Chứng Nhân Tận Mắt Công Đồng Vatican II

9. Ðầu Thánh Andrê Hoàn Về Cố Hương

Cùng với sự diễn tiến của Khóa ba Công đồng, người ta có cảm giác cần phải tiến hành sự việc nhanh hơn lên.

Tuy thế, luôn luôn vẫn tìm ra thì giờ để mừng vui, như dịp xẩy ra ngày 23 tháng 9 năm 1964, đánh dấu việc hoàn lại thủ cấp Thánh Andrê cho nhà thờ Chính thống giáo tại thành phố Hylạp Patras.

Hình như thủ cấp này đã được giáo hội Hy-Lạp trao phó cho Rôma giữ hộ vào năm 1462 để tránh khỏi lọt vào tay đoàn quân xâm lăng Thổ Nhĩ Kỳ. Rôma giữ thủ cấp ấy trong 502 năm, hình như hơi lâu hơn thời gian giáo hội Hy-Lạp vẫn nghĩ.

Nhưng ở Rôma, 500 năm có là bao? Dù sao, cuối cùng chúng ta cũng đã trả lại di hài này, và việc trao trả long trọng ấy khởi đầu bằng việc đức Phaolô tự mình đi chân đất tay mang di hài tiến vào Nhà thờ Thánh Phêrô.

Cuộc thảo luận về người Do-Thái sau đó lại tiếp diễn, và kết cuộc các nghị phụ đưa ra đề nghị phải xem sét luôn các tôn giáo khác không phải là Kitô giáo. Kết quả sau cùng là một tuyên ngôn tuyệt tác về các tôn giáo không phải là Kitô giáo.

Ðề mục kế tiếp của nghị trình là Mạc Khải, tiếp tục cuộc tranh luận về đề án Hai Nguồn Mạc Khải. Ðề án này, dưới hình thức sửa đổi, đã xử lý thích đáng mối liên hệ giữa Thánh Kinh và thánh truyền trong Giáo hội Công giáo, nên đã được thông qua không mấy khó khăn.

Sau đó là đề án về Ðời Sống và Thừa Tác Vụ Linh Mục. Ðề án này đã được soạn thảo một cách cấp tốc để chỉnh lại sự thiếu sót không bàn đến các linh mục một cách đầy đủ trong chương nói về phẩm trật của đề án về Giáo hội. Chính vì vậy, nó bị chỉ trích nặng nề và đã bị đa số nghị phụ bác bỏ.

Trong khi đó, các nghị phụ quay qua bàn về Giáo hội Ðông phương. Dưới tiêu đề này, các nghị phụ muốn bàn đến các cộng đồng Công giáo nhỏ bé tại vùng Ðông Ðịa Trung Hải, được Toà Thánh tổ chức trong mấy thế kỷ vừa qua tại các lãnh thổ mà đại đa số Kitô hữu thuộc các Giáo hội Chính thống.

Có nhiều điểm đặc biệt cần phải xem sét mà phần lớn chúng tôi không hay biết mấy. Tuy nhiên, công lớn của đề án này là đã đẩy Thượng phụ Maximos IV Saigh nhẩy vào vòng chiến một lần nữa. Ngài là diễn giả cuối cùng trong ngày. Thường thường diễn giả cuối cùng bao giờ cũng gặp một cử toạ bồn chồn và không muốn nghe, chỉ muốn diễn giả câm cái miệng lại để họ còn ra về cho sớm. Nhưng đối với Thượng phụ Maximos, sự tình lại khác hẳn.

Bằng một giọng bốc lửa đầy nhiệt tình (dù đã ngoài 80), ngài làm cử toạ như hút hồn say mê theo dõi cuộc tấn kích hùng hồn của mình. Ngài đòi phải tái nhìn nhận các tòa thượng phụ ngày xưa gồm Constantinople, Antioch, Alexandria và Giêrusalem, trong cái vẻ huy hoàng tinh nguyên của chúng.

Quả là một lời kêu gọi tuyệt diệu, nhưng không thực tế bao nhiêu. Vì cái vẻ huy hoàng đã thuộc về lịch sử ấy làm sao kéo được các tòa thượng phụ oai hùng kia ra khỏi những nhóm Công giáo thiểu số sống giữa các dân tộc theo Chính thống giáo và Hồi giáo!

Tông đồ Giáo dân là đề tài tranh luận tiếp theo. Vấn đề liên quan đến tông đồ giáo dân là trong mấy thế kỷ trước đây tiếp theo Phong trào Cải cách, Giáo hội Phương Tây hầu như đã quên khuấy tông đồ giáo dân là gì. Quá nhiều thần học và biện giáo đã được khai triển về bản chất phẩm trật của Giáo hội, đến nỗi vai trò của giáo dân bị đẩy vào một thế khinh miệt nào đó.

