Thư Trong Nước (13). Bao Giờ Mới Sáng (bài 2).
Thưa bác kính mến,
Như em đã hứa với bác, hôm nay em tạm ngưng câu chuyện giáo dục của nước ta để kể bác nghe chuyện bà xã em nổi giận chỉ vì bả cho rằng em và mấy tên bạn dám diễu cợt nhân dân nghèo của bả.
Trong số vài tên bạn thân của em, ngoài tên có tí học vấn cùng đơn vị với em trong thời chiến (em gọi hắn là Một cho tiện), còn có một tên tương đối trẻ, tên này ở trong Miền Nam. Trước giải phóng hắn ở cái tuổi choai choai, vốn là học sinh giàu lòng yêu nước nên chẳng chịu học hành, xếp bút nghiên theo một bọn nằm vùng chuyên biểu tình xách động, phản chiến, đốt cờ Mỹ (em gọi hắn là Hai cho tiện). Sau giải phóng, tên Hai này hăng hái gia nhập thanh niên xung phong, vào rừng khai phá, mong góp phần làm giàu đất nước. Nhưng Hai bắt đầu ngứa mắt vì cái sinh hoạt “quá tự do” của đơn vị hắn. Ðơn vị hắn gồm số nam và nữ sàn sàn gần bằng nhau. Với tinh thần tự do mới, không còn ràng buộc, không còn riêng tư, ích kỷ như dưới chế độ cũ, mọi sự là của chung, họ sống rất “thoải mái”, không một chút giữ gìn, e dè trong vấn đề xác thịt.. Hai và một tên bạn hắn không theo kịp cái tinh thần tự do mới, nên không nhập bọn với nhóm “thoải mái” này. Hai đứa rất khó chịu, nhưng vẫn sinh hoạt bình thường. Khu rừng này không có vắt nhưng nhiều muỗi độc. Bạn của Hai bị sốt rét vì muỗi cắn mà không được săn sóc tốt. Hai thương bạn bèn đề nghị với tay đơn vị trưởng lấy xe ô tô đơn vị đưa bạn về hậu cứ chữa trị. Tay đơn vị trưởng này cũng là học sinh chuyên viên biểu tình ngày xưa nhưng y có đảng tịch. Y trả lời rằng xăng đã hết, phải chờ được tiếp tế cho tháng tới mới có xăng chạy. Không được chăm sóc đúng mức, vài hôm sau bạn Hai chết. Phụ chôn bạn xong thì Hai khám phá ra một chuyện động trời: tên đơn vị trưởng đã bán xăng, lấy tiền nhậu nhẹt. Hai chửi cho nó một mách rồi bỏ về Sài Gòn. Với thành tích theo cách mạng nhưng không chịu vào đảng, Hai chỉ xin được chân bảo vệ cho một cơ sở sản xuất quốc doanh. Một đêm nọ, Hai trực an ninh và phát giác có người đem xe ô tô tới nhà kho mở khoá định khuân hàng đi. Hai lên tiếng hỏi thì nhóm người lên xe rút lẹ. Hôm sau, Hai báo cáo với thủ trưởng đơn vị và được khen là làm việc tốt. Nhưng vài hôm sau, Hai được cho nghỉ việc vì giảm biên chế mà Hai là nhân viên mới. Hai biết rõ cái lý do, và từ đó hết lý tưởng, sống bằng nghề đạp xích lô. Rồi Hai lập gia đình với một cô bán rau trái ở chợ chúng em bán rau muống nên chúng em quen nhau.
