Chứng Nhân Tận Mắt Công Đồng Vatican II
13. Các Thành Viên Ủy Ban Ngẩng Ðầu Cao Rời Nhà Thờ Thánh Phêrô
Thứ Hai, ngày 16 tháng 11 năm 1964, một thoáng sôi động xẩy ra tại Công đồng khi vị tổng thư ký đứng lên tuyên bố một số điều liên quan đến vấn đề gay cấn nhất của Công đồng, tức chương 3 trong đề án về Giáo hội, một chương nói đến quyền tối thượng và tính tập đoàn.
Ít ra cũng đã có những cố gắng vô vọng nhằm loại bỏ chương này. Một phản đối đã được đệ nạp chống lại việc vi phạm thủ tục và đã có lời kêu gọi đức Phaolô VI phải can thiệp vào nội dung tín lý.
Vì có việc phản đối về thủ tục như trên, nên đã có những “ghi chú giải thích” được đưa ra nhằm ấn định nên giải thích một số thuật ngữ ra sao. Những nhấn mạnh tỉ mỉ về quyền tối thượng như thế khiến nhiều vị trong cánh cấp tiến lẩm bẩm.
Tiếp theo đó là danh sách 19 điểm tu chính đề án về Ðại Kết được “thẩm quyền trên” gửi xuống. Thẩm quyền trên là thẩm quyền nào? Chỉ có thể là đức Giáo hoàng.
Sau đó là lời công bố của chính đức Thánh Cha trong một buổi triều yết chung. Ngài cho hay ngài có ý định chính thức công bố tước hiệu mới của Ðức Mẹ, tước hiệu “Mẹ Giáo hội”, một tước hiệu mà Công đồng đã không chấp thuận.
Những can thiệp trên của đức Thánh Cha hiển nhiên làm bối rối khá nhiều thành viên của Công đồng. Xem ra có vẻ như đức Giáo hoàng muốn kéo các thành viên từng cảm thấy thất bại đối với các thái độ và xác tín cổ truyền xưa, vào chính giòng của Công Ðồng.
Tất cả những điều ấy tuy thế vẫn chẳng nhằm nhò gì so với cơn bùng nổ sau đó. Thứ Tư của tuần lễ cuối cùng, có công bố cho hay sẽ có cuộc bỏ phiếu giải thích (explanatory vote) đối với bản văn đã được sửa đổi về Tuyên Ngôn Tự Do Tôn Giáo. Sáng hôm sau, khi đang tranh luận về Giáo dục Công giáo, có công bố cho hay vị đứng đầu chủ tịch đoàn của Công Ðồng là đức Hồng y Tisserant muốn việc bỏ phiếu trên được hoãn lại. Ngài cho hay các vị chủ tịch muốn hoãn việc bỏ phiếu trên đến khóa thứ bốn.
Ðức Hồng y Meyer của Chicago, một trong các vị chủ tịch, bèn phản pháo như một trái bom. Ngài vụt ra khỏi chỗ ngồi như một ánh chớp, cực lực phản đối lời công bố trên. Các nghị phụ khác, nhất là các nghị phụ Mỹ, cùng ùa ra khỏi chỗ ngồi và tập trung tại các khoảng trống chung quanh bàn thờ chính. Trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn, một bản kiến nghị được luân chuyển để thu chữ ký. Bản kiến nghị này yêu cầu đức Thánh Cha bác bỏ quyết định của chủ tịch đoàn. Ba hồng y – Meyer, Ritter của St Louis, và Léger của Montréal - nhận bản kiến nghị để đệ lên đức Giáo hoàng Phaolô, nhưng đức Thánh Cha đã không đồng ý bãi bỏ quyết định đó.
Các thỉnh nguyện viên cảm thấy việc trì hoãn bỏ phiếu trên sẽ đem lại hậu quả thảm hại đối với công luận. Các giám mục Mỹ đặc biệt nhậy cảm đối với vấn đề này. Các ngài cảm thấy việc cổ vũ tự do tôn giáo là đóng góp lớn lao của các ngài đối với Công Ðồng và các ngài muốn mọi người thấy mình có thể gặt hái được thành quả và các viên chức trong giáo triều không được phép qua mặt 2000 giám mục khác, trong đó có 200 giám mục Mỹ.
Giữa những xúc dộng lớn lao ấy, Công đồng cố gắng thảo luận về Giáo dục Công giáo và việc cải cách một số luật lệ về hôn phối, đặc biệt trong vấn đề hôn nhân hỗn hợp.
Ðề án về Giáo dục Công giáo cũng là trách nhiệm của ủy ban phụ trách về huấn luyện chủng viện, một ủy ban tôi là thành viên. Buồn thay, đề án không gặp thời khắc thuận lợi trong Công đồng.
Khởi đầu gọi là đề án về các Trường và Ðại học Công giáo, sau mới mở rộng thành đề án về Giáo dục Công giáo vì có lời yêu cầu cho rằng chỉ có 20% trẻ em và thiếu niên Công giáo học tại các trường và đại học Công giáo mà thôi.
Việc thay đổi tựa đề và chú điểm trên có nghĩa là phải duyệt lại bản văn gần như toàn bộ. Rồi nhiều mệnh đề bị cắt bỏ và dù sau đó nhiều mệnh đề được viết lại dài hơn, đề án trên vẫn chỉ là một đề án gầy guộc để rồi cuối cùng trở thành một tuyên ngôn, không phải hiến chế hay sắc lệnh. Rõ ràng chủ đề này đã không được chú ý thích đáng.
Cùng với những hoạt động khác của tuần lễ cuối, nhiều đề án được đem ra đầu phiếu hoặc toàn bộ hoặc từng phần. Chúng tôi kết thúc các đề án về Giáo hội, về Giáo hội Ðông phương và Ðại kết.