Tuy nhiên, mấy thập niên trước Vatican II, một sinh khí phục hồi vĩ đại trồi lên, qua việc xuất hiện một số lớn các tổ chức giáo dân. Công giáo Tiến hành được thành lập tại một số nước như Pháp, Ý, Tây Ban Nha và Châu Mỹ La-tinh. Tại các vùng ấy, Công giáo Tiến hành được coi như một tổ chức đặc thù, được xây dựng cách thận trọng như là trực tiếp dưới quyền kiểm soát của giám mục địa phương, với mục tiêu phục hồi ảnh hưởng Công giáo trong xã hội nhân bản.

Công giáo Tiến hành nhận được một thúc đẩy hết sức lớn lao khi kinh sĩ vĩ đại (sau này là Hồng y) Cardijn khai mở ra Phong trào Thanh Lao Công với phương pháp “nhìn xem, phán đoán và hành động”. Phong trào này cùng với các tổ chức phỏng theo khác sau này được mệnh danh là Công giáo Tiến hành chuyên biệt.

Trong các xứ nói tiếng Anh, từ ngữ trên được áp dụng rộng rãi để miêu tả nhiều tổ chức khác của giáo dân đến nỗi các từ ngữ “Công giáo Tiến hành” và “Tông đồ Giáo dân” trở thành đồng nghĩa, có thể sử dụng lẫn cho nhau.

Ðức giáo hoàng Piô XI định nghĩa Công giáo Tiến hành là “việc giáo dân tham dự vào hoạt động tông đồ của hàng giáo phẩm”. Nhưng khi suy tư về vai trò của người giáo dân trong thế giới đã trở nên rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn, thì người ta hiểu ra định nghĩa trên không còn đầy đủ nữa. Vì người giáo dân có việc riêng phải làm ngoài việc trợ giúp các giám mục thực hiện nhiệm vụ của các ngài.

Công lớn của cuộc tranh luận về tông đồ giáo dân là đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vai trò người giáo dân trong việc đưa ảnh hưởng Kitô giáo đi vào trần gian. Ðây quả là một đóng góp lớn lao. Tuy nhiên đề án này bị công kích nặng nề đến độ vị chủ tịch ủy ban phụ trách hứa sẽ duyệt lại toàn bộ đề án.

Hy vọng công đồng có thể kết thúc trong khóa thứ ba như thế đã tan thành mây khói. Khóa thứ tư là điều không thể tránh khỏi.

10. Vị Tổng giám mục quá ghiền cá trích

Giữa khóa ba của Công đồng Vatican II, tức ngày 20 tháng 10 năm 1964, đề án về Giáo hội Trong Thế giới Ngày nay được đem ra thảo luận. Ðây là một đề án rất khó soạn thảo. Vì đây là lần đầu tiên một công đồng của Giáo hội giáp mặt với vấn đề các mối tương quan giữa Giáo hội và trần gian.

Cơ phận phụ trách việc soạn thảo đề án này, trong cơ cấu tái tổ chức xẩy ra sau khóa thứ nhất của Công đồng, được mệnh danh là một “ủy ban hỗn hợp”, nghĩa là một liên ủy ban gồm các thành viên của ủy ban thần học và ủy ban tông đồ giáo dân.

Các thành viên này đã làm việc lâu dài và vất vả từ đầu năm 1963 cho mãi đến đầu khóa ba nghĩa là khoảng các tháng 9 và 10 năm 1964. Họ gặp đủ loại vấn đề để bàn cãi: tài liệu của họ nhằm nói với ai đây? Với người Công giáo hay với người trong thế giới nói chung? Những vấn đề đặc thù nào cần được thảo luận? Và khi thảo luận về chúng, tài liệu cần nhằm mục tiêu gì?

Xem ra tài liệu này đã kinh qua một diễn trình đến bốn năm lần sửa đi soạn lại. Những biện bác mà liên ủy ban trên đã kinh qua, giờ đây trở thành những biện bác của chính toàn thể công đồng.

Ðầu tiên cuộc tranh luận nhằm vào đề án một cách chung, sau đó mới đi vào nội dung qua tám đề mục chi tiết: ơn gọi nhân bản, Giáo hội phục vụ Thiên Chúa và nhân loại, phẩm giá nhân vị, hôn nhân và gia đình, sự đơn nhất của gia đình nhân loại, và duy trì hòa bình. Quả là một học trình vĩ đại.

11 diễn giả đầu tiên tham dự cuộc tranh luận có nên chấp nhận đề án hay không đều là hồng y. Ðức Hồng y Meyer của Chicago thật là xuất sắc trong lời trình bầy, một tóm lược tuyệt vời nền thần học của Thánh Phaolô về vai trò đức Kitô trong vũ trụ, với rất nhiều trích đoạn rút từ các thư Rôma, Côlôxê và Êphêsô. Ngài nói tới sự thống trị của đức Kitô trên khắp vũ trụ do cái chết và sự phục sinh của Người, và ơn cứu độ, từng đến với gia đình nhân loại qua mầu nhiệm đức Kitô, cũng đã tác động đến vũ trụ như thế nào, một vũ trụ trong đó gia đình nhân loại sống và làm việc, một vũ trụ sau cùng sẽ biến hóa thành trời mới đất mới. Ðức hồng y Meyer nhắc đến một trong những nhà cổ động vĩ đại của loại thần học này, linh mục Pierre Teilhard de Chardin.

