Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đang đứng trước những thách đố to lớn mới



Hoàn cảnh đất nước đã và đang đổi thay từng ngày trong mọi lãnh vực, hầu có thể hội nhập và theo kịp đà tiến nhảy vọt của nhân loại ngày nay. Từ nhân sinh quan cho tới vũ trụ quan đều phải đưa ra xét lại, phê phán, gạn lọc và chọn lựa sao cho phù hợp với nền văn minh tiến bộ của cả thế giới. Ðúng vậy, dù muốn hay không, các chính sách và thái độ của Nhà Nước trong mọi lãnh vực - kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, ngoại giao, tôn giáo, v.v… - cần phải có những canh tân và đổi mới tương ứng cần thiết, nếu chúng ta không muốn thua kém và tụt hậu một lần nữa so với các nước bạn trong khu vực và trên thế giới.

Và nếu cả đất nước đang phải chuyển mình canh tân và đổi mới từng ngày như thế, Giáo Hội Công Giáo VN cũng cần phải có những canh tân và chỉnh đốn cần thiết kịp thời, chứ Giáo Hội không thể tự an ủi và tự ru ngủ mãi trong những cách thức hành đạo và sống đạo « sốt sắng » kiểu quá khứ được. Bởi vì Giáo Hội không phải là một tháp ngà khép kín và sứ mệnh của Giáo Hội không phải là nhắm bảo toàn mọi quá khứ, nhưng là thánh hóa và kiện toàn hiện tại và dọn đường cho tương lai, là đồng hành với con người trong mọi tình huống và hoàn cảnh của cuộc sống; dĩ nhiên, không phải để chạy theo, nhưng là để giúp đỡ, chia sẻ và hướng dẫn con người. Ðó chính những thách đố to lớn đối với Giáo Hội.

Nhưng trước hết, chúng ta thử nhìn lại hoàn cảnh xã hội đất nước.

1. Hoàn cảnh cụ thể của đất nước

Xét về phương diện chính trị, nhà nước Việt Nam vẫn theo chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội do đảng cộng sản độc quyền cai trị, một đảng phái chính trị phát xuất từ cuộc Cách Mạng Vô Sản vào tháng mười năm 1917 tại Nga, do Lenin – tên thật là Wladimir Iljitsch Uljanow (1870-1924) - khởi xướng.

Và theo nguyên tắc quốc tế, các chế độ chính trị tại các quốc gia là sự lựa chọn riêng tư, là vấn đề nội bộ của các quốc gia liên hệ, chứ ngày nay các nước khác không có quyền và cũng không muốn can thiệp vào, như trong thời chiến tranh lạnh nữa. Ðúng vậy, ngày nay, trong thời đại hoàn cầu hóa, mọi quốc gia đều bắt tay cộng tác với nhau để xây dựng một thế giới hoà bình và thịnh vượng chung, với tinh thần tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau, không phân biệt chính kiến, màu da, văn hóa hay tôn giáo. Bằng chứng là các nước trên thế giới nói chung và Hoa Kỳ cũng như các nước Tây Phương nói riêng đang sát cánh cùng nhau giúp Việt Nam hội nhập quốc tế và phát triển đất nước trong mọi phương diện.

Nhưng cũng vì lý do sống chung hòa bình đó, cộng đồng quốc tế chỉ không thể coi là vấn đề nội bộ của một quốc gia nữa, khi quốc gia đó trở thành mối đe dọa trầm trọng cho nền hòa bình và thịnh vượng chung của thế giới bằng hành động thù nghịch nguy hiểm hay dung dưỡng và bao che cho các phong trào khủng bố phá hoại.

Trở lại với vấn đề chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, sau hơn bảy mươi năm hiện hữu, đảng cộng sản đã từ từ lột xác, loại bỏ hầu như tất cả các quan điểm cơ bản của thời kỳ buổi đầu quá khích, như quan điểm : về quốc gia, về quyền tư hữu, về kinh tế, về tôn giáo, mà hậu quả tất nhiên của những quan điểm đó là những chủ trương ảo tưởng về một « thế giới đại đồng » và nhất là chủ trương « tam vô ». Vâng, với não trạng và quan niệm tiến bộ ngày nay chủ trương « tam vô » - tức : vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo – là cả một điều không hợp lý, thiếu thực tế và do đó thiếu lý hữu.

