Chương 11: CUỘC CÁCH MẠNG CỦA HILDEBRAND ĐƯA CÁC GIÁO HOÀNG LÊN VỊ TRÍ TỐI CAO TRONG THẾ GIỚI KITÔ GIÁO
Đế quốc do Charlemagne tạo ra được hình dung một cách lý tưởng như là sự tiếp nối của Đế quốc Rô-ma, nhưng nó không có Luật Rô-ma hay quân đoàn Rô-ma, không có Rô-ma là thủ đô hay Viện Nguyên lão. Nó là một khối hỗn độn vô định hình và không có tổ chức, không có trung tâm đô thị và ít hoạt động thương mại. Các quan chức của nó không phải là quan chức dân sự hay công chức được đào tạo bài bản; nó chỉ có các lãnh chúa lãnh thổ và thủ lĩnh bộ lạc. Tuy nhiên, theo cách riêng của mình, nó hiện thân một ý tưởng vĩ đại: khái niệm về châu Âu như một cộng đồng các dân tộc Kitô giáo, một xã hội duy nhất bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, được tổ chức thành nhiều quốc gia nhưng gắn kết với nhau trong khuôn khổ các quyền và nghĩa vụ hỗ tương và thống nhất trong một đức tin chung và một nền văn hóa đạo đức và trí thức chung. Tất cả người châu Âu đều cảm thấy mình thuộc về cộng đồng đó ngay cả sau sự thất bại của cuộc thử nghiệm của Charlemagne và sự trỗi dậy của chế độ phong kiến, và chính ý tưởng đó đã truyền cảm hứng cho sự hình thành trật tự mới nổi lên ở phương Tây vào thế kỷ thứ mười một. (48)
Sự kết hợp giữa thế tục và thiêng liêng trong một cộng đồng duy nhất này trên thực tế có nghĩa là định chế độc nhất vô nhị này có hai người đứng đầu. Nhưng ai là người có quyền lực tối cao – Giáo hoàng hay Hoàng đế? Giáo hội hay nhà nước? Đó là một câu hỏi sẽ làm phiền lòng nhiều người và gây ra những dòng máu đổ khi vị Giáo hoàng vĩ đại Grê-go-ri-ô VII, được biết đến với tên Hildebrand, vào giữa thế kỷ thứ mười một đã hồi sinh tuyên bố đã ngủ yên từ lâu rằng quyền lực tối cao thuộc về Giáo hoàng.
Chừng nào Charlemagne còn trị vì, thì không có vấn đề gì. Không ai dám thách thức quyền tối cao của ông. Ông quan tâm đến mọi thứ ảnh hưởng đến việc cai trị cộng đồng Kitô giáo – không loại trừ các vấn đề liên quan đến đời sống của Giáo hội. Đó không hoàn toàn là những gì các Giáo hoàng đã thỏa thuận khi họ liên minh với cha ông, Pepin.
Việc Charlemagne thực thi quyền lực đối với Giáo hội thực sự trái ngược với lý thuyết lâu đời của Giáo hoàng về mối quan hệ giữa thẩm quyền thế tục và thẩm quyền thiêng liêng. Như được Đức Giáo Hoàng Giê-la-si-ô (Gelasius) (mất năm 496) đưa ra, lý thuyết này trao cho Giáo hoàng quyền chỉ đạo và định hướng cộng đồng Kitô giáo hướng tới mục tiêu cuối cùng: sự cứu rỗi vĩnh cửu. Chức năng của Hoàng đế chỉ đơn thuần là thúc đẩy phúc lợi thế tục cho các thành viên và bảo vệ sự đoàn kết của họ. Điều này được tượng trưng trong lễ đăng quang khi Giáo hoàng trao một thanh kiếm vào tay Hoàng đế.
Phù hợp với lý thuyết này, các Giáo hoàng sau Charlemagne đã cố gắng khẳng định quyền lực tối cao của họ đối với Kitô giáo—và đã đạt được một số thành công—trong thế kỷ thứ chín. Đức Giáo Hoàng Stê-pha-nô đã làm lễ đăng quang cho Louis Đạo Đức, con trai và người kế vị của Charlemagne, vào năm 816 tại Rheims, và làm rõ rằng chính vương miện bắt nguồn từ người kế vị Thánh Phê-rô. Vị thế của Giáo hoàng tiếp tục được củng cố vào năm 823 khi con trai của Louis là Lothar I đến Rô-ma để được đăng quang. Từ đó về sau, Rô-ma được coi là nơi duy nhất đúng đắn và thích hợp để tổ chức lễ đăng quang của hoàng đế.