Khóa ba của Công đồng kết thúc sớm hơn dự liệu để một số nghị phụ đủ thì giờ tham dự Ðại hội Thánh Thể tại Bombay (nay là Mumbai). Tôi là một trong số đó và nhân cơ hội này đi viếng Thánh Ðịa trên đường tới Bombay luôn.
Núi Tabor và Biển Galilêa thanh bình xiết bao so với tuần lễ cuối cùng của Công Ðồng.
14. Phiếu Công Ðồng giúp Ðức Giáo Hoàng được đón tiếp nồng hậu tại LHQ
14 tháng 9 năm 1965 là ngày khai mạc khóa bốn Công đồng Vatican II. Buổi chiều hôm trước, đáp lời đề nghị của đức Thánh Cha, các giám mục tham dự một cuộc đi bộ thống hối giữa hai Vương cung Thánh đường của Rôma; Vương cung Thánh Ðường Thánh giá Giêrusalem và Vương cung Thánh đuường Thánh Gioan Lateran, nhà thờ chính tòa của Rôma. Cuộc đi bộ không quá khó khăn, nhưng đứng từ đầu đến cuối quả là mệt mỏi.
Tuy thế, cuộc đi bộ ấy không làm giảm lòng hăng say của những vị can dự vào việc thảo luận vòng hai vấn đề tự do tôn giáo.
Trước khi cuộc thảo luận trên bắt đầu, đức Giáo hoàng Phaolô Ðệ Lục công bố với Công đồng rằng ngài sắp sửa thiết lập ra một cơ chế mệnh danh Thượng Hội Ðồng Giám Mục, để cố vấn cho ngài; do đó, nói cho đúng, không phải là một cơ chế tập đoàn. Thượng hội đồng trên sẽ họp những phiên thường và ngoại lệ. Các phiên thường lệ cứ ba năm họp một lần, gồm đại diện các hội đồng giám mục thế giới.
Về vấn đề tự do tôn giáo, cánh cấp tiến tại Công đồng, với sự đại diện mạnh của Mỹ, không thể thấy được tại sao Giáo hội Công giáo có thể bước vào bất cứ cuộc đối thoại nào với thế giới hiện đại mà lại không tuyên bố là mình chấp nhận lương tâm và tự do thờ phượng. Không nền văn hóa nào, không thẩm quyền nhà nước nào có thể đặt để một tín ngưỡng lên con người ta. Họ phải được tự do chấp nhận tín ngưỡng ấy.
Các vị bảo thủ, từng ngụp lặn trong truyền thống của Giáo hội Công giáo vốn can dự sâu sắc vào nền văn hóa của dân chúng, không thể thấy tại sao vị thế đặc biệt của Giáo hội lại không được nhìn nhận. Dù thế nào, Giáo hội Công giáo cũng là Giáo hội của Chúa. Nó chính là ý muốn của Chúa. Làm sao có thể đặt các Giáo hội khác hay tôn giáo khác trên cùng một căn bản cho được?
Gần như mọi điều cần nói về chủ đề này đã được nói hết vào năm trước trong cuộc tranh luận sơ khởi về tự do tôn giáo, nhưng cánh cấp tiến có ưu điểm về nhân cách nơi các vị trước đây từng chịu đau khổ do các hạn chế khắt khe của nhà nước trong lãnh vực thực hành và cổ võ đức tin, đó là đức Hồng Y Slipyi của Ukraine, đức Hồng y Beran của Tiệp khắc và đức Hồng y Wyszynski của Ba-lan.
Ðức Hồng y Beran nói rằng ngài cảm thấy đất nước ngài đang tẩy rửa những bạo tàn nó đã phạm trong quá khứ nhân danh đức tin Công giáo, như vụ thiêu sống Jan Hus thế kỷ 15 và việc cưỡng bức người ta trở lại đạo trong thế kỷ 17.
Kết quả 1997 phiếu thuận, 224 phiếu chống đề án. Vấn đề còn lại chỉ là xử lý các đề nghị tu chính và nghi thức bỏ phiếu có lệ để phổ biến mà thôi.
Cuộc tranh luận ấy diễn tiến trong khi đức Thánh Cha lên đường bay qua New York để đọc diễn văn trước Liên Hiệp Quốc. Với tự do tôn giáo trong tay, ngài chắc chắn được chào đón nồng nhiệt và được nhiều người lắng nghe hơn là nếu quan điểm bảo thủ thắng thế.
Mục kế tiếp của nghị trình là tranh luận vòng hai về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay. Cuộc tranh luận này được tổ chức thành 7 giai đoạn: có nên chấp nhận đề án không, dẫn nhập vào đề án (một khảo sát về mối tương quan giữa Giáo hội và thế giới), tiếp sau là 5 vấn đề chuyên biệt: hôn nhân, văn hóa, kinh tế, chính trị và hòa bình.
Khi bàn về việc có nên chấp nhận đề án hay không, các chỉ trích không phải là không có. Nhiều nghị phụ cho rằng đề án không nhấn mạnh đủ đến sự ác trong thế gian. Nhiều vị khác nghĩ rằng đề án đã lẫn lộn giữa sự phát triển Kitô giáo và sự phát triển nhân bản. Một nghị phụ rất bảo thủ là đức Tổng giám mục Sigaud của Brazil nói rằng ngài sợ đề án này mở cửa cho mọi thứ sai lầm triết học, mà cao điểm là chủ nghĩa Mác-xít.
Tuy nhiên, có đủ nghị phụ bênh vực đề án, cho phép nó được chấp nhận với 2111 phiếu thuận, 44 phiếu chống.
Diễn giả đầu tiên phát biểu về phần dẫn nhập là đức Hồng y Cardijn, vị sáng lập ra Phong trào Thanh Lao Công. Ngài đãi Công đồng những lời trình bầy lên tinh thần và hết sức hùng biện. Ngài muốn Công đồng chú ý đặc biệt đến ba vấn đề: tuổi trẻ, công nhân và “thế giới thứ ba”, nghĩa là các quốc gia nghèo đói kinh niên của Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh.