Vợ chồng Hai dành dụm được tí tiền, bèn về thăm người cô út ở vùng Liên Khu Tư cũ ngoài Bắc. Vợ Hai người Rạch Giá lần đầu tiên thăm đất Bắc, không thể ngờ được mức sống của người dân quá cực nhọc như vậy. Cô của Hai mắt loà, sống nhờ vào người con trai duy nhất đã có vợ hai con. Người em họ Hai cũng từng đi bộ dội, chỉ mấy năm thì giải phóng. Trong thời gian anh đi bộ đội thì bố anh chết. Sau khi hoà bình lập lại, anh trở về thì mắt mẹ anh bắt đầu loà. Sự giúp đỡ của Nhà Nước rất hạn chế, anh xin đất canh tác, bình thường thì đủ ăn trong năm, năm nào trúng thì dư chút đỉnh, bù lại những năm thất bát. Cứ như vậy, có năm anh phải thiếu thuế địa phưong và thanh toán khi có vụ khá hơn. Rồi một phần mẹ anh thúc, một phần vì làm ruộng một mình rất khó khăn, anh mới chịu lấy vợ. Hai đứa con ra đời cách nhau một năm, bà nội mắt loà lò mò trông cháu để con và dâu làm ruộng.. Lúc vợ chồng Hai ra thăm, đứa chị ba tuổi, “thường mặc quần”, thằng em lên hai, thường không mặc cả quần. Bà nội chúng cười khì: “Cho nó mát”. Vợ chồng Hai cũng có dịp đi thăm những người họ hàng xa, càng đau lòng hơn. Ðúng cái câu ông bà thường nói khi mô tả cảnh nghèo của dân ta, họ “không có cả cái bát ăn cơm”, phải dùng vỏ dừa làm đĩa, làm bát ăn cơm. Của ít lòng nhiều, vợ chồng Hai giúp mỗi người một chút. Ðó là câu chuyện vài năm sau giải phóng. Nhân dân phải thông cảm với Nhà Nước thôi vì Nhà Nước còn nhiều việc phải làm, như lo trả nợ cho Trung Quốc, Liên Xô… đã viện trợ cho mình giải phóng Miền Nam. Nay đã hơn một phần tư thế kỷ sau khi nước nhà thống nhất, nhiều người tưởng rằng cái bát ăn cơm bằng vỏ dừa đã trở thành truyện cổ tích. Nhưng không phải vậy.
Chiều nay, cả hai tên Một và Hai ghé nhà em với một cái giỏ xách. Tên Hai mở giỏ lấy ra một cái kẹp lồng hai ngăn trong đó đựng ếch xào cà ri, mấy cái bánh tráng, và một lít đế Cái Bè. Hai bảo vợ nó về quê sẵn mùa ếch đang nở rộ, bèn mua một mớ lên xào cho tụi em lai rai. Tên Một mua rượu. Sau khi xúc một chén dành cho vợ em ăn cơm, tụi em ngả chiếu. Lâu rồi mới có dịp cả ba thằng bạn thân ngồi với nhau nên thật là đủ chuyện. Nhưng rốt cuộc cũng trở lại cái đề tài muôn thưở: Nghèo. Hai kể rằng vợ chồng một người bạn của nó mới về thăm họ hàng ngoài Bắc kể cho nó nghe chuyện họ đã được ăn cơm với bát bằng vỏ dừa ở nhà một trong những người họ hàng. Vì mừng rỡ, vì hiếu khách, ai cũng mời cặp vợ chồng này ở lại ăn cơm. Bữa cơm ở một gia đình nọ gồm thịt ba chỉ luộc, mắm tép chua, dưa chua, và lạc rang, tuy đơn giản nhưng rất hấp dẫn, có điều là bát đĩa đều bằng vỏ dừa. Cặp vợ chồng này hiểu ngay là gia chủ đã cố gắng lắm mớì có được bữa cơm “thịnh soạn” như thế này. Nhờ có miếng rượu trắng, người chồng vượt qua được cái mùi tanh tanh của cái bát vỏ dừa vì lâu ngày đủ thứ thức ăn bám vào và rửa không sạch nổi, nhưng người vợ thì không tài nào nuốt được. Và cũng giống như vợ chồng Hai thăm quê trước đây, họ trở về chỉ với bộ quần áo mặc trên mình.
“Ðất nước mình nhiều tài nguyên, Dân mình thông minh, cần cù. Sao cứ nghèo mãi thế nhỉ?” Hai nêu vấn đề. Tụi em ngậm ngùi, cố gắng mổ xẻ, tìm ra cái nguyên nhân tại sao cái chương trình lớn “Xoá Ðói Giảm Nghèo” của Ðảng và Nhà Nước lại tiến hành chậm chạp như vậy, nhưng chốt lại là chỉ vì các nhà lãnh đạo khả kính của ta chưa sáng, hay là không chịu ánh đèn, mà lại hơi tham lam, khá ích kỷ. Tới đây thì vợ em từ bếp mang lên một đĩa mít, không nhiều lắm, chỉ khoảng hơn chục múi, vì vợ em mua vừa đủ cho hai đứa em ăn mà thôi, đâu tính có khách. Tên Một nhìn đĩa mít rồi bỗng nổi máu thi sĩ lên và ngâm hai câu thơ với cái giọng Huế của nó:
Thâng em dư trải mịt… ịt… trên… cây… ây.