Các Giáo hoàng kế vị trong thế kỷ thứ chín tiếp tục khẳng định quyền tối cao của quyền lực thiêng liêng trên quyền lực thế tục và duy trì thành công—ít nhiều—quyền của Giáo hội can thiệp vào công việc nhà nước. Quan điểm thần quyền về trật tự xã hội này được duy trì đến mức nhà nước không còn được coi là một thực thể riêng biệt mà được xem như một khía cạnh của Giáo hội.
Đỉnh cao của xu hướng này đạt được dưới triều đại của Đức Giáo Hoàng Ni-cô-la I (858–67), người đóng vai trò là trọng tài của Kitô giáo phương Tây. Khi làm lễ đăng quang cho Hoàng đế và trao cho ông thanh kiếm, ngài đã làm rõ ý nghĩa biểu tượng của hành động này: Nhiệm vụ của Hoàng đế là bảo vệ Giáo hội Rô-ma, hình ảnh thu nhỏ của toàn thể Giáo hội. Đức Gio-an VIII (mất năm 882) đã thăng tiến chính nghĩa quyền tối cao của Giáo hoàng bằng cách khẳng định thành công quyền của các Giáo hoàng không những trong việc đăng quang mà còn trong việc lựa chọn Hoàng đế. Điều này xảy ra vào năm 875, khi ngài trao vương miện cho Charles Hói Đầu. Một dấu hiệu cho thấy sự công nhận rộng rãi quyền tối cao của Giáo hoàng đối với trật tự thế tục là sự thay đổi về thuật ngữ: Nơi ở của ngài tại Lateran sau khoảng năm 813 không còn được gọi là "Tòa Thượng phụ" mà là "Cung điện Lateran Thánh Thiêng".
Nhưng sau đó, toàn bộ vấn đề thẩm quyền Giáo hoàng và Hoàng Đế dần mờ nhạt khi cả Đế quốc và ngôi vị Giáo hoàng bắt đầu tan rã. Sự chia rẽ và tranh chấp liên tục giữa những người thừa kế của Charlemagne là một yếu tố chính dẫn đến sự sụp đổ của Đế quốc. Louis Đạo Đức (mất năm 840), người con trai yếu đuối và thiếu quyết đoán của Charles, có bốn người con trai, những người liên tục tranh chấp với nhau và với cha mình về phần thừa kế Đế quốc. Cuối cùng, ba người con trai còn sống sót là Louis Người Đức, Charles Hói Đầu và Lothar đã chia Đế quốc thành ba phần riêng biệt: phần phía Tây (tương ứng với nước Pháp hiện đại) thuộc về Charles, phần phía Đông (tương ứng với nước Đức hiện đại) thuộc về Louis, và Lothar nắm giữ phần kéo dài ở giữa.
Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, Đế quốc đã được đặt trở lại với nhau dưới sự kiểm soát của Charles Béo khi người Franks cả Đông lẫn Tây đều chấp nhận sự cai trị của ông. Nhưng họ đã nổi dậy và phế truất ông vào năm 887. Đế quốc sụp đổ hoàn toàn trong khi quân xâm lược Viking và Magyar hoành hành, mở ra một thời kỳ hỗn loạn man rợ và đưa châu Âu vào thời đại phong kiến.
Thật khó để phóng đại nỗi kinh hoàng và hỗn loạn của thời kỳ đen tối sau sự sụp đổ của đế quốc Carolingian, như Dawson đã nói. Thượng hội đồng Trosle đã ghi lại sự tuyệt vọng của các giám mục trước viễn cảnh sự sụp đổ hoàn toàn của xã hội Kitô giáo:
Các thành phố mất dân cư, các đan viện bị phá hủy và thiêu rụi, đất nước bị thu hẹp thành cô lập… như những người đầu tiên sống không có luật lệ hay sợ hãi Thiên Chúa, bị bỏ mặc cho các đam mê của họ, thì giờ đây mỗi người làm những gì họ cho là tốt, bất chấp nhân luật và thiên luật và các điều răn của Giáo hội. Kẻ mạnh áp bức kẻ yếu; thế giới đầy rẫy sự bạo ngược chống lại người nghèo và sự cướp bóc của cải giáo hội… Con người giết hại lẫn nhau như cá dưới biển. (49)
Với sự suy tàn của Đế quốc, định chế chị em của nó, ngôi vị Giáo hoàng, cũng dần dần trượt xuống vực sâu. Nó trở thành nô lệ cho các phe phái Rô-ma địa phương và nạn nhân của những mưu đồ chính trị, mất hết thẩm quyền đạo đức và thiêng liêng. Nó đạt đến điểm thấp nhất trong triều đại Đức Giáo Hoàng Gio-an XII (mất năm 964), người lên ngôi ở tuổi mười tám và gợi nhớ đến thời đại của Hoàng đế Rô-ma Nê-rông bằng lối sống trụy lạc của mình.