Các đại diện các Giáo hội Ðông phương tỏ ra thất vọng khi thấy đề án không nhấn mạnh đủ đến tác động của việc Chúa Giêsu Phục sinh đối với khung cảnh nhân bản. Các nghị phụ khác chú ý tới chủ đề vô thần và đề nghị phải dành cho nó một xử lý cẩn trọng. Cũng có ý kiến cho rằng Thánh kinh và sự tạo dựng đã không được nhấn mạnh đủ.
Cha Pedro Arrupe, vừa được bầu làm bề trên cả Dòng Tên, nhận thấy Giáo hội yếu kém về thông đạt đối với thế giới ngày nay, vì ngôn từ của mình quá xa cách và trừu tượng.
Dù có những chỉ trích như thế, vẫn có đủ những phát biểu ủng hộ cho thấy đề án này thực hiện nhiều bước tiến khả quan.
Khi phần dẫn nhập đã được bàn một cách thỏa đáng, bước kế tiếp là đi vào năm vấn đề chuyên biệt, bắt đầu bằng hôn nhân.
15. Tái Bút gửi Một Thần học gia: Cha quả hết sức đúng
Hôn nhân, văn hóa, kinh tế, chính trị và hòa bình – đây là những vấn đề được biết đến như là năm vấn đề đặc biệt tại Vatican II.
Về chủ đề hôn nhân, chia rẽ ý kiến chính, một đàng, giữa những vị muốn duy trì và khẳng định thái độ cố hữu trong Giáo hội muốn đặt lên hàng đầu việc sinh sản và giáo dục con cái, và đặt xuống hàng dưới việc nâng đỡ nhau và thỏa mãn tính dục. Ðàng khác, quan điểm gần đây hơn, được đức Hồng y Léger của Montréal trình bầy, lại coi hôn nhân là một cộng đồng sự sống và tình yêu, một cộng đồng tìm được tròn đầy trong sinh sản và giáo dục con cái.
Khi lắng nghe các vị ủng hộ quan điểm thứ hai, tôi nhớ lại khoảng một phần tư thế kỷ trước đây, lúc tôi theo một giảng khóa đặc biệt về hôn nhân tại đại học Gregoriana, do một thần học gia ưu tú là Cha Hurth, Dòng Tên, phụ trách, trong đó, ngài nhắc đến tên một tác giả Ðức, cha Doms, người bắt đầu đưa ra một quan điểm nhân bản hơn về “cộng đồng sự sống và tình yêu”. Ðiều Doms đề nghị lúc đó không được Rôma ủng hộ. Bây giờ, khi phải đặt bút ký vào bản văn sau cùng về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay, tôi cảm thấy muốn thêm lời tái bút sau đây: “Doms, cha quả hết sức đúng”. Quả có nhiều dịp những tái bút như thế liên quan tới các nhà thần học khác không phải là không thích hợp.
Sau hôn nhân là văn hóa, một đề tài vĩ đại có thể cung cấp chương trình thảo luận cho cả một công đồng chuyên biệt. Tuy nhiên, tại Vatican II, nó lại không kích thích người ta tranh luận nhiều lắm, có thể vì Giáo hội đã nằm ngoài lãnh vực đồng cảm với hầu hết các phát triển văn hóa trong các thế kỷ trước đây chăng.
Các giám mục Pháp rất nổi bật trong cuộc tranh luận này, chủ yếu bàn đến vấn đề phải gây ảnh hưởng trên nền văn hóa khoa học của thời nay. Ðức giám mục người Ðức, Spullbeck, của địa phận Meissen cảnh cáo rằng không dễ nói chuyện với đầu óc khoa học bởi khoa học lệ thuộc kinh nghiệm và tính toán, và rất ít thiên về đức tin và triết học. Một giám mục khác của Ðức đề cập một cách ý nhị đến vai trò không thể thiếu được của phụ nữ, bất luận có gia đình hay độc thân, giáo dân hay tu sĩ, trong việc phát triển văn hóa.
Vào khoảng thời gian này, vị Tổng thư ký của Công đồng loan báo rằng cuộc tranh luận về các đề án phải kết thúc vào ngày 17 tháng 10 năm 1965 vì sau đó cần rất nhiều thời gian để tu chính và đầu phiếu để các đề án ấy có hình thức chung cuộc.
Cuộc tranh luận về kinh tế tiếp theo cuộc tranh luận về văn hóa cũng là một cuộc tranh luận không được thoả mãn lắm, phản ảnh sự kiện này là ít có giám mục nào tại Công đồng quen thuộc đủ với chủ đề kinh tế. Nhiều điểm đúng đắn đã được nói đến liên quan tới tài nguyên, tư bản, lao động, hợp tác kinh tế, sự nghèo đói của đa phần thế giới, và sự chênh lệch càng ngày càng lớn giữa người giầu và người nghèo.
Cha Mahon, bề trên cả của dòng Mill Hill, nhấn mạnh rằng trong 12 tháng giữa cuộc tranh luận thứ nhất và thứ hai về đề án 13 (Giáo hội trong Thế giới Ngày nay), 35 triệu người đã chết vì đói.
Ðức Hồng y Cardijn lên tiếng lần nữa với văn phong mạnh mẽ và hùng hồn cố hữu về đề tài quen thuộc của mình là: Công nhân, tuổi trẻ và “Thế giới Thứ ba” của những người kém may mắn tại Châu Á, Châu Phi và Châu Nam Mỹ.
