Vận hội mới cho Việt Nam
Theo sự xác định của phía chính phủ Việt Nam cũng như phía Tòa Thánh Vatican, thì ngày thứ năm tới, 25.01.2007, trong chuyến công du mấy nước Châu Âu, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sẽ chính thức thăm viếng Vatican và hội kiến với Ðức Thánh Cha Bênêđíctô XVI. Ðây thực sự là một biến cố lịch sử, vì lần đầu tiên một vị Thủ Tướng của nhà nước CNXH Việt Nam đến thăm Vatican và ngay giữa lúc hai bên, Việt Nam và Vatican, chưa có quan hệ ngoại giao chính thức. Biến cố trọng đại này đã được không những tất cả người Việt Nam - trong cũng như ngoài nước, lương cũng như giáo – nhưng còn được cả thế giới nồng nhiệt chào đón.
Cuộc viếng thăm lịch sử này của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nói lên thiện chí rất đáng trân trọng của phía Việt Nam đáp trả lại sự mong muốn của phía Vatican là bình thường hóa sự quan hệ ngoại giáo giữa hai bên, như Ðức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã công khai bày tỏ trong bài giảng ngày nhận chức của ngài trong cương vị Giáo Hoàng và trong nhiều dịp khác tiếp sau. Nếu cuộc viếng thăm của Thủ Tướng Việt Nam thực sự được xảy ra – và bình thường là thế - và tiếp đến là sự quan hệ ngoại giao giữa hai bên được hiện thực, thì một điều quá hiển nhiên là nhà nước Việt Nam thực sự đã nhìn thấy được vai trò quan trọng của tòa thánh Vatican trên thế giới và vận hội mới của mình.Tuy cũng được mang danh xưng là « nhà nước », nhưng tòa thánh Vatican không phải là một nhà nước bình thường như bao nhà nước bình thường khác, nghĩa là có một chế độ chính trị, có quân đội với đủ các binh chủng, v.v… Tòa thánh Vatican cũng không phải là một « trung tâm mật vụ » hay một « tổ chức siêu quốc gia » chỉ nhắm khống chế hay can thiệp vào nội bộ các quốc gia khác, như người ta thường chụp mũ một cách vô căn cứ cho tòa thánh Vatican. Ảnh hưởng mạnh mẽ của toà thánh Vatican trên thế giới là sức mạnh tinh thần, là sức mạnh của đức tin vào Thiên Chúa và của sự xã thân phục vụ nhân loại trong chân lý.
Giáo Hội Công Giáo nói chung và tòa thánh Vatican nói riêng hoàn toàn đứng trên mọi thể chế chính trị, nhưng lại đứng giữa mọi mọi sinh hoạt và xung khắc chính trị của các quốc gia. Vâng, Giáo Hội Công Giáo không chủ trương một chế độ chính nào và cũng không ủng hộ hay phản đối bất cứ một chế độ chính trị nào. Nhưng Giáo Hội cũng không dửng dưng trước các bất công trong xã hội. Giáo Hội có những giáo huấn rõ ràng và đúng đắn về xã hội, để hướng dẫn và giúp cho các chế độ chính trị biết tôn trọng các quyền căn bản của con người. Dĩ nhiên các giáo sĩ hay giáo dân thuộc Giáo Hội, xét như là cá nhân và như người công dân của một quốc gia, vẫn có quyền bày tỏ quan niệm hay khuynh hướng chính trị của mình. Còn Giáo Hội Công Giáo xét theo toàn diện thì không hề phê phán một chế độ chính trị đúng hay sai, nhưng Giáo Hội chỉ phê phán chính sách của chế độ chính trị đó. Nói cách khác, Giáo Hội Công Giáo không ủng hộ hay phản đối một chế độ, vì chế độ đó là cộng sản hay tư bản, nhưng Giáo Hội ủng hộ hay phản đối các chính sách của chế độ đó đã biết tôn trọng hay chà đạp các quyền cơ bản của con người, nhất là các quyền về tinh thần, như quyền tự do ngôn luận, tự do lương tâm, tự do tín ngưỡng, dù chế độ đó là tư bản hay cộng sản. Vì thế, tiếng nói của Giáo Hội luôn luôn khách quan và đúng đắn.