Với những Giáo hoàng như vậy trên tòa Phê-rô, sự lãng quên hoàn toàn đã bao trùm lên những tuyên bố từng được tôn vinh của Giáo hoàng về thẩm quyền tối cao đối với thế giới Kitô giáo. Và khi Đế quốc hồi sinh vào thế kỷ thứ mười và Kitô giáo cùng với nó, chính các Hoàng đế mới ở vị thế tốt hơn để thực thi quyền lực tối cao—cả về thế tục lẫn thiêng liêng.
Sự phục hưng của Đế quốc này diễn ra ở Vương quốc Frank phía Đông (phần lãnh thổ Đức) dưới một triều đại vua mới. Chế độ phong kiến không phát triển mạnh ở đây như ở những nơi khác, nhờ vào ý thức bộ lạc gắn kết mạnh mẽ của bốn dân tộc Đức—người Saxon, người Bavaria, người Swabia và người Franconia. Ở đây, ngôn ngữ, luật pháp và bộ lạc chiếm những khu vực tương đối xác định và vững chắc. Đế quốc mới này được coi là sự tiếp nối của đế quốc Charlemagne, mặc dù trên thực tế, nó nhỏ hơn nhiều, vì nó không bao gồm bất cứ lãnh thổ nào của Pháp hay Tây Ban Nha. Nó thực sự chủ yếu là của người Đức, mặc dù vươn tới Ý—đế quốc đầu tiên trong ba đế quốc của Đức.
Nguồn gốc của phiên bản Đế quốc mới này có thể được truy nguyên đến Henry, công tước xứ Saxony, nhưng chính con trai ông, Otto Đại đế (mất năm 973), đã chủ động khôi phục truyền thống của Charlemagne bằng cách tìm kiếm vương miện từ Giáo hoàng. Lễ đăng quang của Otto diễn ra vào ngày 2 tháng 2 năm 962, tại Vương cung thánh đường Thánh Phê-rô, với Đức Giáo Hoàng Gio-an XII chủ trì.
Trong công cuộc khôi phục Đế quốc, Otto đã tận dụng tối đa Giáo hội, lực lượng mà ông nhận thấy là hiệu quả nhất trong cuộc đấu tranh chống lại sự hỗn loạn. Ông coi các giám mục là những cộng sự phù hợp nhất của mình vì trình độ học vấn và việc họ không có con. Điều này đặc biệt quan trọng, vì một trong những mối đe dọa chính đối với chế độ quân chủ trong xã hội phong kiến là việc các gia đình nắm quyền kiểm soát đất đai và coi đó là lãnh địa độc lập của riêng mình, từ đó tạo ra một triều đại đối địch với nhà vua. Các giám mục chưa kết hôn không thể truyền lại công quốc hoặc bá quốc cho con trai của họ. Điều này có nghĩa là khi giám mục qua đời, nhà vua một lần nữa được tự do lựa chọn người mà ông thích cho vị trí công tước hoặc bá tước thay vì để vị trí đó tự động thuộc về con trai của người quá cố. Vì vậy, bất cứ khi nào có thể, ông đều giao quyền cho các giám mục. Ông đã bổ nhiệm em trai mình, Bruno, tổng giám mục Cologne, làm công tước xứ Lotharingia.
Để hệ thống như vậy thành công, cần có sự hợp tác của Giáo hoàng, người mà bất chấp vị thế suy yếu của ngôi vị Giáo hoàng vẫn được công nhận là người đứng đầu Giáo hội. Đây là lý do tại sao Otto tìm kiếm vương miện từ Giáo hoàng, xác nhận các khoản quyên góp của Pepin và Charlemagne, và đảm bảo nền độc lập của các quốc gia Giáo hoàng.
