốn nói là nhà nuớc Việt Nam phải loại bỏ các quốc doanh và tư hữu hóa nền kinh tế.

Nhưng một khi nhà nước cộng sản loại bỏ các quốc doanh và các tổ chức mậu dịch do nhà nước điều hành, tư hữu hóa toàn bộ các ngành kinh tế quốc gia, hội nhập thị trường tư do, tôn trọng luật cạnh tranh tự do như thế, nhà nước đã từ bỏ chính bản chất « cộng sản » của mình, tức sự tập trung và việc nắm giữ độc quyền nguồn kinh tế quốc gia.

Tiếp đến, một khi nhà nước cộng sản giữ đúng vai trò làm trọng tài của mình trong công cuộc điều hành bộ máy quốc gia, tôn trọng các quyền tự do cơ bản của nhân dân trong mọi lãnh vực và mọi người dân có khả năng đều được tự do tham phần vào công cuộc phát triển đất nước như ở các nước dân chủ tiến bộ, chứ không còn dùng « thẻ đảng viên » như một điều kiện tiên quyết, thì nhà nước cộng sản mới thành tâm loại bỏ được tính cách độc tài đảng trị của mình và mới là một nước dân chủ tiến bộ thực sự. Đây là điểm, mà vì quyền lợi dân tộc, nhà nước cộng sản Việt Nam đang cần phải đạt tới, vì nó đẩy mạnh sự phát triển và tiến bộ của cả đất nước chúng ta. Hơn nữa, trào lưu dân chủ tiến bộ và tự do của con người ngày nay luôn chảy mạnh như một dòng thác lũ, chúng ta chỉ có thể khơi nguồn cho nó xuôi chảy một cách hợp lý và hài hòa êm thắm, chứ chúng ta không thể dùng bạo lực ngăn chặn lại được, nếu chúng ta không muốn đối mặt với sự đổ vỡ hay chỉ gặt hái được những hậu quả tiêu cực.

Cũng trong chiều hướng đó, một nguyên tắc quan trọng và hợp lý khác không được bỏ sót, đó là :

3. Phân phối quyền lợi cách công bằng và hợp lý

Người ta có thể gọi nguyên tắc kinh tế này là hiệu quả đương nhiên của hai nguyên tắc vừa nêu trên. Đúng như câu nói của đại chúng dân gian là : « có làm thì phải có ăn ». Đúng vậy, nếu mọi tầng lớp nhân dân đã hy sinh mồ hôi nước mắt và công khó của mình để đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế quốc gia đất nước, thì đương nhiên họ cũng phải thực sự có quyền kiểm soát các nguồn lợi quốc gia và nhất là được hưởng các kết quả của nền kinh tế phát triển đó một cách công bằng và cụ thể. Những khẩu hiệu thuần lý thuyết trống rỗng như « nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý » hoàn toàn vô ý nghĩa và mất khả năng thuyết phục.

Vâng, sự phân phối các quyền lợi cần phải công bằng và hợp lý, theo đúng định luật tự nhiên : « tay làm hàm nhai, tay ngoai miệng trễ », chứ cái cảnh bất công :, tức các tầng lớp dân chúng thì chỉ « được nộp thuế » hay « được dân công », còn các cấp lãnh đạo, các cấp nắm giữ quyền hành và gia đình họ lại sống trong cảnh ngồi chơi xơi nước, lại được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi do nền kinh tế phát triển mang lại, là hoàn toàn bất công và vô lý, nếu không nói là một đe dọa nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế của quốc gia. Dẫn chứng là sự thất bại thê thảm của nền kinh tế trong các nhà nước cộng sản nói chung và tại Liên Sô cũng như tại khối các nước cộng sản Đông Âu nói riêng, đã khẳng định điều đó. Bởi vì mỗi ngưới công nhân trong các nước đó chỉ là một con số sản xuất nặc danh; quyền lợi của họ không được tính theo khả năng chuyên môn hay theo năng xuất cao hay thấp, nhưng được tính theo trình độ ý thức của đương sự đối với quan điểm chính trị của chế độ và sự trung thành của đương sự với chế độ. Một chính sách phản kinh tế như thế không chỉ đi ngược lại các định luật kinh tế mà còn đi ngược lại cả định luật tâm lý nữa, vì nó làm giảm thiểu sự cộng tác nhiệt tâm của người công nhân, mà hậu quả tiêu cực tất yếu là hiệu năng sản xuất thấp kém, làm băng hoại nền kinh tế.

