Thanh lọc sự sống

Các hang đá Sinh Nhật chưa được gỡ bỏ, thì tại Anh Quốc người ta đã xôn xao tranh luận về việc phá thai có chọn lựa các trẻ chưa sinh bị chẩn đoán mắc các chứng bệnh hiểm nghèo.

Nhật báo Guardian ngày 12 tháng 1 vừa qua cho hay: cuộc tìm tòi của trung tâm nghiên cứu bệnh tự kỷ (autism) tại Đại Học Cambridge đang đem lại khả thể khám phá ra các trẻ thơ chưa sinh mắc chứng tự kỷ. Các nhà nghiên cứu này tìm thấy mối liên kết giữa mức độ cao về testosterone trong nước ối (amniotic fluid) của phụ nữ mang thai với các đặc điểm tự kỷ nơi 235 trẻ em được họ nghiên cứu.

Nhân dịp này, Giáo Sư Simon Baron-Cohen, Giám Đốc nhóm nghiên cứu, đặt câu hỏi với Báo Guardian: “Nếu có việc thử nghiệm tiền sinh để tìm ra bệnh tự kỷ, thì liệu việc ấy có nên làm hay không? Ta sẽ mất gì nếu các trẻ em mắc xáo trộn tự kỷ bị loại khỏi dân số?”.

Theo tờ báo này, các thử nghiệm về bệnh tự kỷ trước khi sinh đưa lại nhiều hiệu quả tích cực. Theo Hội Tự Kỷ Quốc Gia, chúng giúp các bậc cha mẹ biết cách chuẩn bị và tìm được trợ giúp cho đứa con của họ.

Kèm theo bản tin trên, tờ Guardian có cho đăng tải lời chứng của Charlotte Moore, người hiện nuôi dạy hai con trai mắc chứng tự kỷ là George and Sam. Bà Moore nhìn nhận gánh nặng do việc nuôi dạy trẻ tự kỷ đem tới cho các bậc cha mẹ, và bà sợ rằng nhiều bà mẹ sẽ trục thai những đứa trẻ như thế nếu biết đứa con của mình bị các thử nghiệm này xác nhận mang bệnh, một điều hiện đang xẩy ra cho các trẻ có hội chứng Down.

Tuy nhiên, bản thân bà không bao giờ nghĩ đến việc trục thai đứa con mắc chứng tự kỷ. Bà cho rằng: “Cuộc sống gia đình của chúng tôi vẫn phong phú và có ý nghĩa như bất cứ cuộc sống gia đình nào khác; cuộc đời các con trai tôi dĩ nhiên có điều thảm hại, và cả cuộc đời của chính tôi cũng thế. Nhưng một xã hội đặt thành mục tiêu phải loại bỏ mọi biến tố có thể làm cho cuộc đời trở thành phức tạp một cách ly kỳ là một xã hội tôi không muốn sống trong đó”.

Thoát khỏi bệnh ung thư

Các tin tức liên quan đến bệnh tự kỷ trên đây đã xuất hiện liền ngay sau việc công bố tại Anh về sự ra đời của đứa trẻ đầu tiên được lựa chọn về phương diện di truyền để sinh ra mà hoàn toàn thoát khỏi các “gene” (gien) có liên quan tới bệnh ung thư vú. Theo tường trình ngày 10 tháng 1 vừa qua của nhật báo Scotsman, một cặp vợ chồng được điều trị bệnh hiếm muộn tại Đại Học Luân Đôn và bào thai của họ kinh qua diễn trình chẩn đoán di truyền tiền cấy ghép (pre-implantation genetic diagnosis) để bảo đảm bào thai này không mang gien BRCA1. Phụ nữ mang loại gien này có nguy cơ phát triển ung thư vú tới 80% xác suất.

Tờ Scotsman cũng tường trình các cảm nghĩ của Michaela Aston, hiện đang phục vụ tại cơ sở bác ái Sự Sống. Bà này cho hay: “Cơ sở Sự Sống vui mừng đối với mọi sự sống mới, nên xin chào mừng em nhỏ mới chào đời này. Tuy nhiên, chúng tôi hết sức quan tâm đối với việc vứt bỏ các bào thai bị coi là không đáng sống. Ta cần nhớ rằng ta không phải chỉ là một mớ gien mà thôi”.