Nhưng điều dễ hiểu là, những tuyên bố trước đây của Giáo hoàng về quyền tối cao đối với quyền lực thế tục đã bị gạt bỏ, nếu không muốn nói là bị lãng quên, trong Đế quốc Saxon mới này. Mối quan hệ tương lai giữa các Hoàng đế Saxon và Giáo hoàng, trên thực tế, đã được báo trước trong cách Otto đối xử với Đức Gio-an XII. Trong vòng một năm sau lễ đăng quang, Otto đã phế truất Đức Gio-an với tội danh phản quốc và bầu một người thường dân lên thay thế ngài. Otto phán quyết rằng trong tương lai, không một Giáo hoàng nào được tấn phong cho đến khi người đó tuyên thệ trung thành với Hoàng đế. Trong Đế quốc Otto mới, các Giáo hoàng, giống như các giám mục, sẽ là những người được đề cử và là phó tướng của người cai trị thế tục. Trong thế kỷ tiếp theo, một loạt các vị vua thuộc dòng họ Otto và Henry kế thừa sự gắn kết chặt chẽ giữa Giáo hội và nhà nước do Otto khởi xướng – sử dụng các giám mục như những quan chức của vương quyền, bổ nhiệm và phế truất Giáo hoàng theo ý muốn, nhưng đồng thời cũng thể hiện lòng nhiệt thành đáng kể trong việc cải cách Giáo hội. Henry III (1039–56), vị hoàng đế quyền lực nhất, là ví dụ nổi bật nhất về cách tiếp cận này. Là một nhà thần quyền hoàng gia, ông thường mặc áo choàng của một thầy tế lễ cấp cao trong Kinh Thánh, được trang trí bằng các biểu tượng khải huyền và cung hoàng đạo để tượng trưng cho vai trò vương giả-tư tế của mình. Ông tin rằng mình được Thiên Chúa bổ nhiệm để chăm lo cho mọi lợi ích của thần dân. Ông đã chọn các giám mục và Giáo hoàng, đảm bảo trong mỗi trường hợp rằng ứng viên đều xứng đáng với chức vụ. Khi Đức Bê-nê-đic-tô IX (1032–45) bị một Giáo hoàng giả đuổi khỏi Rô-ma, người này sau đó được thay thế bởi vị linh mục niên trưởng [archpriest] đức hạnh, Gio-an Gratian, Henry đã can thiệp, và trong các thượng hội đồng được tổ chức tại Sutri và Rô-ma, ông đã phế truất cả ba người. Và đặc trưng là, các Giáo hoàng mà ông bổ nhiệm sau đó—Clê-men-tê II (mất năm 1047), Đa-ma-sô II (1048), Leo IX (1054) và Vic-to II (mất năm 1057)—đều là những người có tầm cỡ cao nhất.
Sự thống trị của thế lực thế tục đối với Giáo hội không chỉ đúng ở Đức—ở khắp châu Âu, các lãnh chúa phong kiến đều áp dụng hệ thống tương tự, sử dụng Giáo hội theo ý muốn của họ. Luật giáo hội cũ quy định rằng giám mục phải được bầu chọn bởi giáo sĩ và giáo dân đã hoàn toàn bị lãng quên. Quyền kiểm soát thực tế đối với việc bổ nhiệm đã rơi vào tay nhà vua và các chư hầu lớn của ông. Một nghi lễ gọi là lễ tấn phong giáo dân [lay investiture] phản ánh sự kiện này: Người được bổ nhiệm làm giám mục quỳ xuống trước lãnh chúa, bày tỏ lòng kính trọng và trung thành, và nhận từ ông ta gậy và nhẫn. Đất đai và quyền tài phán kèm theo cũng được trao cho người đó cùng lúc và được coi như một thái ấp [fief] mà các nghĩa vụ phong kiến được ưu tiên hơn các nghĩa vụ giáo hội. Toàn bộ giao dịch đó còn bị vấy bẩn bởi tội buôn thần bán thấnh (simony), vì vị giám mục mới thường phải trả một khoản phí rất lớn để được thăng chức. Hơn nữa, tội buôn thần bán thánh – buôn bán các của cải thiêng liêng– tràn lan khắp Giáo hội. Linh mục quản xứ cũng phải chịu sự chi phối của giáo dân theo hệ thống sở hữu tư nhân, theo đó giáo dân sở hữu tài sản của Giáo hội và thuê các linh mục theo ý muốn. Sự kiểm soát này của giáo dân rõ ràng mâu thuẫn với luật giáo hội cổ xưa và truyền thống của Giáo hội, và đối với nhiều người, nó dường như là sự vi phạm quyền tự do vốn có và bản chất của Giáo hội.
Vì vậy, khi năng lực tinh thần bắt đầu chảy qua Giáo hội một lần nữa – như trong các đan viện lớn được cải cách bởi Cluny, tu viện Burgundy có ảnh hưởng được thành lập năm 910 – thì chỉ là vấn đề thời gian trước khi các giáo sĩ đứng lên, những người không ngại nêu câu hỏi quan trọng này: Làm thế nào giáo dân có thể nắm giữ quyền lực tối cao đối với thân thể mà Chúa Kitô đã giao phó cho các tông đồ và những người kế nhiệm của họ, các giám mục? Chính cuộc cải cách giáo hoàng mà Henry III đã thúc đẩy một cách trớ trêu cuối cùng đã đưa những người dám đặt câu hỏi này lên hàng đầu, những người đã làm suy yếu hệ thống của ông. Nổi bật nhất trong số đó là Hồng Y Humbert (mất năm 1061), với tác phẩm Adversus simonaicos Libri Tres [Ba Cuốn sách chống những kẻ buôn thần bán thánh] đã lên án hệ thống Giáo hội tư hữu và việc giáo dân phong chức là hai biểu hiện song song của cùng một điều xấu xa: sự tha hóa trật tự đúng đắn. Nguyên tắc về trật tự đúng đắn trong Giáo hội, ông lập luận, đòi hỏi giáo dân phải vâng phục giáo sĩ. Các giám mục trước hết phải được giáo sĩ bầu chọn, sau đó được dân chúng tán thành; họ không nên được giáo dân trao tặng các biểu tượng chức vụ của mình nữa. Thay vào đó, sau khi được bầu chọn, họ phải được giám mục đô thành và các giám mục lân cận thẩm định và thánh hiến.