Thật vậy, từ năm khai sinh 1917 cho tới năm 1989-90, năm chế độ cộng sản quốc tế ở Liên Sô và khối Ðông Âu tan rã, chưa hề có một nước cộng sản nào dám can đảm phá bỏ biên giới và các quyền lợi của quốc gia mình để thiết lập « một thế giới đại đồng » như từng mơ tưởng, hay để phục vụ cho hạnh phúc và quyền lợi của các « nước anh em » khác cả. Trái lại, các nước theo chế độ cộng sản trên thế giới vẫn luôn tranh dành quyền lợi với nhau bằng những cuộc chiến đẫm máu, như các cuộc tranh chấp biên giới giữa Nga-Trung Cộng và Trung Cộng-Việt Nam trong những năm quá khứ gần đây là những dẫn chứng điển hình.

Còn về gia đình ? Sau một thời gian thử nghiệm ở Nga vào thời kỳ buổi đầu : Mọi người nam cũng như nữ không cần lập gia đình, được tự do luyến ái theo như bản năng đòi hỏi, được tự do sống chung với nhau, « thích thì ở, dỡ thì bỏ đi », như loài người vào thời thượng cổ cách đây 5,6 ngàn năm về trước, đã đem đến những hậu quả vô cùng tai hại là làm đảo lộn toàn bộ đời sống luân lý và gây xáo trộn nguy hiểm cho trật tự xã hội, các nhà nước cộng sản lại phải trở lại với khuôn mẫu gia đình truyền thống. Chẳng những thế, ngày nay họ còn đề cao và coi trọng gia đình như tế bào sống trọng yếu và cơ bản của xã hội và của dân tộc mình.

Trong khi đó, đối với vấn đề tín ngưỡng vẫn chưa có những quyết định dứt khoát. Mặc dù ông Michail Gorbatschew, khi còn trên cương vị Tổng Bí thư đảng cộng sản Liên Sô đã từng quả quyết : « Tôn giáo là một yếu tố cơ bản của đời sống con người », và nghị quyết của Hội nghị lần VII, khóa IX của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng cộng sản Việt Nam đã từng khẳng định : « Tôn giáo chính là nhu cầu tinh thần đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc », nhưng đảng cộng sản vẫn còn bám chặt tính chất vô thần cố hữu của mình.

Nhưng nếu ngày nay, trước trào lưu dân chủ và tiến bộ cao độ của nhân loại, các nước theo chế độ cộng sản – dù muốn hay không – cũng không thể duy trì chủ trương vô thần được nữa, ít là cách chính thức, nhưng họ vẫn chưa đủ can đảm để loại bỏ được tính chất vô thần của mình. Nói cách khác, người cộng sản không còn bắt buộc được người khác phải từ bỏ niềm tin tôn giáo của mình để trở nên vô thần như họ, nhưng chính họ vẫn luôn là những con người vô thần, ít là trên hình thức bên ngoài. Chúng tôi nói « ít là trên hình thức bên ngoài », bởi vì một người có trí khôn lành mạnh bình thường và thực sự thành thật với chính mình, người đó sẽ không thể phủ nhận được sự hiện hữu của Thiên Chúa và tự cho mình là vô thần được; dĩ nhiên, người đó chỉ có thể khám phá và biết có Thiên Chúa, chứ không bao giờ có thể hiểu thấu được bản thể siêu việt của Người, đúng như Immanuel Kant (1724-1804), đại triết gia người Ðức đã nói : « Tôn giáo là một đại dương bao la, mà con người chúng ta không có thuyền bè để bơi chèo trên đó », hay như lời Lão Tử : « Ðạo khả đạo phi thường đạo » - Ðạo mà hiểu được thì không còn là đạo được nữa.