Tin tức trên cũng lôi cuốn sự chú ý của William Saletan, người hiện viết cho tờ báo điện tử Slate. Trong lời bình luận ngày 14 tháng 1 vừa qua, Saletan cho thấy sự không trung thực về ngôn từ trong thông cáo báo chí của Trường Đại Học Luân Đôn. Theo Saletan, các cuộc thử nghiệm này đã được thực hiện lúc em bé còn đang ở trạng thái phôi thai, và em bé vừa được hạ sinh là một trong 11 phôi thai được thử nghiệm, trong đó, 9 phôi thai bị vứt bỏ, 2 phôi thai được cấy ghép, mang lại kết quả là em bé đang nhắc tới.

Chơi chữ

Saletan cho rằng: “Bây giờ ta gọi các cuộc thử nghiệm ấy là ‘tiền thụ thai’ (pre-conception). Điều ấy chỉ có nghĩa là ta đã hạ giá từ từ chính các phôi thai. Người ta gọi các phôi thai ở thời kỳ đầu là ‘tiền phôi thai’ (pre-embryos) để việc sử dụng chúng trong các thí nghiệm khoa học dễ được chấp nhận hơn, và thế là ta thay đổi luôn cả ý nghĩa của hạn từ thụ thai. (Họ bảo) Đừng lo lắng về sáu cái trứng chúng tôi cho thụ tinh, sau đó vứt bỏ, xả nước cho mất đi để lựa được em bé này. Những cái trứng kia có bao giờ được thụ thai thực sự đâu. Mà thực ra chúng đâu có phải là các phôi thai!”.

Sau đó, Saletan nhấn mạnh rằng nếu em bé được thụ thai cách tự nhiên, em có 50% xác suất mang gien xấu. Và nếu em nhận được gien xấu, em có xác suất từ 50 tới 85% mắc bệnh ung thư vú. Nhưng ngay trong trường hợp ấy, bệnh này vẫn có thể được khám phá và chữa chạy. Saletan cho hay: việc thử nghiệm loại này đang trên đường phát triển nhanh. Chỉ mấy ngày sau đó, tức ngày 18 tháng 1, Tô Cách Lan thông báo rằng hàng trăm cặp vợ chồng Tô Cách Lan sẽ được thử nghiệm để bảo đảm có được những đứa con mong ước, không mắc các chứng bệnh di truyền.

Một sở thử nghiệm của Tô Cách Lan sẽ được Trung Tâm Y Khoa Sinh Nở của Glasgow phát động vào cuối năm nay. Các phôi thai sẽ được thử nghiệm để khám phá ra một trong 200 gien thuộc loại di truyền các bệnh hiểm nghèo như ung thư và xơ hóa nang (cystic fibrosis). Trung tâm này sẽ chỉ cấy các phôi thai nào có bảo đảm không mắc các bệnh di truyền đặc thù, với thù lao chữa trị lên đến 5,500 bảng Anh. Hiện nay, dịch vụ này mới chỉ có ở Anh, chứ chưa có ở phía bắc của biên giới.

Một phát ngôn viên ẩn danh của Giáo Hội Công Giáo Tô Cách Lan cho tờ báo hay: “Đó không phải là việc điều trị một chứng bệnh nào hết, mà chỉ là phương cách hủy diệt những ai bị mắc nạn vào thời kỳ đầu hết của sự sống. Điều ấy hoàn toàn vô đạo đức và không nên được ủng hộ”.

Đường dốc trượt

Một bài báo khác đề cập tới các cuộc thử nghiệm trên trẻ chưa sinh khiến người ta sợ rằng việc hủy diệt các mạng sống chưa sinh mỗi ngày một trầm trọng hơn. Ngày 25 tháng 1, tờ Sunday Times tường trình rằng các cuộc thử nghiệm để xác định phụ quyền đang được tiến hành trên các trẻ chưa sinh tại một số phòng thí nghiệm DNA.