Nhưng ngài còn đi xa hơn nữa, khôi phục lại học thuyết cổ xưa của Giáo hoàng Giê-la-si-ô khi khẳng định không những rằng giáo dân phải vâng phục linh mục trong Giáo hội, mà ngay cả bên ngoài, trong trật tự thế tục, họ cũng phải tuân theo quyền lực tinh thần của hàng giáo phẩm. Kết luận này Humbert rút ra bằng luận lý học chặt chẽ từ tiền đề cơ bản của ngài: bản chất nhất thể (unitary) của xã hội. Vì Giáo hội và Nhà nước thực sự tạo thành một thể thống nhất, tức là thế giới Kitô giáo—mà nguyên tắc cốt lõi là đức tin—nên chỉ có chức tư tế mới có thể hướng đến mục tiêu cuối cùng là sự cứu rỗi vĩnh hằng. Do đó, bất cứ khi nào xung đột giữa tinh thần và thế tục—điều thường xuyên xảy ra—thì quyền lực tinh thần phải có tiếng nói cuối cùng.
Đó quả là một bước đi táo bạo—không gì khác hơn là tuyên bố chủ quyền tuyệt đối của Giáo hoàng đối với thế giới, và một chương trình cách mạng hóa toàn bộ trật tự kinh tế, xã hội và chính trị phong kiến đã phát triển kể từ thời Otto Đại đế.
Nhưng trước khi bất cứ ai có thể mơ tưởng đến việc thực hiện nó, chính Giáo hoàng phải được giải phóng khỏi sự kìm kẹp sắt đá của Hoàng đế. Cơ hội đến khi Henry III qua đời năm 1056, chỉ để lại người con trai sáu tuổi, Henry IV, trong khi Đức Giáo Hoàng Vic-to qua đời ngay năm sau đó. Phe cải cách trong Giáo triều đã nắm bắt cơ hội vàng này bằng cách bầu một người của họ, Đức Stê-pha-nô IX; khi ngài qua đời không lâu sau đó, bất chấp những mưu đồ của giới quý tộc Rô-ma, họ đã bầu chọn một giáo sĩ có tư tưởng cải cách khác, Đức Ni-cô-la II (mất năm 1061). Con đường giờ đây đã rộng mở cho sắc lệnh mang tính bước ngoặt năm 1059, chính thức loại trừ Hoàng đế và giới quý tộc Rô-ma nổi loạn khỏi vai trò trong cuộc bầu cử giáo hoàng. Từ đó về sau, chỉ có các Hồng Y mới được bầu chọn Giáo hoàng, mặc dù một số hình thức xác nhận vẫn được cho phép đối với Hoàng đế. Sắc lệnh này đã được giữ vững trong cuộc thử thách quan trọng vào năm 1061 khi Đức Ni-cô-la qua đời. Bất chấp sự phản đối dữ dội từ giới quý tộc Rô-ma, các Hồng Y đã bầu chọn một nhà cải cách khác, An-sel-mô xứ Lucca— Đức A-léc-xan-đơ II—người để lên ngôi đã phải vượt qua liên quân của giới quý tộc Rô-ma, các giám mục Lombard và các lãnh chúa hoàng gia.
Nhưng chỉ đến khi Hildebrand, tức Đức Grê-go-ri-ô VII, được bầu chọn vào năm 1073, một người đàn ông với ý chí đủ mạnh mẽ để đưa lý thuyết của Humbert vào thực tiễn và khẳng định quyền tối cao của Giáo hoàng một cách triệt để mới xuất hiện. Phẩm chất thể chất và tinh thần của Hildebrand không có gì đặc biệt: Vóc dáng nhỏ bé, giọng nói yếu ớt, ngài chỉ học vấn ở mức độ vừa phải, nhưng ngài có tính khí nóng nảy của một nhà tiên tri Cựu Ước và thu hút mọi người bằng trí tưởng tượng phong phú, ánh mắt sắc bén và niềm đam mê mãnh liệt đối với sự công chính. Như sắc lệnh nổi tiếng Dictatus Papae (1075) của ngài cho thấy, ngài kiên định với quan điểm tuyệt đối về quyền lực của Giáo hoàng: Tất cả mọi người phải tuân theo định nghĩa về đúng và sai của ngài; ngài có quyền lực tuyệt đối trong việc vạ tuyệt thông và tha tội; chỉ có Thiên Chúa mới có thể phán xét ngài. Theo lý thuyết của Gelas, ngài tuyên bố có quyền trừng phạt và thậm chí phế truất những người cai trị bất tuân, vì Giáo hoàng đối với Đế quốc cũng như mặt trời đối với mặt trăng.