Vậy, sống dưới một chế độ do những người vô thần nắm chính quyền như thế, thì - nhiều hay ít - tính cách vô thần của họ cũng có ảnh hưởng trong các chính sách và biện pháp cai trị do họ đề xuất. Còn đối với các tôn giáo sống dưới các chế độ vô thần như thế, dù không còn công khai bị đàn áp, thì cũng khó lòng được hưởng đầy đủ mọi quyền tự do trong việc sống đạo và hành đạo như trong những quốc gia mà nhà nước hoàn toàn giữ tính cách trung lập đối với các tôn giáo.

Nhưng ngày nay, những khó khăn và thách đố đó nếu có, thì chỉ mang tính cách gián tiếp và địa phương, chứ không còn là chính sách công khai và toàn diện nữa. Vì thế, chúng tôi thiết tưởng rằng giữa Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam và nhà nước Việt Nam hiện nay tuy còn có những quan điểm khác biệt sâu sắc về vấn đề tín ngưỡng và thực hành tôn giáo, thế nhưng Giáo Hội CG vẫn có thể tìm ra được các phương thức làm thế nào để có thể mang lại các lợi ích cho quần chúng nhân dân và phục vụ dân nghèo một cách thiết thực; nghĩa là tìm ra cách thế khả dĩ thích hợp để có thể cộng tác với Nhà Nước, với tất cả mọi bộ ngành và cơ quan chính quyền trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, trong công cuộc giao lưu với thế giới và hội nhập vào đời sống văn minh nhân loại. Ðặc biệt, Giáo Hội Công Giáo tích cực đóng góp phần cộng tác của mình vào công cuộc quan hệ giữa nhà nước Việt Nam và Tòa Thánh Vatican, vì quan hệ đó mang lại nhiều lợi điểm về mọi mặt cho đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta(1).

Vậy những thách đố to lớn và nguy hiểm mà Giáo Hội Công Giáo sẽ phải đối mặt, có lẽ không phát xuất từ những tình huống vừa được đề cập trên, nhưng bắt nguồn từ chính sự canh tân, mở cửa và hội nhập của đất nước với thế giới, từ phong trào hoàn cầu hóa, từ thời đại của điện toán, của A-còng, từ ảnh hưởng của thị trường tự do, của chủ nghĩa tiêu thụ, của vật chất và của những sự tự do và dân chủ quá trớn theo kiểu Âu-Mỹ, v.v…!

2. Những thách đố nguy hiểm mới mà Giáo Hội phải đối mặt

Theo tâm lý, khi những khó khăn rắc rối do các thể chế chính trị - nhất là do các chế độ vô thần - gây ra cho Giáo Hội, thường dễ làm cho người Kitô hữu Việt Nam nhớ lại quá khứ đau thương mà cha ông họ đã phải trải qua suốt mấy trăm năm trường trong thời « bình tây sát tả » điên cuồng, tàn khốc và man rợ của các chế độ phong kiến lạc hậu xưa; thường dễ gợi lên nơi tâm tư họ ý nghĩ « bắt đạo, bị tử đạo ». Do đó, dù bằng hình thức âm thầm bất bạo động, họ luôn sẵn sàng đối phó một cách quyết liệt, can đảm và tự hào cho đức tin. Nhưng cũng vì thế, các khó khăn đó do Nhà Nước gây ra cho họ, hoàn toàn bị hóa giải, nghĩa là khó có thể gây ra nguy hiểm cho niềm tin và sự sống còn của các cộng đồng Kitô hữu. Bởi lẽ theo tâm lý, mỗi khi càng bị bắt bớ hay càng bị làm khó dễ, thì người tín hữu càng đoàn kết với nhau hơn, nhất là càng giữ đạo sốt sắng hơn và do đó càng chinh phục được cảm tình cũng như sự kính nể của nhiều anh em lương dân và khiến những người này càng muốn trở lại đạo hơn!

Vì thế, những thách đố mới mẻ và rất nguy hiểm mà Giáo Hội đang và sẽ phải đối mặt, phát sinh từ thời kỳ đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế của đất nước.