Về chủ đề chính trị, chỉ có bốn diễn giả, mà tôi là một. Căn cứ vào điểm đề án kêu gọi tinh thần như đức Kitô trong thái độ của Giáo hội đối với chính quyền, tôi nhấn mạnh rằng đôi khi thái độ giống đức Kitô này bao gồm việc phải kiên quyết đối với sự tự do của chính Giáo hội cũng như quyền lợi của những con người chịu hậu quả tai hại do các hành động cũng như quên sót của chính quyền gây ra.
Sự mệt mỏi trong các buổi tranh luận về văn hóa, kinh tế và chính trị mau chóng bị đẩy lui khi cuộc tranh luận quay qua vấn đề hòa bình và chiến tranh.
16. Công đồng tìm đường dẫn đến hòa bình
Phần trong đề án về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay bàn đến chiến tranh và hòa bình đã đưa ra toàn bộ một bức tranh phức tạp hết sức có chất lượng.
Theo bản văn trên, hòa bình là một giá trị tích cực cần phải thực hiện cho bằng được. Nó đòi hỏi những tâm trí cở mở và sự hợp tác liên quốc về mọi lãnh vực, đặc biệt là lãnh vực kinh tế. Các nước đang mở mang cần được giúp đỡ và khuyến khích. Việc bùng nổ dân số cần được đương đầu và giải quyết bằng một sự phát triển kinh tế đầy nhiệt tâm.
Chiến tranh là nỗi kinh hoàng tột cùng. Chiến tranh toàn diện (hạch nhân, sinh học, hóa học và qui ước) là hoàn toàn vô luân. Tuy thế, vũ lực có thể được sử dụng để chống lại kẻ xâm lăng. Sự cân bằng thế gián chỉ (như giữa các nước có vũ khí hạch nhân) là điều đáng sợ, tuy vậy xét theo một vài phương diện nào đó nó có giúp duy trì hoà bình. Mối hy vọng duy nhất là thuyết phục các quốc gia đặt chiến tranh ra ngoài vòng pháp luật và thiết lập ra một thẩm quyền thế giới để buộc các nuớc không được gây chiến. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi, các quốc gia có thể sở hữu vũ khí hạch nhân để răn đe các nước khác.
Xét theo lương tâm, không ai buộc phải vâng theo điều trái với thiên luật. Bởi thế, theo Công đồng, phải đưa ra các dự liệu cho phép người ta phản đối trong lương tâm.
Ðức Hồng y Alfrink của Hòa Lan yêu cầu phải có một văn bản mạnh mẽ hơn liên quan đến thế quân bằng gián chỉ, giải giới và phản đối lương tâm. Ðức Hồng y Owen McCann của Cape Town lên tiếng mạnh mẽ về ý niệm một tổ chức tập trung về công bình xã hội để loại bỏ nguyên nhân gây ra chiến tranh.
Hàng giáo phẩm Pháp nối đuôi nhau tham gia cuộc tranh luận: ba hồng y, hai tổng giám mục và hai giám mục đã làm thành một nhóm diễn giả đáng nể trong tổng số hai mươi lăm vị tất cả. Nếu nguyên cảm quan hùng biện, tức giận và cuồng nhiệt có thể xua đuổi được chiến tranh ra khỏi mặt đất, thì chắc chắn bẩy vị giáo phẩm của Pháp đã đủ để hoàn thành việc đó.
Các ngài để sang một bên việc phân biệt giữa các cuộc chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa, chiến tranh nhỏ và chiến tranh lớn, người gây chiến và kẻ vô tội. Các ngài kêu gọi phải thẳng thừng kết án chiến tranh, đặt ra ngoài vòng pháp luật vũ khí hạch nhân, giáo dục dư luận quần chúng, kêu gọi lương tâm các chính khách, quyền được phản đối lương tâm, và nhìn nhận sức mạnh của bất bạo động.
Vị diễn giả Pháp mạnh mẽ nhất chính là đức cha giáo phận Verdun, nơi 1 triệu 3 binh lính Pháp và Ðức chết trong Thế chiến I.
Dù vậy, không ai có thể nói điều các nhà chủ hòa Kitô giáo muốn các giám mục phải nói: đó là một bên phải giải giới dù bên kia không chịu giải giới, và sẵn sàng chấp nhận hậu quả.
Vấn đề hệ trọng là: trong thời đại nguyên tử, lương tâm Kitô giáo có đòi hỏi phải đơn phương giải giới hay không? Có khoảng 20 phụ nữ cầu nguyện và ăn chay tại Rôma để Công đồng chịu nói là phải đơn phương giải giới như thế. Nhưng Công đồng đã không đi xa đến thế.
Trong khi trận chiến về hoà bình đang diễn ra trên đầu chúng tôi, thì một cuộc phục kích nhỏ xẩy ra cho vấn đề dân số.
Một vị giám mục chủ trương rằng việc gia tăng dân số là một vấn đề hệ trọng đến nỗi việc ngừa thai bằng bất cứ phương tiện nào hiện có phải được bênh vực. Một thành viên khác của Công đồng kêu gọi cho phép tự do di dân không hạn chế để dân số có thể di chuyển đến nơi có thực phẩm.
Ðức Hồng y Ottaviani lên tiếng mạnh mẽ lên án chiến tranh và kêu gọi phải dùng mọi phương tiện có thể có để loại trừ nó. Một vài gợi ý của ngài không thực tế lắm, nhưng lòng thành thực của ngài thì hết sức hiển nhiên và vì tài hùng biện của ngài, nên cử tọa đã vỗ tay tán thưởng rất nhiều. Hy vọng điều này được duy trì như một kỷ niệm đẹp để cân bằng hóa khá nhiều kỷ niệm khác về những trận khẩu chiến mà ngài đã đánh và đã thua tại Công đồng.
Như thế là kết thúc cuộc tranh luận về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay, một trong bốn chủ đề chính của Công đồng – ba chủ đề kia là Giáo hội, Phụng vụ và Lời Thiên Chúa (Mạc Khải).