Khi vị Giáo hoàng mới lên nắm quyền, ngài nhận thấy một tình hình phần nào khả quan; dưới sự phục hồi của Giáo hoàng, phong trào cải cách đã đạt được tiến bộ. Giáo hoàng đã khẳng định tính độc lập của các cuộc bầu cử của chính mình, giành được sự công nhận về quyền lực của mình đối với tất cả các tổng giám mục và giám mục, và đang bắt đầu khôi phục lại quyền cai trị đối với các lãnh thổ thuộc Giáo hoàng. Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề. Giới giáo sĩ kiên quyết chống lại các sắc lệnh của Giáo hoàng chống lại nạn mua bán chức vụ và hôn nhân của giáo sĩ, trong khi vị vua trẻ Henry IV kiêu ngạo và vô kỷ luật lại ít có thiện cảm với ý tưởng cải cách và rõ ràng là quyết tâm giữ quyền kiểm soát của hoàng gia đối với việc đề cử giám mục.
Tuy nhiên, mọi việc khởi đầu khá tốt đẹp trong mối quan hệ giữa Đức Grê-go-ri-ô và Hoàng đế. Bế tắc về việc bổ nhiệm giám mục ở Milan đã được giải quyết khi Henry nhượng bộ ý muốn của Giáo hoàng. Điều này dường như là một điềm lành, và Đức Grê-go-ri-ô vui mừng nuôi dưỡng một giấc mơ tuyệt vời về một Đế quốc và ngôi vị Giáo hoàng thống nhất, cùng nhau hoạt động hài hòa vì lợi ích của các linh hồn, không bên nào xâm phạm phạm vi quyền lực của bên kia. Nhưng sự tuân phục của Henry chỉ là giả vờ, chỉ do áp lực từ những rắc rối nội bộ ở Đức. Ông ta đang chờ đợi những rắc rối này được giải quyết trước khi thể hiện ý định thực sự của mình về việc lệ thuộc Giáo hoàng.
Vấn đề buộc phải đối đầu là hệ thống bổ nhiệm giám mục bởi giáo dân, hay sự kiểm soát của giáo dân đối với việc bổ nhiệm giám mục, mà như chúng ta đã thấy, những người cải cách coi là nguồn gốc của cái ác trong Giáo hội. Thay vào đó, họ muốn quay trở lại với các cuộc bầu cử tự do, mà họ tin rằng sẽ cung cấp cho Giáo hội những người đủ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ cải cách. Và một sắc lệnh chống lại việc bổ nhiệm giám mục bởi giáo dân đã được thông qua bởi thượng hội đồng của Grê-go-ri-ô vào năm 1075. Nhưng Henry không hề có ý định từ bỏ quyền kiểm soát đối với các giám mục của mình. Nếu ông ta và các nhà cai trị khác thời đó không thể kiểm soát được các địa chủ giáo sĩ có lãnh địa rải rác khắp lãnh địa của họ, toàn bộ nền hành chính dân sự sẽ bị xáo trộn. Vì vậy, bất chấp sắc lệnh, ông ta đã phong người mình chọn làm tổng giám mục Milan, một người tên là Tedald.
Một quyết định trọng đại giờ đây phải được đối diện: Liệu Giáo hoàng có thực sự tối cao trên trái đất? Grê-go-ri-ô không phải là người dễ dàng né tránh. Ngài gửi cho Henry một tối hậu thư: Hoặc tôn trọng sắc lệnh phong chức, hoặc đối diện với việc bị vạ tuyệt thông và có thể bị phế truất. Tối hậu thư đến tay Hoàng đế khi ông ta vẫn còn đang hăng hái sau chiến thắng trước người Saxon nổi loạn và không có tâm trạng khuất phục. Tập hợp các giám mục bù nhìn của mình xung quanh trong một Hội nghị ở Worms, ông ta đã đưa ra phán quyết gay gắt đối với “Hildebrand, hiện không phải là Giáo hoàng mà là một đan sĩ giả”, và lên án ngài vì dám đe dọa phế truất mình, “như thể vương quốc và đế quốc nằm trong tay ngươi chứ không phải trong tay Thiên Chúa!” Và ông ta kêu lên, “Hãy xuống và từ bỏ ghế tông đồ mà ngươi đã chiếm đoạt… Hãy xuống, hãy xuống, để bị nguyền rủa suốt muôn đời.” (50)
Sắc lệnh xấc xược này được Giáo hoàng đọc cho một hội đồng giám mục được triệu tập vội vàng, những người đã phản ứng với sự giận dữ. Nại tới Thánh Phê-rô, Đức Grê-go-ri-ô đã tiến hành rút phép thông công đối với Henry và các giám mục đồng lõa của ông ta và tuyên bố Henry bị phế truất.