Vỏ hẳng xù xì… ì, mủi hẳng… dày…ày…
Tụi em nghe có tiếng vợ em cười khúc khích từ dưới bếp. Bả lẩm bẩm “Rượu vào thơ ra. Thơ bà Thanh Quan với bà Xuân Hương mà ngâm bằng giọng Huế thì bố ai hiểu nổi”. Thế rồi tên Hai có ý kiến rằng tên Một hay thơ thì làm thử bài thơ vịnh trái dừa đi, vì trái dừa hầu như chẳng bỏ phí một tí gì cả, vỏ ngoài làm ấm ủ nước, vỏ trong làm gáo múc nước hay làm bát đĩa ăn cơm, cùi thì kho làm thức ăn…, nước thì khỏi nói, cứ ngọt lịm và mát cái cổ họng. Tên Một nhìn đĩa mít, tủm tỉm cười. Hắn đề nghị nếu hắn làm được bài thơ vịnh trái dừa thì hai đứa em phải nhường đĩa mít cho hắn. Hai đứa em bằng lòng.
Một gật gù ngâm:
Thâng em dư trải dừa… ừa trên cây… ây…
Võ…ọ… em nhẵng thịn… ín…, cùi em dày… ày…
Ai ơi… ơi… có muống, xin cử… ử… chặc.
Nược em trong vặc… ắc…, uổng ngooc… ooc ngay… ay…
Lại có tiếng cười khúc khích từ dưới bếp. Em và tên Hai thấy thua đứt đĩa mít, nhưng bảo Một rằng hắn tả chưa hết công dụng của trái dừa. Một suy nghĩ một lát rồi đề nghị cho hắn làm phần còn lại bằng thơ tự do. Tụi em bằng lòng.
Một hắng giọng tiếp:
Võ ngoài em xanh.
Võ trong em cửng.
Biệc gọoc biệc đẽo.
Võ ngoài làm bình.
Ũ nược nỏng lâu.
Võ trong làm đĩa.
Làm bác ăng cơm.
Tra thêm cải cảng.
Làm gảo mục nưởc.
Mục nưởc lâu ngày
Rêu xanh phũ dày.
Coi cũng hay hay.
Ăng cơm lâu ngày.
Thức ăng bám vào.
Rữa đâu có sạch.
Ngữi mùi tanh tanh.
Ăng cơm với muối.
Tưỡng ăng với cá.
Em và tên Hai chưa kịp hoan hô cái tài thơ phú của thi sĩ Một thì tất cả bỗng giật mình. Vợ em đứng bên cạnh lúc nào không hay. Bả lăm lăm con dao đang băm rau muống nấu cám heo, xỉa xói vào mặt từng đứa chúng em, nói như thét: “Thôi đi các bố. Tại sao các bố có thể tàn nhẫn cười cợt trên sự đau khổ của nhân dân như vậy. Nghèo đâu phải là cái tội, đâu phải là cái xấu. Cái tội, cái xấu là do những kẻ gây ra cái nghèo. Nghe chửa? Những kẻ bóc lột nhân dân. Nghe Chửa? Những kẻ chưa chịu sáng mắt ra mà làm giàu cho đất nước. Nghe Chửa?” Thấy tụi em nín thinh, vợ em bỏ xuống bếp, vừa đi vừa lẩm bẩm “Nhậu ếch rồi bầy đặt làm thơ con cóc”. Tên Một nhìn theo vợ em, bụm miệng cười, rồi hắn lại cất cao cái giọng Huế lên, ngâm to hơn:
Còong trời, còong đậc… ấc.., còong… non nưỡc.
Chặng lẹ…ẽ… dâng ta… a…mại… ãi thể.. ế này… ày…
Lại nghe có tiếng cười khúc khích từ dưới bếp.