(Còn 1 kỳ)
13. Các Thành Viên Ủy Ban Ngẩng Ðầu Cao Rời Nhà Thờ Thánh Phêrô
Thứ Hai, ngày 16 tháng 11 năm 1964, một thoáng sôi động xẩy ra tại Công đồng khi vị tổng thư ký đứng lên tuyên bố một số điều liên quan đến vấn đề gay cấn nhất của Công đồng, tức chương 3 trong đề án về Giáo hội, một chương nói đến quyền tối thượng và tính tập đoàn.
Ít ra cũng đã có những cố gắng vô vọng nhằm loại bỏ chương này. Một phản đối đã được đệ nạp chống lại việc vi phạm thủ tục và đã có lời kêu gọi đức Phaolô VI phải can thiệp vào nội dung tín lý.
Vì có việc phản đối về thủ tục như trên, nên đã có những “ghi chú giải thích” được đưa ra nhằm ấn định nên giải thích một số thuật ngữ ra sao. Những nhấn mạnh tỉ mỉ về quyền tối thượng như thế khiến nhiều vị trong cánh cấp tiến lẩm bẩm.
Tiếp theo đó là danh sách 19 điểm tu chính đề án về Ðại Kết được “thẩm quyền trên” gửi xuống. Thẩm quyền trên là thẩm quyền nào? Chỉ có thể là đức Giáo hoàng.
Sau đó là lời công bố của chính đức Thánh Cha trong một buổi triều yết chung. Ngài cho hay ngài có ý định chính thức công bố tước hiệu mới của Ðức Mẹ, tước hiệu “Mẹ Giáo hội”, một tước hiệu mà Công đồng đã không chấp thuận.
Những can thiệp trên của đức Thánh Cha hiển nhiên làm bối rối khá nhiều thành viên của Công đồng. Xem ra có vẻ như đức Giáo hoàng muốn kéo các thành viên từng cảm thấy thất bại đối với các thái độ và xác tín cổ truyền xưa, vào chính giòng của Công Ðồng.
Tất cả những điều ấy tuy thế vẫn chẳng nhằm nhò gì so với cơn bùng nổ sau đó. Thứ Tư của tuần lễ cuối cùng, có công bố cho hay sẽ có cuộc bỏ phiếu giải thích (explanatory vote) đối với bản văn đã được sửa đổi về Tuyên Ngôn Tự Do Tôn Giáo. Sáng hôm sau, khi đang tranh luận về Giáo dục Công giáo, có công bố cho hay vị đứng đầu chủ tịch đoàn của Công Ðồng là đức Hồng y Tisserant muốn việc bỏ phiếu trên được hoãn lại. Ngài cho hay các vị chủ tịch muốn hoãn việc bỏ phiếu trên đến khóa thứ bốn.
Ðức Hồng y Meyer của Chicago, một trong các vị chủ tịch, bèn phản pháo như một trái bom. Ngài vụt ra khỏi chỗ ngồi như một ánh chớp, cực lực phản đối lời công bố trên. Các nghị phụ khác, nhất là các nghị phụ Mỹ, cùng ùa ra khỏi chỗ ngồi và tập trung tại các khoảng trống chung quanh bàn thờ chính. Trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn, một bản kiến nghị được luân chuyển để thu chữ ký. Bản kiến nghị này yêu cầu đức Thánh Cha bác bỏ quyết định của chủ tịch đoàn. Ba hồng y – Meyer, Ritter của St Louis, và Léger của Montréal - nhận bản kiến nghị để đệ lên đức Giáo hoàng Phaolô, nhưng đức Thánh Cha đã không đồng ý bãi bỏ quyết định đó.
Các thỉnh nguyện viên cảm thấy việc trì hoãn bỏ phiếu trên sẽ đem lại hậu quả thảm hại đối với công luận. Các giám mục Mỹ đặc biệt nhậy cảm đối với vấn đề này. Các ngài cảm thấy việc cổ vũ tự do tôn giáo là đóng góp lớn lao của các ngài đối với Công Ðồng và các ngài muốn mọi người thấy mình có thể gặt hái được thành quả và các viên chức trong giáo triều không được phép qua mặt 2000 giám mục khác, trong đó có 200 giám mục Mỹ.
Giữa những xúc dộng lớn lao ấy, Công đồng cố gắng thảo luận về Giáo dục Công giáo và việc cải cách một số luật lệ về hôn phối, đặc biệt trong vấn đề hôn nhân hỗn hợp.
Ðề án về Giáo dục Công giáo cũng là trách nhiệm của ủy ban phụ trách về huấn luyện chủng viện, một ủy ban tôi là thành viên. Buồn thay, đề án không gặp thời khắc thuận lợi trong Công đồng.
Khởi đầu gọi là đề án về các Trường và Ðại học Công giáo, sau mới mở rộng thành đề án về Giáo dục Công giáo vì có lời yêu cầu cho rằng chỉ có 20% trẻ em và thiếu niên Công giáo học tại các trường và đại học Công giáo mà thôi.
Việc thay đổi tựa đề và chú điểm trên có nghĩa là phải duyệt lại bản văn gần như toàn bộ. Rồi nhiều mệnh đề bị cắt bỏ và dù sau đó nhiều mệnh đề được viết lại dài hơn, đề án trên vẫn chỉ là một đề án gầy guộc để rồi cuối cùng trở thành một tuyên ngôn, không phải hiến chế hay sắc lệnh. Rõ ràng chủ đề này đã không được chú ý thích đáng.
Cùng với những hoạt động khác của tuần lễ cuối, nhiều đề án được đem ra đầu phiếu hoặc toàn bộ hoặc từng phần. Chúng tôi kết thúc các đề án về Giáo hội, về Giáo hội Ðông phương và Ðại kết.