Các sự kiện sau đó nhanh chóng lên đến đỉnh điểm. Lệnh cấm của Giáo hoàng giáng xuống Henry với hiệu quả tàn khốc. Những người ủng hộ ông ta tan biến, và kẻ thù của ông ta đã lợi dụng điều đó để tập hợp chống lại ông ta. Một hội nghị tại Tribur vào ngày 10 tháng 10 năm 1076 đã cho Henry thời hạn đến ngày 22 tháng 2 năm 1077 để được tha tội và mời Giáo hoàng chủ trì một hội nghị ở Đức để xác định tư cách trị vì của Hoàng đế. Trong tuyệt vọng, Henry đã hành động với quyết tâm phi thường. Chỉ mang theo vài người ủng hộ, vợ và con trai nhỏ, ông đã bất chấp tuyết và băng giá mùa đông khắc nghiệt của dãy Alps gần như không thể vượt qua. Vào tháng 1 năm 1077, Henry đến lâu đài của Nữ bá tước Mathilda ở Canossa, nơi Giáo hoàng đã dừng chân trên đường đến Đức. Tại đó, khoác trên mình những bộ quần áo rách rưới sám hối, Henry đứng chân trần trong sân phủ đầy tuyết suốt ba ngày, cầu xin sự tha tội từ Giáo hoàng. Đức Grê-go-ri-ô đã tự vấn lương tâm để thoát khỏi một tình thế khó xử khủng khiếp. Lý trí chính trị mách bảo ngài không nên tin tưởng vị vua đã sa ngã, không nên làm các hoàng tử Đức thất vọng, và không nên đánh mất lợi thế tốt nhất mà ngài có; nhưng lương tâm của ngài với tư cách là một linh mục đã thắng thế, và miễn cưỡng, ngài đã tha tội cho Henry.

Kẻ thù của Henry không hề nao núng; dù vậy, họ vẫn phế truất ông và bầu Rudolf, công tước xứ Swabia, làm Hoàng đế. Sau đó, cả hai bên đều kháng cáo lên Giáo hoàng để phân định thắng thua giữa hai ứng viên. Nhưng Henry không muốn tuân theo phán quyết của Giáo hoàng, vì vậy Đức Grê-go-ri-ô lại một lần nữa rút phép thông công và phế truất ông vì tội bất phục tùng tại một thượng hội đồng Mùa Chay năm 1080. Và một cách thiếu thận trọng, ngài đã liều lĩnh tiên đoán rằng Henry sẽ bị đánh bại hoặc chết trong vòng vài tháng.
Lời tiên tri đã phản tác dụng khi Henry chiến thắng Rudolf. Dư luận ở Đức quay lưng lại với Giáo hoàng, người giờ đây dường như là kẻ gây hấn—đã vượt quá quyền hạn của mình khi cố gắng phế truất người đứng đầu thế tục của Thế giới Kitô giáo phương Tây. Do đó, Henry có thể trông cậy vào sự ủng hộ lớn hơn, và vì vậy một lần nữa cùng với các giám mục của mình, ông đã tuyên bố phán quyết phế truất Đức Grê-go-ri-ô và đặt một Giáo hoàng giả lên thay thế. Sau đó, Henry tiến quân về Rô-ma và vây hãm Đức Grê-go-ri-ô. Người dân Rô-ma không chịu nổi sự khắc nghiệt của cuộc vây hãm kéo dài và, dưới sự dẫn dắt của đa số các Hồng Y, lòng trung thành của họ đối với sự nghiệp của Grê-go-ri-ô đã suy yếu cho đến khi cuối cùng Henry có thể mua chuộc họ để giao nộp Rô-ma. Giáo hoàng chỉ kịp trốn thoát vào lâu đài Sant’Angelo.
Bước đi tiếp theo đến từ chư hầu của Giáo hoàng, người cai trị Norman ở miền nam nước Ý, Robert Guiscard, người đã đến giải cứu Đức Grê-go-ri-ô và đánh đuổi Henry. Nhưng khi làm vậy, ông đã biến Rô-ma thành tro bụi. Dân chúng phẫn nộ đổ lỗi cho Đức Grê-go-ri-ô về sự tàn phá này, người phải tìm nơi ẩn náu với Robert ở Salerno. Ở đó, bị nhấn chìm bởi cảm giác thất bại sâu sắc và với Giáo hoàng giả một lần nữa nắm quyền ở Rô-ma, Đức Grê-go-ri-ô trút hơi thở cuối cùng vào ngày 25 tháng 5 năm 1085, thốt lên những lời: “Tôi yêu công lý và ghét sự bất công; vì vậy tôi chết trong cảnh lưu đày.”