Ðường lối « tốt đời đẹp đạo » đúng đắn đó của Giao Hội là phản ảnh trung thực quan niệm và giáo huấn của Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Sáng Lập Giáo Hội. Vâng, Ðức Giêsu đã không đến trong thế gian để can thiệp vào các cơ cấu tổ chức của con người, như một nhà cách mạng chính trị hay xã hội, nhưng để nói cho mọi người và mọi dân tộc biết rằng Thiên Chúa là Cha Nhân Từ của họ và tất cả họ là anh chị em với nhau, và để hòa giải họ lại với Thiên Chúa và hòa giải họ lại với nhau bằng chính cái chết của Người trên thập giá. Và để mọi người trên khắp thế giới được nghe biết Tin Mừng đó, Người đã sai các môn đệ đi đến với các dân tộc, và ngày nay sứ mệnh đó đang được Giáo Hội Công Giáo trân trọng bảo tồn và hăng hái thực thi.
Nếu vậy, phải chăng sự xích lại gần với tòa thánh Vatican hiện nay của chính phủ Việt Nam là một bằng chứng muốn nói lên rằng Việt Nam thực sự đã biết nắm bắt vận hội mới đang đến với dân tộc. Vâng, ngày nay hơn bao giờ hết, dân tộc Việt nam đang cần phải đoàn kết, đại đoàn kết mọi công dân lại với nhau - dù trong hay ngoài nước, có tôn giáo hay vô tín ngưỡng, kinh hay thiểu số - hầu xây dựng đất nước thành một quốc gia giàu mạnh, văn mình, tiến bộ. Chứ thái độ « bình tây sát tà » thất nhân tâm của đám quan lại và đám sĩ phu hẹp hòi thiển cận vào thế kỷ XIX phải là một bài học đau thương để đời cho mỗi người Việt Nam chúng ta. Trong khi kẻ thù ngoại bang đang tìm mọi cách xâm chiếm Tổ Quốc, thì thay vì hô hào toàn dân đoàn kết kháng chiến chống ngoại xâm, đám quan lại và đám sĩ phủ có quyền hành lúc bấy giờ lại gây chia rẽ trong dân chúng, chẳng những phân biệt lương giáo mà còn hung hăng « sát tả », giết hại cách dã man hàng ngàn hàng vạn người công dân yêu nước có đạo. Và hậu quả đương nhiên không thể tránh được là toàn đất nước đã 80 năm trường bị quằn quại dưới ách nô lệ nhục nhã của thực dân Pháp.
Tình huống ngày nay đã thay đổi. Việt Nam đã dành được những chỗ đứng vững chắc của mình trên diễn đàn quốc tế : Thành viên của Liên Hiệp Quốc, thành viện của Tổ Chức Thuơng Mại Thế Giới (WTO), thành viên của tổ chức ASEAN, v.v… Hàng ngàn nhà đầu tư trên thế giới đang đổ dồn tiền của vào Việt Nam. Ðó là chưa nói đến hơn ba triệu người Việt Nam đang sống rải rác khắp nơi trên thế giới, mà nhà nước Việt Nam vẫn tuyên bố là « những bộ phận không thể tách rời khỏi dân tộc », là một lực lượng kinh tế rất quan trọng cho Tố Quốc. Dĩ nhiên, quan trọng không vì số tiền khổng lồ trên dưới bốn tỷ USD mà bà con việt kiều chuyễn về nước hằng năm, nhưng trước hết là kho tàng trí tuệ rất quí báu của những đồng hương này.
Nhưng tất cả vân hội mới này có mang lại được hiệu quả thiết thực, có giúp cho quê hương Việt Nam dấu yêu của chúng ta có thể tự hào bước lên hàng ngũ « những con rồng Á Ðông », những quốc gia tân tiến giàu mạnh hay không, hoàn toàn tuỳ thuộc vào chính sách của nhà nước Việt Nam hiên nay có thông thoáng và cởi mở, để có thể nắm bắt được thời cơ hay không. Hy vọng rằng những tiếng nói sáng suốt và chân thành của những Nguyễn Trường Tộ và những Phan Chu Trinh ngày nay không còn là những tiếng nói vô vọng. Không. Việt Nam phải tiến lên. Việt Nam phải nắm bắt lấy vận hội mới đang đến với minh để không hổ thẹn với thiên chức « con rồng cháu tiên » của mình !