Khóa ba của Công đồng kết thúc sớm hơn dự liệu để một số nghị phụ đủ thì giờ tham dự Ðại hội Thánh Thể tại Bombay (nay là Mumbai). Tôi là một trong số đó và nhân cơ hội này đi viếng Thánh Ðịa trên đường tới Bombay luôn.
Núi Tabor và Biển Galilêa thanh bình xiết bao so với tuần lễ cuối cùng của Công Ðồng.
14. Phiếu Công Ðồng giúp Ðức Giáo Hoàng được đón tiếp nồng hậu tại LHQ
14 tháng 9 năm 1965 là ngày khai mạc khóa bốn Công đồng Vatican II. Buổi chiều hôm trước, đáp lời đề nghị của đức Thánh Cha, các giám mục tham dự một cuộc đi bộ thống hối giữa hai Vương cung Thánh đường của Rôma; Vương cung Thánh Ðường Thánh giá Giêrusalem và Vương cung Thánh đuường Thánh Gioan Lateran, nhà thờ chính tòa của Rôma. Cuộc đi bộ không quá khó khăn, nhưng đứng từ đầu đến cuối quả là mệt mỏi.
Tuy thế, cuộc đi bộ ấy không làm giảm lòng hăng say của những vị can dự vào việc thảo luận vòng hai vấn đề tự do tôn giáo.
Trước khi cuộc thảo luận trên bắt đầu, đức Giáo hoàng Phaolô Ðệ Lục công bố với Công đồng rằng ngài sắp sửa thiết lập ra một cơ chế mệnh danh Thượng Hội Ðồng Giám Mục, để cố vấn cho ngài; do đó, nói cho đúng, không phải là một cơ chế tập đoàn. Thượng hội đồng trên sẽ họp những phiên thường và ngoại lệ. Các phiên thường lệ cứ ba năm họp một lần, gồm đại diện các hội đồng giám mục thế giới.
Về vấn đề tự do tôn giáo, cánh cấp tiến tại Công đồng, với sự đại diện mạnh của Mỹ, không thể thấy được tại sao Giáo hội Công giáo có thể bước vào bất cứ cuộc đối thoại nào với thế giới hiện đại mà lại không tuyên bố là mình chấp nhận lương tâm và tự do thờ phượng. Không nền văn hóa nào, không thẩm quyền nhà nước nào có thể đặt để một tín ngưỡng lên con người ta. Họ phải được tự do chấp nhận tín ngưỡng ấy.
Các vị bảo thủ, từng ngụp lặn trong truyền thống của Giáo hội Công giáo vốn can dự sâu sắc vào nền văn hóa của dân chúng, không thể thấy tại sao vị thế đặc biệt của Giáo hội lại không được nhìn nhận. Dù thế nào, Giáo hội Công giáo cũng là Giáo hội của Chúa. Nó chính là ý muốn của Chúa. Làm sao có thể đặt các Giáo hội khác hay tôn giáo khác trên cùng một căn bản cho được?
Gần như mọi điều cần nói về chủ đề này đã được nói hết vào năm trước trong cuộc tranh luận sơ khởi về tự do tôn giáo, nhưng cánh cấp tiến có ưu điểm về nhân cách nơi các vị trước đây từng chịu đau khổ do các hạn chế khắt khe của nhà nước trong lãnh vực thực hành và cổ võ đức tin, đó là đức Hồng Y Slipyi của Ukraine, đức Hồng y Beran của Tiệp khắc và đức Hồng y Wyszynski của Ba-lan.
Ðức Hồng y Beran nói rằng ngài cảm thấy đất nước ngài đang tẩy rửa những bạo tàn nó đã phạm trong quá khứ nhân danh đức tin Công giáo, như vụ thiêu sống Jan Hus thế kỷ 15 và việc cưỡng bức người ta trở lại đạo trong thế kỷ 17.
Kết quả 1997 phiếu thuận, 224 phiếu chống đề án. Vấn đề còn lại chỉ là xử lý các đề nghị tu chính và nghi thức bỏ phiếu có lệ để phổ biến mà thôi.
Cuộc tranh luận ấy diễn tiến trong khi đức Thánh Cha lên đường bay qua New York để đọc diễn văn trước Liên Hiệp Quốc. Với tự do tôn giáo trong tay, ngài chắc chắn được chào đón nồng nhiệt và được nhiều người lắng nghe hơn là nếu quan điểm bảo thủ thắng thế.
Mục kế tiếp của nghị trình là tranh luận vòng hai về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay. Cuộc tranh luận này được tổ chức thành 7 giai đoạn: có nên chấp nhận đề án không, dẫn nhập vào đề án (một khảo sát về mối tương quan giữa Giáo hội và thế giới), tiếp sau là 5 vấn đề chuyên biệt: hôn nhân, văn hóa, kinh tế, chính trị và hòa bình.
Khi bàn về việc có nên chấp nhận đề án hay không, các chỉ trích không phải là không có. Nhiều nghị phụ cho rằng đề án không nhấn mạnh đủ đến sự ác trong thế gian. Nhiều vị khác nghĩ rằng đề án đã lẫn lộn giữa sự phát triển Kitô giáo và sự phát triển nhân bản. Một nghị phụ rất bảo thủ là đức Tổng giám mục Sigaud của Brazil nói rằng ngài sợ đề án này mở cửa cho mọi thứ sai lầm triết học, mà cao điểm là chủ nghĩa Mác-xít.
Tuy nhiên, có đủ nghị phụ bênh vực đề án, cho phép nó được chấp nhận với 2111 phiếu thuận, 44 phiếu chống.
Diễn giả đầu tiên phát biểu về phần dẫn nhập là đức Hồng y Cardijn, vị sáng lập ra Phong trào Thanh Lao Công. Ngài đãi Công đồng những lời trình bầy lên tinh thần và hết sức hùng biện. Ngài muốn Công đồng chú ý đặc biệt đến ba vấn đề: tuổi trẻ, công nhân và “thế giới thứ ba”, nghĩa là các quốc gia nghèo đói kinh niên của Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh.