Đức Grê-go-ri-ô đã chết, nhưng sự nghiệp của ngài vẫn còn sống mãi. Người kế nhiệm trực tiếp của ngài là một nhân vật khá trung lập và không có tầm ảnh hưởng gì đáng kể, nhưng với việc bầu chọn Đức Ur-ba-nô II vào năm 1088, người từng là sứ thần của Đức Grê-go-ri-ô tại Đức trong những năm quan trọng 1084–85 và cũng là một đan sĩ dòng Cluny giống như ngài, người phù hợp đã được tìm thấy để tiếp tục công việc. Đức Ur-ba-nô cũng tận tâm như Đức Grê-go-ri-ô trong nhiệm vụ giải phóng Giáo hội khỏi sự kiểm soát của thế tục, nhưng không giống như Đức Grê-go-ri-ô, về cơ bản ngài là người ôn hòa và thực dụng.
Trong khi Henry IV loay hoay ở Ý, bị kẻ thù vây hãm, bị vợ con bỏ rơi và định mệnh phải chết giữa đống đổ nát của mọi hy vọng, thì ngôi vị Giáo hoàng dưới thời Đức Ur-ba-nô lại liên tiếp gặt hái thành công. Đức Ur-ba-nô đã tổ chức một thượng hội đồng tại Clermont vào năm 1095, nơi ngài kêu gọi các hiệp sĩ của Ki-tô giáo tham gia cuộc thập tự chinh chống lại người Hồi giáo. Với sự nhiệt tình vô bờ bến, các lãnh chúa châu Âu đã tập hợp dưới ngọn cờ của Giáo hoàng. Đó là một minh chứng rõ ràng về quyền lực mà Giáo hoàng giờ đây nắm giữ đối với tâm trí và trái tim con người—một thẩm quyền tinh thần mà không một Hoàng đế hay Vua nào có thể sánh kịp.
Tuy nhiên, vấn đề bổ nhiệm giám mục bởi giáo dân với nhiều khía cạnh gai góc đã không dễ dàng được giải quyết. Nhưng cuối cùng, nhiều hình thức thỏa hiệp khác nhau đã được tìm ra ở các quốc gia khác nhau của châu Âu. Ba điểm chính đã được thống nhất: Từ nay trở đi, giám mục sẽ được bầu chọn bởi giáo sĩ, với sự tham gia tối thiểu của giáo dân—và trước sự hiện diện của nhà vua, do đó ở một mức độ nào đó chịu ảnh hưởng của ông ta. Giám mục mới sẽ không còn được người cai trị thế tục trao tặng các biểu tượng tinh thần của chức vụ—nhẫn và gậy. Tuy nhiên, ngài sẽ được người cai trị thế tục trao tặng các biểu tượng quyền lực thế tục của mình và phải bày tỏ lòng kính trọng đối với ông ta; ở Đức, sự bày tỏ lòng kính trọng này phải diễn ra trước khi tấn phong. Phiên bản thỏa hiệp của Đức được thể hiện trong Hiệp ước Worms (1122).
Sự thỏa hiệp này có nghĩa là Hoàng đế vẫn có thể gây ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn giám mục. Chiến thắng cuối cùng của Giáo hoàng không chỉ đơn thuần là do luận lý học của Hildebrand mà còn phần lớn, nếu không muốn nói là nhiều hơn, là nhờ sự thay đổi trong các triều đại. Khi con trai của Henry IV, Henry V, qua đời năm 1125, ông được kế vị bởi Lothar II thuộc gia tộc Welf, một gia tộc vốn truyền thống ủng hộ Giáo hoàng trong cuộc đấu tranh với Henry. Điều này, cùng với việc Lothar cần sự giúp đỡ của Giáo hội để củng cố vị trí của mình, đã cho phép Giáo hoàng giành quyền kiểm soát đối với các giám mục người Đức.
Vậy là giấc mơ của Hildebrand cuối cùng đã thành hiện thực—với sự trợ giúp không nhỏ từ những biến cố lịch sử. Nhưng sự thật vẫn là: Giờ đây đã có một ngôi vị giáo hoàng mới được tượng trưng bởi quyền của các Giáo hoàng được đeo huy hiệu hoàng gia, bao gồm cả vương miện, một loại mũ đội đầu hình nón có vòng bao quanh. (Sau này điều này được thay đổi thành hai vương miện bởi Đức In-nô-cen-tê III và thành ba bởi Đức Bô-ni-fa-si-ô VIII.) Giáo hoàng giờ đây thực sự là người cai trị thế giới và sẽ thống trị đời sống của châu Âu—cả về thiêng liêng lẫn thế tục—trong nhiều thế kỷ.