2.1. Các thách đố phát sinh từ nền kinh tế phát triển

Từ hàng bao thế kỷ nay, đại đa số người Việt Nam nói chung và người tín hữu Công Giáo nói riêng, luôn sống một cuộc sống đơn thuần, bình lặng, quay quần với nhau sau lũy tre xanh khép kín, trong tình làng nghĩa xóm, ngày đêm vui buồn có nhau như anh em ruột thịt trong một nhà. Dĩ nhiên trong khung cảnh sống hài hòa đó, tinh thần sống đạo và sự tương quan giữa Cha Xứ và giáo dân cũng chung một nhịp điệu sống đầm ấm như thế : Mọi giáo dân trong giáo xứ và trong giáo họ luôn trọng kính và coi Cha Xứ là vị đại diện của Chúa và thực sự như người cha của mình : Cha dạy gì là giáo dân đều vâng nghe răm rắp, chứ không hề dám cãi lại.

Giáo dân vâng lời Cha Xứ, một phần vì kính trọng Cha, một phần khác vì sợ chống cãi lại Cha sẽ « mắc tội trọng xuống hỏa ngục ». Sự kính trọng của giáo dân - đặc biệt ở các giáo phận Miền Bắc - đối với các vị lãnh đạo tinh thần của mình thật sâu xa, đến nỗi mỗi lần gặp mặt các ngài bất cứ nơi đâu, tất cả các giáo dân từ người già cả cho đến các em bé đều dừng bước và khoanh tay cúi chào : « con xin phép lạy cha ạ !», « con xin phép được lạy cha ạ ! »

Từ tinh thần thành kính cách đơn thuần và sự tương quan thân tình cha-con đó, trước hết tạo cho bầu không khí sống đạo trong giáo xứ thật đầm ấm và thuận thảo, đồng thời cũng đơn giản hóa rất nhiều cho công tác Mục Vụ của các Linh mục Quản Xứ, qua sự vâng phục và sự cộng tác tự nguyện và vô điều kiện của mọi thành phần giáo dân. Quả thật đó là một điều lý tưởng, nó gợi lên cho chúng ta hình ảnh thánh thiện và đáng yêu của các tín hữu thời nguyên thủy : Khi tất cả đều vâng phục, kính yêu các thánh Tông Ðồ, cùng thương yêu gắn bó huynh đệ với nhau như anh em ruột thịt vậy(2).

Nhưng tiếc thay, những hình ảnh thân thương đó đã theo sự thay đổi của thời đại và của não trạng con người mà từ từ mai một và biến dạng đi ! Rồi đây, người giáo dân sẽ trở nên có hiểu biết và trí thức hơn, nhiều khi trong các lãnh vực chuyên môn còn trổi vượt hơn cả các Cha Xứ nữa; họ sẽ ý thức được rõ ràng và không còn sợ « mắc tội trọng sa hỏa ngục » khi lên tiếng phản đối ý kiến không đúng của Cha Xứ. Vâng, rồi đây không chóng thì chầy, một khi Việt Nam trở thành một nước phát triển giàu mạnh, dân chúng được sống đời ấm no thịnh vượng, trình độ trí thức và tri thức của họ được nâng cao ngang hàng với các dân tộc tiên tiến khác, thì thái độ của các giáo dân đối với các vị lãnh đạo tinh thần của họ chắc chắn cũng sẽ khác đi, tương tự như ở Tây Phương hiện nay. Nói cách khác, người giáo dân sẽ không chỉ kính nể trọng vọng các Cha Xứ, vì các ngài là Linh mục, là những Ðấng có chức thánh, nhưng sự kính nể đó còn tùy thuộc vào tư cách sống cá nhân, sự tự trọng, thái độ nhân bản, khả năng tri thức và nhất là sự xác tín sâu xa về đức tin cũng như mức độ rao giảng Tin Mừng có tính cách thuyết phục của các ngài nữa !