Bài báo trên cho hay những cuộc thử nghiệm như thế giúp các bà mẹ trục thai đứa con của mình nếu họ chắc mẩm đứa con đó là kết quả của một cuộc tình vụng trộm bên ngoài hôn nhân.

Theo bài báo trên, cơ sở “Giải Pháp DNA” (DNA Solutions), một cơ sở cung cấp các cuộc thử nghiệm di truyền lớn nhất ở Vương Quốc Hiệp Nhất Anh, hiện đang thực hiện tới 500 cuộc thử nghiệm phụ quyền một năm. Tờ Sunday Times cũng cho hay: chính công ty này nhìn nhận rằng một số phụ nữ sử dụng các cuộc thử nghiệm của họ sau đó sẽ trục thai đứa con của họ nếu họ thấy nó có người cha ‘sai lầm’.

Josephine Quintavalle, sáng lập viên cơ sở “Bình Luận về Đạo Đức Học Sinh Nở”, phát biểu rằng: “Điều này quả đáng lo ngại hết sức. Hiển nhiên là những người chịu thử nghiệm như thế sẽ sẵn sàng phá thai. Những người cung cấp cuộc thử nghiệm loại này quả đang khuyến khích ‘các giải pháp’ thuộc loại này”.

Các phụ nữ đang chịu thử nghiệm để khám phá ra các vấn đề di truyền hay phụ quyền nên suy nghĩ lời chứng của Victoria Lambert, người đã viết một bài trên nhật báo Daily Mail vào ngày 3 tháng 1 vừa qua, mô tả lại kinh nghiệm trục thai đứa con tàn tật của mình.

Đứa con của bà mắc hội chứng Patau, cũng được gọi là trisomy 13 (3 nhiễm sắc thể, giống bệnh Down là loại trisomy 21), và mặc dù phần đông các trẻ mang hội chứng này đều chết lúc mới sinh hay sau đó ít lâu, nhưng một vài em vẫn có thể sống sót đến đầu đời trưởng thành. Trục thai con mình là một kinh nghiệm để lại trong bà nhiều vết thương thật sâu. Bà viết: “Nói một cách đơn giản, quyết định của tôi và các hậu quả của quyết định này tiếp tục hành hạ tôi suốt chín năm qua”.

Sau đó, Lambert mô tả tiếp về những lần sẩy thai mấy năm sau đó, lúc bà đã gần 40 tuổi. Khi người ta đề nghị soi cắt lớp (scan) cho bà, bà đã từ chối. Theo bà, “Dần dần tôi hiểu rõ: một khi đã quyết định không để người ta làm những cuộc thử nghiệm để khám phá ra bệnh Down hay bất cứ điều gì khác, tôi hết còn lo lắng về việc đứa con mình sẽ ra sao nữa. Đàng nào nó cũng là con của mình, miễn là nó sinh ra mà còn sống là được, mọi điều khác đều có thể lo liệu được”.

Bà Lambert nhận định rằng: dù các cuộc thử nghiệm tiền sinh đang làm các khoa học gia hứng khởi, nhưng chúng rất nguy hiểm, vì các thử nghiệm ấy càng dễ và càng đơn giản bao nhiêu, thì các quyết định về sống và chết càng dễ dàng bấy nhiêu, và dĩ nhiên càng làm cho người ta hối tiếc bấy nhiêu.

Ở đây, tưởng cũng nên nhắc lại điều Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo (số 2268) giảng dạy: “Quan tâm về giống tốt (eugenics) hay về y tế công cộng không thể biện minh được việc giết người”. Oái oăm thay, trong khi công luận đang càng ngày càng chống lại án tử hình dành cho các phạm nhân có tội, thì người ta lại cho phép ‘kết án tử’ các trẻ thơ vô tội chưa sinh ra đời.

Theo Cha John Flynn LC (Zenit ngày 1 tháng 2 năm 2009)