Các đại diện các Giáo hội Ðông phương tỏ ra thất vọng khi thấy đề án không nhấn mạnh đủ đến tác động của việc Chúa Giêsu Phục sinh đối với khung cảnh nhân bản. Các nghị phụ khác chú ý tới chủ đề vô thần và đề nghị phải dành cho nó một xử lý cẩn trọng. Cũng có ý kiến cho rằng Thánh kinh và sự tạo dựng đã không được nhấn mạnh đủ.
Cha Pedro Arrupe, vừa được bầu làm bề trên cả Dòng Tên, nhận thấy Giáo hội yếu kém về thông đạt đối với thế giới ngày nay, vì ngôn từ của mình quá xa cách và trừu tượng.
Dù có những chỉ trích như thế, vẫn có đủ những phát biểu ủng hộ cho thấy đề án này thực hiện nhiều bước tiến khả quan.
Khi phần dẫn nhập đã được bàn một cách thỏa đáng, bước kế tiếp là đi vào năm vấn đề chuyên biệt, bắt đầu bằng hôn nhân.
15. Tái Bút gửi Một Thần học gia: Cha quả hết sức đúng
Hôn nhân, văn hóa, kinh tế, chính trị và hòa bình – đây là những vấn đề được biết đến như là năm vấn đề đặc biệt tại Vatican II.
Về chủ đề hôn nhân, chia rẽ ý kiến chính, một đàng, giữa những vị muốn duy trì và khẳng định thái độ cố hữu trong Giáo hội muốn đặt lên hàng đầu việc sinh sản và giáo dục con cái, và đặt xuống hàng dưới việc nâng đỡ nhau và thỏa mãn tính dục. Ðàng khác, quan điểm gần đây hơn, được đức Hồng y Léger của Montréal trình bầy, lại coi hôn nhân là một cộng đồng sự sống và tình yêu, một cộng đồng tìm được tròn đầy trong sinh sản và giáo dục con cái.
Khi lắng nghe các vị ủng hộ quan điểm thứ hai, tôi nhớ lại khoảng một phần tư thế kỷ trước đây, lúc tôi theo một giảng khóa đặc biệt về hôn nhân tại đại học Gregoriana, do một thần học gia ưu tú là Cha Hurth, Dòng Tên, phụ trách, trong đó, ngài nhắc đến tên một tác giả Ðức, cha Doms, người bắt đầu đưa ra một quan điểm nhân bản hơn về “cộng đồng sự sống và tình yêu”. Ðiều Doms đề nghị lúc đó không được Rôma ủng hộ. Bây giờ, khi phải đặt bút ký vào bản văn sau cùng về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay, tôi cảm thấy muốn thêm lời tái bút sau đây: “Doms, cha quả hết sức đúng”. Quả có nhiều dịp những tái bút như thế liên quan tới các nhà thần học khác không phải là không thích hợp.
Sau hôn nhân là văn hóa, một đề tài vĩ đại có thể cung cấp chương trình thảo luận cho cả một công đồng chuyên biệt. Tuy nhiên, tại Vatican II, nó lại không kích thích người ta tranh luận nhiều lắm, có thể vì Giáo hội đã nằm ngoài lãnh vực đồng cảm với hầu hết các phát triển văn hóa trong các thế kỷ trước đây chăng.
Các giám mục Pháp rất nổi bật trong cuộc tranh luận này, chủ yếu bàn đến vấn đề phải gây ảnh hưởng trên nền văn hóa khoa học của thời nay. Ðức giám mục người Ðức, Spullbeck, của địa phận Meissen cảnh cáo rằng không dễ nói chuyện với đầu óc khoa học bởi khoa học lệ thuộc kinh nghiệm và tính toán, và rất ít thiên về đức tin và triết học. Một giám mục khác của Ðức đề cập một cách ý nhị đến vai trò không thể thiếu được của phụ nữ, bất luận có gia đình hay độc thân, giáo dân hay tu sĩ, trong việc phát triển văn hóa.
Vào khoảng thời gian này, vị Tổng thư ký của Công đồng loan báo rằng cuộc tranh luận về các đề án phải kết thúc vào ngày 17 tháng 10 năm 1965 vì sau đó cần rất nhiều thời gian để tu chính và đầu phiếu để các đề án ấy có hình thức chung cuộc.
Cuộc tranh luận về kinh tế tiếp theo cuộc tranh luận về văn hóa cũng là một cuộc tranh luận không được thoả mãn lắm, phản ảnh sự kiện này là ít có giám mục nào tại Công đồng quen thuộc đủ với chủ đề kinh tế. Nhiều điểm đúng đắn đã được nói đến liên quan tới tài nguyên, tư bản, lao động, hợp tác kinh tế, sự nghèo đói của đa phần thế giới, và sự chênh lệch càng ngày càng lớn giữa người giầu và người nghèo.
Cha Mahon, bề trên cả của dòng Mill Hill, nhấn mạnh rằng trong 12 tháng giữa cuộc tranh luận thứ nhất và thứ hai về đề án 13 (Giáo hội trong Thế giới Ngày nay), 35 triệu người đã chết vì đói.
Ðức Hồng y Cardijn lên tiếng lần nữa với văn phong mạnh mẽ và hùng hồn cố hữu về đề tài quen thuộc của mình là: Công nhân, tuổi trẻ và “Thế giới Thứ ba” của những người kém may mắn tại Châu Á, Châu Phi và Châu Nam Mỹ.