Dĩ nhiên, các quyền lợi của một nền kinh tế phát triển, mà mọi tầng lớp dân chúng được phân phối một cách công bằng và hợp lý, không chỉ giới hạn trong sự giàu có và phồn thịnh vật chất mà thôi, nhưng là toàn diện các quyền lợi thuộc mọi lãnh vực khác của cuộc sống nữa. Nói cách khác, mọi tầng lớp nhân dân đều được tự do thụ hưởng các quyền lợi trong xã hội, như được tự do phát huy và trau dồi các khả năng của mình qua các chương trình đào tạo ở các đại học và cao học; được tự do thi thố các kiến thức và các hiểu biết chuyên môn của mình trong các lãnh vực xã hội, chứ không bị kỳ thị hay bị sàng lọc cách bất công qua cái « sàng » đảng viên. Sau cùng, trong một xã hội có nền kinh tế phát triển, mọi tầng lớp nhân dân còn cần phải được tự do quân bình hóa đời sống của mình qua việc phát huy và trau dồi lãnh vực tâm linh, được tự do sống theo sự thâm tín của lương tâm mình, vì « con người không chỉ sống bằng cơm bánh » mà thôi.

Thật vậy, xã hội nói chung và nhà nước nói riêng – dù là một nhà nước cộng sản vô thần – cần phải giúp cho các tầng lớp nhân dân thỏa mãn được nỗi khao khát nội tâm chính đáng trong lãnh vực tôn giáo của họ. Lời phê phán : « Tôn giáo là thuốc phiện mê dân » của Karl Marx là hoàn toàn mang tính chất một chiều, đi ngược lại tâm thức tín ngưỡng sâu kín của con người và nhất là đi ngược lại chân lý khách quan về Thiên Chúa Tạo Hóa. Nếu hiểu tôn giáo là thuốc phiện mê dân, thì chỉ là những loại tôn giáo mê tín dị đoan qua việc thờ cúng ngẫu tượng hay tôn thờ các thần nhân thọ tạo, như chủ trương nhân bản quá khích của một Ludwig Feuerbach : « Homo hominis Deus est » - con người là Thiên Chúa của con người.

Không ! tự bản chất, với một trí năng và một sự phán đoàn lành mạnh bình thường, không một ai có thể phủ nhận được sự hiện hữu của Thiên Chúa. Do đó, niềm khao khát hay sự khát vọng sau cùng và sâu xa nhất của con người là đi tìm gặp Thiên Chúa, mà người ta thường gọi là tâm thức tôn giáo hay khuynh hướng tín ngưỡng.

Kết luận

Nói tóm lại, qua những trình bày sơ lược trên đây, chúng ta cũng đã nhìn thấy được những điều kiện cho một sự phát triển đất nước đúng đắn và đầy đủ.

Vâng, dù muốn hay không, người ta cũng phải chấp nhận rằng nếu muốn cho đất nước đạt tới được một nền phát triển chân chính thực sự, nếu muốn nâng cao dân trí cũng như muốn cho mọi tầng lớp nhân dân được sống hạnh phúc trong cảnh ấm no phồn thịnh đích thực, thì công cuộc phát triển đất nước không chỉ chú trọng và dừng lại trong lãnh vực kinh tế vật chất mà thôi, nhưng công cuộc phát triển đó còn phải mang tính cách toàn diện, nghĩa là còn phải đạt tới tất cả các lãnh vực khác của cuộc sống xã hội nữa, như : văn hóa, tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng !

Và trong khi chủ trì và điều hành công cuộc phát triển đất nước như thế, nhà nước – dù phát xuất từ bất cứ đảng phái và khuynh hướng chính trị nào – cần phải giữ đúng vai trò và thái độ của một người trọng tài, của một người cầm cân nảy mực cho mọi sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân sao cho được công bằng, tự do và hợp lý, chứ không được thiên vị hay dùng quyền hành và bạo lực để can thiệp cách bất công vào các sinh hoạt đa dạng đó của nhân dân, từ : kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, tinh thần cho đến tôn giáo tín ngưỡng.

Lm Nguyễn Hữu Thy