Thưa bác kính mến,
Như em đã hứa với bác, hôm nay em tạm ngưng câu chuyện giáo dục của nước ta để kể bác nghe chuyện bà xã em nổi giận chỉ vì bả cho rằng em và mấy tên bạn dám diễu cợt nhân dân nghèo của bả.
Trong số vài tên bạn thân của em, ngoài tên có tí học vấn cùng đơn vị với em trong thời chiến (em gọi hắn là Một cho tiện), còn có một tên tương đối trẻ, tên này ở trong Miền Nam. Trước giải phóng hắn ở cái tuổi choai choai, vốn là học sinh giàu lòng yêu nước nên chẳng chịu học hành, xếp bút nghiên theo một bọn nằm vùng chuyên biểu tình xách động, phản chiến, đốt cờ Mỹ (em gọi hắn là Hai cho tiện). Sau giải phóng, tên Hai này hăng hái gia nhập thanh niên xung phong, vào rừng khai phá, mong góp phần làm giàu đất nước. Nhưng Hai bắt đầu ngứa mắt vì cái sinh hoạt “quá tự do” của đơn vị hắn. Ðơn vị hắn gồm số nam và nữ sàn sàn gần bằng nhau. Với tinh thần tự do mới, không còn ràng buộc, không còn riêng tư, ích kỷ như dưới chế độ cũ, mọi sự là của chung, họ sống rất “thoải mái”, không một chút giữ gìn, e dè trong vấn đề xác thịt.. Hai và một tên bạn hắn không theo kịp cái tinh thần tự do mới, nên không nhập bọn với nhóm “thoải mái” này. Hai đứa rất khó chịu, nhưng vẫn sinh hoạt bình thường. Khu rừng này không có vắt nhưng nhiều muỗi độc. Bạn của Hai bị sốt rét vì muỗi cắn mà không được săn sóc tốt. Hai thương bạn bèn đề nghị với tay đơn vị trưởng lấy xe ô tô đơn vị đưa bạn về hậu cứ chữa trị. Tay đơn vị trưởng này cũng là học sinh chuyên viên biểu tình ngày xưa nhưng y có đảng tịch. Y trả lời rằng xăng đã hết, phải chờ được tiếp tế cho tháng tới mới có xăng chạy. Không được chăm sóc đúng mức, vài hôm sau bạn Hai chết. Phụ chôn bạn xong thì Hai khám phá ra một chuyện động trời: tên đơn vị trưởng đã bán xăng, lấy tiền nhậu nhẹt. Hai chửi cho nó một mách rồi bỏ về Sài Gòn. Với thành tích theo cách mạng nhưng không chịu vào đảng, Hai chỉ xin được chân bảo vệ cho một cơ sở sản xuất quốc doanh. Một đêm nọ, Hai trực an ninh và phát giác có người đem xe ô tô tới nhà kho mở khoá định khuân hàng đi. Hai lên tiếng hỏi thì nhóm người lên xe rút lẹ. Hôm sau, Hai báo cáo với thủ trưởng đơn vị và được khen là làm việc tốt. Nhưng vài hôm sau, Hai được cho nghỉ việc vì giảm biên chế mà Hai là nhân viên mới. Hai biết rõ cái lý do, và từ đó hết lý tưởng, sống bằng nghề đạp xích lô. Rồi Hai lập gia đình với một cô bán rau trái ở chợ chúng em bán rau muống nên chúng em quen nhau.