Về chủ đề chính trị, chỉ có bốn diễn giả, mà tôi là một. Căn cứ vào điểm đề án kêu gọi tinh thần như đức Kitô trong thái độ của Giáo hội đối với chính quyền, tôi nhấn mạnh rằng đôi khi thái độ giống đức Kitô này bao gồm việc phải kiên quyết đối với sự tự do của chính Giáo hội cũng như quyền lợi của những con người chịu hậu quả tai hại do các hành động cũng như quên sót của chính quyền gây ra.
Sự mệt mỏi trong các buổi tranh luận về văn hóa, kinh tế và chính trị mau chóng bị đẩy lui khi cuộc tranh luận quay qua vấn đề hòa bình và chiến tranh.
16. Công đồng tìm đường dẫn đến hòa bình
Phần trong đề án về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay bàn đến chiến tranh và hòa bình đã đưa ra toàn bộ một bức tranh phức tạp hết sức có chất lượng.
Theo bản văn trên, hòa bình là một giá trị tích cực cần phải thực hiện cho bằng được. Nó đòi hỏi những tâm trí cở mở và sự hợp tác liên quốc về mọi lãnh vực, đặc biệt là lãnh vực kinh tế. Các nước đang mở mang cần được giúp đỡ và khuyến khích. Việc bùng nổ dân số cần được đương đầu và giải quyết bằng một sự phát triển kinh tế đầy nhiệt tâm.
Chiến tranh là nỗi kinh hoàng tột cùng. Chiến tranh toàn diện (hạch nhân, sinh học, hóa học và qui ước) là hoàn toàn vô luân. Tuy thế, vũ lực có thể được sử dụng để chống lại kẻ xâm lăng. Sự cân bằng thế gián chỉ (như giữa các nước có vũ khí hạch nhân) là điều đáng sợ, tuy vậy xét theo một vài phương diện nào đó nó có giúp duy trì hoà bình. Mối hy vọng duy nhất là thuyết phục các quốc gia đặt chiến tranh ra ngoài vòng pháp luật và thiết lập ra một thẩm quyền thế giới để buộc các nuớc không được gây chiến. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi, các quốc gia có thể sở hữu vũ khí hạch nhân để răn đe các nước khác.
Xét theo lương tâm, không ai buộc phải vâng theo điều trái với thiên luật. Bởi thế, theo Công đồng, phải đưa ra các dự liệu cho phép người ta phản đối trong lương tâm.
Ðức Hồng y Alfrink của Hòa Lan yêu cầu phải có một văn bản mạnh mẽ hơn liên quan đến thế quân bằng gián chỉ, giải giới và phản đối lương tâm. Ðức Hồng y Owen McCann của Cape Town lên tiếng mạnh mẽ về ý niệm một tổ chức tập trung về công bình xã hội để loại bỏ nguyên nhân gây ra chiến tranh.
Hàng giáo phẩm Pháp nối đuôi nhau tham gia cuộc tranh luận: ba hồng y, hai tổng giám mục và hai giám mục đã làm thành một nhóm diễn giả đáng nể trong tổng số hai mươi lăm vị tất cả. Nếu nguyên cảm quan hùng biện, tức giận và cuồng nhiệt có thể xua đuổi được chiến tranh ra khỏi mặt đất, thì chắc chắn bẩy vị giáo phẩm của Pháp đã đủ để hoàn thành việc đó.
Các ngài để sang một bên việc phân biệt giữa các cuộc chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa, chiến tranh nhỏ và chiến tranh lớn, người gây chiến và kẻ vô tội. Các ngài kêu gọi phải thẳng thừng kết án chiến tranh, đặt ra ngoài vòng pháp luật vũ khí hạch nhân, giáo dục dư luận quần chúng, kêu gọi lương tâm các chính khách, quyền được phản đối lương tâm, và nhìn nhận sức mạnh của bất bạo động.
Vị diễn giả Pháp mạnh mẽ nhất chính là đức cha giáo phận Verdun, nơi 1 triệu 3 binh lính Pháp và Ðức chết trong Thế chiến I.
Dù vậy, không ai có thể nói điều các nhà chủ hòa Kitô giáo muốn các giám mục phải nói: đó là một bên phải giải giới dù bên kia không chịu giải giới, và sẵn sàng chấp nhận hậu quả.
Vấn đề hệ trọng là: trong thời đại nguyên tử, lương tâm Kitô giáo có đòi hỏi phải đơn phương giải giới hay không? Có khoảng 20 phụ nữ cầu nguyện và ăn chay tại Rôma để Công đồng chịu nói là phải đơn phương giải giới như thế. Nhưng Công đồng đã không đi xa đến thế.
Trong khi trận chiến về hoà bình đang diễn ra trên đầu chúng tôi, thì một cuộc phục kích nhỏ xẩy ra cho vấn đề dân số.
Một vị giám mục chủ trương rằng việc gia tăng dân số là một vấn đề hệ trọng đến nỗi việc ngừa thai bằng bất cứ phương tiện nào hiện có phải được bênh vực. Một thành viên khác của Công đồng kêu gọi cho phép tự do di dân không hạn chế để dân số có thể di chuyển đến nơi có thực phẩm.
Ðức Hồng y Ottaviani lên tiếng mạnh mẽ lên án chiến tranh và kêu gọi phải dùng mọi phương tiện có thể có để loại trừ nó. Một vài gợi ý của ngài không thực tế lắm, nhưng lòng thành thực của ngài thì hết sức hiển nhiên và vì tài hùng biện của ngài, nên cử tọa đã vỗ tay tán thưởng rất nhiều. Hy vọng điều này được duy trì như một kỷ niệm đẹp để cân bằng hóa khá nhiều kỷ niệm khác về những trận khẩu chiến mà ngài đã đánh và đã thua tại Công đồng.
Như thế là kết thúc cuộc tranh luận về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay, một trong bốn chủ đề chính của Công đồng – ba chủ đề kia là Giáo hội, Phụng vụ và Lời Thiên Chúa (Mạc Khải).
(Còn 1 kỳ)