Do đó, dù muốn hay không, chắc chắn các vị Mục Tử của Giáo Hội VN sẽ không chỉ gặp được những « con chiên » ngoan hiền và luôn tuân phục, nhưng còn phải tiếp cận và cần đến sự cộng tác của những giáo dân luôn biết can đảm nói lên các tư duy, các ý kiến của mình mà họ cho là đúng, dù rằng các tư duy và ý kiến đó ngược chiều với quan điểm của các ngài.

Nhưng thiết tuởng đó cũng chỉ là một diễn biến nhân văn bình thường. Ở Âu Châu vào thời Trung cổ cũng đã xảy ra tương tự : Hàng Giáo sĩ và các Thầy dòng từng là những người khai hóa dân chúng, mang đến cho cả Âu Châu ánh sáng văn minh. Nhưng ngày nay, khi dân chúng Âu Châu đã trở nên văn minh tiến bộ tột bậc về mọi lãnh vực của khoa học, thì chính tại Âu Châu, cái nôi Kitô giáo, một lục địa chẳng những chịu ảnh Kitô giáo sâu xa, mà còn có thể nói được là đồng hóa với Kitô giáo nữa, hình ảnh Hàng Giáo sĩ, các Nam Nữ Tu sĩ và ảnh hưởng của Giáo Hội đang biến dần. Ngày nay, các Giáo Hội Kitô giáo ở Âu Châu đã trở lại vị trí tinh thần và tâm linh nguyên thủa của mình. Các Giáo Hội cũng chỉ là một thành phần như mọi thành phần khác của xã hội. Do đó, để tự tồn tại và phát triển trong một xã hội tân tiến đầy cạnh tranh và đầy khuynh hướng tục hóa như xã hội Âu Châu ngày nay, Giáo Hội bắt buộc phải tự tranh đấu và tự vươn lên bằng sức sống nội tâm mạnh mẽ của mình, bằng một đức tin sống động, đầy thâm tín và đầy tính cách thuyết phục của mình, chứ xã hội chẳng những không giúp gì cho sự tồn tại và sự phát triển đó của Giáo Hội, mà thường còn là đối thủ cạnh tranh gắt gao - nhiều khi còn nguy hiểm - với chính Giáo Hội nữa !

Cụ thể, các người tín hữu Công Giáo Việt Nam ngày nay là những người của thế kỷ XXI, chứ không phải là những người thuộc năm đầu của công nguyên, và họ cũng sẽ từ từ không còn sống dấu kín sau lũy tre xanh nữa, nhưng là vào thời đất nước mở cửa hội nhập quốc tế, thời kỳ của kỹ nghệ hóa đất nước, thời kỳ mọi người dân đều được tiếp cận với khoa học, với mọi nền văn minh tiến bộ của nhân loại. Ðúng vậy, đa số giáo dân, đặc biệt các thanh niên nam nữ, đã bỏ làng, bỏ giáo xứ đi theo học tại các trường cao đẳng hay đại học nơi các thành phố lớn, hoặc đi tìm công ăn việc làm nơi các miền trù phú khác hay tại các thành thị có các công xưởng kỹ nghệ trên khắp đất nước, và hằng ngày giao lưu tiếp xúc với mọi thành phần xã hội, mọi luồng tư tưởng đối kháng, v.v… Do đó, quan điểm, tinh thần, não trạng và thái độ người giáo dân cũng thay đổi theo. Và đây chính là nơi bắt nguồn những thách đố mới và đầy gian lao, đòi Giáo Hội phải đối mặt và tìm cách thích nghi kịp thời.

2.2. Các thách đố phát sinh do thời mở cửa hội nhập quốc tế

Ngày nay, chẳng những người giáo dân qua các phương tiện giao thông tân tiến và thuận lợi, đã có những tương quan rộng rãi với mọi đồng bào khắp cả nước, mà còn có thể giao lưu và tiếp cận với người nước ngoài nữa. Vâng, nhờ chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế đúng đắn và hợp thời của Nhà Nước, người dân Việt Nam nói chung và người tín hữu Công Giáo nói riêng, đã có thể tự do gặp gỡ và tiếp xúc với người nước ngoài vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi nào trên khắp mọi miền đất nước : trên đường phố, trong tiệm ăn, trong quán cà-phê, trong siêu thị hay trong một cửa tiệm buôn bán tạm hóa, v.v…Ðó là chưa kể đến hơn ba triệu Việt Kiều đang sinh sống và đang công tác ở ngoại quốc, hằng năm trở về thăm quê hương hay liên lạc thường xuyên với thân nhân, bà con và bạn bè trong nước qua các phương tiện thông tin tân tiến.