Vợ chồng Hai dành dụm được tí tiền, bèn về thăm người cô út ở vùng Liên Khu Tư cũ ngoài Bắc. Vợ Hai người Rạch Giá lần đầu tiên thăm đất Bắc, không thể ngờ được mức sống của người dân quá cực nhọc như vậy. Cô của Hai mắt loà, sống nhờ vào người con trai duy nhất đã có vợ hai con. Người em họ Hai cũng từng đi bộ dội, chỉ mấy năm thì giải phóng. Trong thời gian anh đi bộ đội thì bố anh chết. Sau khi hoà bình lập lại, anh trở về thì mắt mẹ anh bắt đầu loà. Sự giúp đỡ của Nhà Nước rất hạn chế, anh xin đất canh tác, bình thường thì đủ ăn trong năm, năm nào trúng thì dư chút đỉnh, bù lại những năm thất bát. Cứ như vậy, có năm anh phải thiếu thuế địa phưong và thanh toán khi có vụ khá hơn. Rồi một phần mẹ anh thúc, một phần vì làm ruộng một mình rất khó khăn, anh mới chịu lấy vợ. Hai đứa con ra đời cách nhau một năm, bà nội mắt loà lò mò trông cháu để con và dâu làm ruộng.. Lúc vợ chồng Hai ra thăm, đứa chị ba tuổi, “thường mặc quần”, thằng em lên hai, thường không mặc cả quần. Bà nội chúng cười khì: “Cho nó mát”. Vợ chồng Hai cũng có dịp đi thăm những người họ hàng xa, càng đau lòng hơn. Ðúng cái câu ông bà thường nói khi mô tả cảnh nghèo của dân ta, họ “không có cả cái bát ăn cơm”, phải dùng vỏ dừa làm đĩa, làm bát ăn cơm. Của ít lòng nhiều, vợ chồng Hai giúp mỗi người một chút. Ðó là câu chuyện vài năm sau giải phóng. Nhân dân phải thông cảm với Nhà Nước thôi vì Nhà Nước còn nhiều việc phải làm, như lo trả nợ cho Trung Quốc, Liên Xô… đã viện trợ cho mình giải phóng Miền Nam. Nay đã hơn một phần tư thế kỷ sau khi nước nhà thống nhất, nhiều người tưởng rằng cái bát ăn cơm bằng vỏ dừa đã trở thành truyện cổ tích. Nhưng không phải vậy.
Chiều nay, cả hai tên Một và Hai ghé nhà em với một cái giỏ xách. Tên Hai mở giỏ lấy ra một cái kẹp lồng hai ngăn trong đó đựng ếch xào cà ri, mấy cái bánh tráng, và một lít đế Cái Bè. Hai bảo vợ nó về quê sẵn mùa ếch đang nở rộ, bèn mua một mớ lên xào cho tụi em lai rai. Tên Một mua rượu. Sau khi xúc một chén dành cho vợ em ăn cơm, tụi em ngả chiếu. Lâu rồi mới có dịp cả ba thằng bạn thân ngồi với nhau nên thật là đủ chuyện. Nhưng rốt cuộc cũng trở lại cái đề tài muôn thưở: Nghèo. Hai kể rằng vợ chồng một người bạn của nó mới về thăm họ hàng ngoài Bắc kể cho nó nghe chuyện họ đã được ăn cơm với bát bằng vỏ dừa ở nhà một trong những người họ hàng. Vì mừng rỡ, vì hiếu khách, ai cũng mời cặp vợ chồng này ở lại ăn cơm. Bữa cơm ở một gia đình nọ gồm thịt ba chỉ luộc, mắm tép chua, dưa chua, và lạc rang, tuy đơn giản nhưng rất hấp dẫn, có điều là bát đĩa đều bằng vỏ dừa. Cặp vợ chồng này hiểu ngay là gia chủ đã cố gắng lắm mớì có được bữa cơm “thịnh soạn” như thế này. Nhờ có miếng rượu trắng, người chồng vượt qua được cái mùi tanh tanh của cái bát vỏ dừa vì lâu ngày đủ thứ thức ăn bám vào và rửa không sạch nổi, nhưng người vợ thì không tài nào nuốt được. Và cũng giống như vợ chồng Hai thăm quê trước đây, họ trở về chỉ với bộ quần áo mặc trên mình.
“Ðất nước mình nhiều tài nguyên, Dân mình thông minh, cần cù. Sao cứ nghèo mãi thế nhỉ?” Hai nêu vấn đề. Tụi em ngậm ngùi, cố gắng mổ xẻ, tìm ra cái nguyên nhân tại sao cái chương trình lớn “Xoá Ðói Giảm Nghèo” của Ðảng và Nhà Nước lại tiến hành chậm chạp như vậy, nhưng chốt lại là chỉ vì các nhà lãnh đạo khả kính của ta chưa sáng, hay là không chịu ánh đèn, mà lại hơi tham lam, khá ích kỷ. Tới đây thì vợ em từ bếp mang lên một đĩa mít, không nhiều lắm, chỉ khoảng hơn chục múi, vì vợ em mua vừa đủ cho hai đứa em ăn mà thôi, đâu tính có khách. Tên Một nhìn đĩa mít rồi bỗng nổi máu thi sĩ lên và ngâm hai câu thơ với cái giọng Huế của nó:
Thâng em dư trải mịt… ịt… trên… cây… ây.