Qua những giao lưu và tiếp cận với mọi thành phần người nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam hay qua các tiếp xúc và trao đổi với các Việt Kiều như thế, người Việt Nam trong nước nói chung và người tín hữu Công Giáo nói riêng, đã học hỏi và tiếp nhận được những điều hay và những cái mới lạ, những tin tức cập nhật trên thế giới; dĩ nhiên, lẫn lộn trong đó có cả những điều tiêu cực và sai lạc nguy hiểm nữa.

Ðúng vậy, qua những giao lưu tiếp xúc với đồng bào Việt Kiều và với người nước ngoài, đặc biệt với người Âu-Mỹ tân tiến, người Việt Nam sẽ hiểu được các ý niệm về tự do, về dân chủ, về các quyền cơ bản của con người, cũng như về các nền văn hóa, văn minh khoa học, sự tiến bộ về kỹ thuật, v.v…Và bên cạnh những điều tích cực đó, chắc chắn người Việt Nam trong nước cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng xấu và tiêu cực, qua những giao lưu tiếp xúc như thế. Nhưng đó không phải là điều chúng tôi muốn đem ra bàn ở đây. Chúng tôi chỉ trưng dẫn sự kiện đó để muốn nói lên rằng giữa một mạng lưới quan hệ rộng rãi và mới mẻ trong một xã hội mở cửa, thông thoáng và đa dạng như hiện nay, tất nhiên sự tri thức, sự hiểu biết, não trạng và quan niệm sống đời thường cũng như sống đạo của người giáo dân Việt Nam sẽ tiếp nhận được những ảnh hưởng ngoại tại sâu xa và đưa tới những thay đổi nội tại không thể tránh được.

Bởi vậy, cuộc sống và các sinh hoạt hằng ngày trong các giáo xứ và giáo họ - dù muốn hay không - cũng phải canh tân và đổi mới cho thích hợp. Nhất là các vị Mục Tử từ trung ương đến địa phương cũng bó buộc phải thay đổi quan niệm, cách tư duy, cả cách thức và phương pháp làm Mục Vụ của mình, sao cho phù hợp với thời đại tiến bộ mới, hầu có thể mang lại lợi ích thiết thực cho các cộng đoàn giáo xứ thuộc quyền và cho các linh hồn.

Phải chăng, ở đây Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không cần phải suy tư về lời đề nghị của Phúc Âm : « rượu mới cần có bình đựng mới » và « miếng vải mới phải được vá vào chiếc áo mới », chứ « rượu mới không thể đựng vào bình cũ » và « miếng vải mới không thể vá vào chiếc áo cũ » được, nếu người ta không muốn cho bình bị vỡ và áo lại bị rách thêm ? Nói cách khác, trước những thay đổi nội tại của người giáo dân về tri thức, sự hiểu biết, quan niệm sống và não trạng như thế, Giáo Hội cũng cần phải có những vị Mục tử « tân học », để ngoài các kiến thức đầy đủ về thần học, tu đức và phụng vụ, còn cần phải có cả những hiểu biết đầy đủ cần thiết về các khoa học khác, như : Triết học, tâm lý học, xã hội học, sư phạm, nhân văn, kinh tế, v.v…, đúng như công đồng Vatican II đã gợi ý trong Sắc Lệnh về Ðào Tạo Linh Mục Optatam Totius : « Thánh Công Ðồng tuyên bố việc Ðào Tạo Linh Mục là một việc rất quan trọng và nêu ra một vài nguyên tắc căn bản : những nguyên tắc này xác quyết những qui luật đã được kinh nghiệm ngàn năm chấp nhận và thêm vào đó những nguyên tắc mới cho hợp với … những biến chuyển của thời đại »(3) và : « Các Giám Mục có nhiệm vụ gửi các chủng sinh có tư cách, nhân đức và trí khôn thông minh tới học tại những Học Viện chuyên biệt, tại các Phân Khoa hay Ðại Học, để chuẩn bị cho những Linh Mục được học hành cao hơn và uyên thâm hơn về các khoa học đạo cũng như khoa học đời xem ra thích hợp, khả dĩ có thể đáp ứng những nhu cầu tông đồ khác nhau »(4).

Kết luận

Nếu ngày nay, nhà nước Việt Nam đã biết nắm bắt được vận may đang đến với mình qua việc mở cửa hội nhập vào đời sống văn minh nhân loại, giao lưu và tiếp xúc với các nước trên thế giới, như : gia nhập khối Thị Trường Tự Do Á Châu ASEAN, gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO, v.v…hầu có thể phát triển và đẩy nền kinh tế nước nhà lên hàng thế mạnh, mang lại cho nhân dân sự ấm no, thịnh vượng và tiến bộ về mọi mặt. Nhưng trên thực tế, đó không chỉ là vận may thuần túy, mà còn là một thách đố vô cùng to lớn đối với Việt Nam(5).

Cũng theo một nhịp điệu tương tự như thế, sự văn minh tiến bộ về mọi mặt của người dân Việt Nam nói chung và của người tín hữu Công Giáo nói riêng, là một niềm vui mừng, một sự hãnh diện và rất đáng tự hào cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, nhưng đồng thời tình huống mới đó cũng đặt ra cho Giáo Hội những thách đố không nhỏ về mọi mặt.

Những thách đố to lớn đó không còn cho phép Giáo Hội được hài lòng và dừng lại nơi những cách thức tổ chức Giáo Hội, cách thức thi hành chương trình Mục Vụ, tinh thần và cách thức sống đạo cũng như hành đạo như trong quá khứ nữa. Tất cả cần phải luôn được đưa ra thảo luận, bàn hỏi, xem xét, để canh tân, sửa chữa và hoàn thiện, hầu trước hết Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam sẽ không bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, phá sản và bỏ đạo từng loạt đầy đau thương như Giáo Hội Công Giáo tại các nước Tây Phương hiện nay; tiếp đến, để thời đại mở cửa, hội nhập quốc tế và kỹ nghệ hóa nền kinh tế đất nước, không là dịp cho Giáo Hội bị lạc lõng, bị mất mát và bị mặc cảm lạc hậu, trái lại sứ mệnh tông đồ « Cura animarum » của Giáo Hội càng gặt hái được những thành quả to lớn, cụ thể, thực tiễn và chắc chắn.

Nhưng tất cả đều tùy thuộc vào thái độ khôn ngoan, bình tĩnh và thích ứng kịp thời của Giáo Hội : từ Hàng Giáo Phẩm, cho đến các Linh mục, các Nam Nữ Tu sĩ và cộng đồng giáo dân !

_____________

Chú thích:

1. xem thêm bài: Lm Nguyễn Hữu Thy, ”Những lợi điểm cho Việt Nam trong quan hệ Việt Nam – Vatican”, trong www.vietcatholic.net/news/

2. xem Sách Công Vụ Các Tông Ðồ, 2,42-47

3. Vatican II, Sắc lệnh Ðào Tạo Linh Mục Optatam Totius, lời mở đầu; xem Vatican II, Sắc Lệnh về chức vụ và đời sống Linh Mục: Presbyterorum Ordinis; Tông Huấn: Pastores dabo vobis.

4. Vatican II, Sắc lệnh Ðào Tạo Linh Mục, số 18.

5. xem thêm bài: Lm Nguyễn Hữu Thy, “Hội Nhập: Vừa là một điều kiện cấp thiết, vừa là một thách đố to lớn”, trong www.vietcatholic.net/news/