Vỏ hẳng xù xì… ì, mủi hẳng… dày…ày…
Tụi em nghe có tiếng vợ em cười khúc khích từ dưới bếp. Bả lẩm bẩm “Rượu vào thơ ra. Thơ bà Thanh Quan với bà Xuân Hương mà ngâm bằng giọng Huế thì bố ai hiểu nổi”. Thế rồi tên Hai có ý kiến rằng tên Một hay thơ thì làm thử bài thơ vịnh trái dừa đi, vì trái dừa hầu như chẳng bỏ phí một tí gì cả, vỏ ngoài làm ấm ủ nước, vỏ trong làm gáo múc nước hay làm bát đĩa ăn cơm, cùi thì kho làm thức ăn…, nước thì khỏi nói, cứ ngọt lịm và mát cái cổ họng. Tên Một nhìn đĩa mít, tủm tỉm cười. Hắn đề nghị nếu hắn làm được bài thơ vịnh trái dừa thì hai đứa em phải nhường đĩa mít cho hắn. Hai đứa em bằng lòng.
Một gật gù ngâm:
Thâng em dư trải dừa… ừa trên cây… ây…
Võ…ọ… em nhẵng thịn… ín…, cùi em dày… ày…
Ai ơi… ơi… có muống, xin cử… ử… chặc.
Nược em trong vặc… ắc…, uổng ngooc… ooc ngay… ay…
Lại có tiếng cười khúc khích từ dưới bếp. Em và tên Hai thấy thua đứt đĩa mít, nhưng bảo Một rằng hắn tả chưa hết công dụng của trái dừa. Một suy nghĩ một lát rồi đề nghị cho hắn làm phần còn lại bằng thơ tự do. Tụi em bằng lòng.
Một hắng giọng tiếp:
Võ ngoài em xanh.
Võ trong em cửng.
Biệc gọoc biệc đẽo.
Võ ngoài làm bình.
Ũ nược nỏng lâu.
Võ trong làm đĩa.
Làm bác ăng cơm.
Tra thêm cải cảng.
Làm gảo mục nưởc.
Mục nưởc lâu ngày
Rêu xanh phũ dày.
Coi cũng hay hay.
Ăng cơm lâu ngày.
Thức ăng bám vào.
Rữa đâu có sạch.
Ngữi mùi tanh tanh.
Ăng cơm với muối.
Tưỡng ăng với cá.
Em và tên Hai chưa kịp hoan hô cái tài thơ phú của thi sĩ Một thì tất cả bỗng giật mình. Vợ em đứng bên cạnh lúc nào không hay. Bả lăm lăm con dao đang băm rau muống nấu cám heo, xỉa xói vào mặt từng đứa chúng em, nói như thét: “Thôi đi các bố. Tại sao các bố có thể tàn nhẫn cười cợt trên sự đau khổ của nhân dân như vậy. Nghèo đâu phải là cái tội, đâu phải là cái xấu. Cái tội, cái xấu là do những kẻ gây ra cái nghèo. Nghe chửa? Những kẻ bóc lột nhân dân. Nghe Chửa? Những kẻ chưa chịu sáng mắt ra mà làm giàu cho đất nước. Nghe Chửa?” Thấy tụi em nín thinh, vợ em bỏ xuống bếp, vừa đi vừa lẩm bẩm “Nhậu ếch rồi bầy đặt làm thơ con cóc”. Tên Một nhìn theo vợ em, bụm miệng cười, rồi hắn lại cất cao cái giọng Huế lên, ngâm to hơn:
Còong trời, còong đậc… ấc.., còong… non nưỡc.
Chặng lẹ…ẽ… dâng ta… a…mại… ãi thể.. ế này… ày…
Lại nghe có tiếng cười khúc khích từ dưới bếp.