Ðức tổng giám mục Heenan của Westminster lại không có cùng một tâm thức. Ngài cho rằng bản văn đề án là một thảm họa, và khi lên tiếng chỉ trích, ngài đã nhân cơ hội này tố cáo các chuyên viên tôn giáo cỡi mây vũ trụ (globetrotting) làm rối loạn đức tin của những người Công giáo đơn thành. Nhiều người nhận ra ngài muốn nhắm linh mục Bernard Haring, nhà thần học luân lý thời danh lúc ấy đang giảng dạy tại Anh quốc.

Viện phụ Tu viện Beuron thuộc dòng Bênêđictô, Ðức quốc, khi can thiệp cho rằng hình như ngài nhớ có một nhóm tu sĩ cỡi mây vũ trụ hiện đang dừng lại tại Anh và an cư lạc nghiệp ở Canterbury.

Từ đấy có lời phao đồn rằng đức tổng giám mục Heenan hiện đang bị bệnh chuyên viên (peritinitis) hành vì ăn quá nhiều cá trích và hiện được thuốc Bênêđictô chữa trị.

Tôi tham gia cuộc tranh luận bằng cách về phe với đức hồng y Meyer và lên tiếng ca ngợi linh mục Teilhard de Chardin. Viện phụ Beuron không vui với cha Teilhard vì vị linh mục này đã bỏ qua tầm cỡ sự ác trong thế giới và xem ra đã phản ảnh các sai lầm của một giáo phụ sơ khai là Origen. Theo giáo phụ này, không có sự trừng phạt đời đời. Ðức giám mục Spulbeck của Meissen, Ðức quốc, sau đó đã hô hào ủng hộ cha Teilhard, bằng cách nhấn mạnh đến ảnh hưởng lớn lao của ngài trong các giới khoa học.

Còn nhiều can thiệp khác đối với đề án, cả chống lẫn bênh, và sau cùng nó được chấp nhận để bàn cãi thêm với số phiếu 1579 thuận, 926 chống.

11. Hòa bình, Nghèo đói và Thuốc ngừa thai

Cuộc thảo luận từng chương một đề án về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay, mà đôi khi được nhắc đến dưới tên “đề án mười ba”, đề cập đến những đề tài như Dấu chỉ Thời gian, Nhân phẩm và Hôn nhân.

Thuật ngữ Quan sát Các Dấu chỉ Thời gian đã trở thành một tiêu đề khá nổi bật kể từ ngày đức giáo hoàng Gioan XXIII phổ biến nó lần đầu. Thuật ngữ này muốn nói đến việc phải nhậy cảm đối với các triển khai mới trong kinh nghiệm xã hội nhân bản và phải mạnh dạn liên hệ với chúng qua giáo huấn và ảnh hưởng thiêng liêng của Giáo hội.

Thời Công đồng Vatican II, các Dấu chỉ Thời gian bao gồm việc phổ quát hóa văn hóa, việc phát triển nhanh chóng các khoa học và kỹ thuật, việc xã hội hóa sâu rộng gia đình nhân loại, việc giải phóng phụ nữ, và chủ nghĩa cộng sản vô thần.

Các giám mục Nam Phi lỡ chuyến tầu không có dịp thảo luận về chủ đề nhân phẩm. Một vị trong chúng tôi đáng lý ra đã lên tiếng về vấn đề kỳ thị chủng tộc, nhưng lúc ấy, chúng tôi đã không nghĩ đến vấn đề này. Trong số những vị nghĩ đến vấn đề đó, có hai giám mục Mỹ, một giám mục Ấn độ và tổng giám mục Malula của Leopoldville, Congo. Ðức tổng giám mục Malula, khi đề cập đến kỳ thị chủng tộc, đã nghiêm khắc lên án chủ nghĩa bộ tộc (tribalism). Một số giám mục đã nói rất hay đến vai trò phụ nữ.

Khi chủ đề về hôn nhân và gia đình được đem ra bàn, thì công đồng được thông báo, giống như trước đây, là vấn đề chủ yếu về hạn chế sinh đẻ đã được đứcThánh Cha Phaolô VI dành riêng cho một ủy ban đặc biệt. Tuy thế, một số diễn giả cũng đã nói rất gần tới vấn đề ấy dù không đề cập thực sự đến thuốc ngừa thai hay các tiền thân của nó.

Ðức hồng y Leo Josef Suenens của Brussels là vị chèo tới gần đầu gió nhất, đến độ mấy ngày sau ngài phải chối là mình không biện minh cho việc ngừa thai. Một số lớn các nghị phụ nghĩ là ngài quả có biện minh cho nó và, dĩ nhiên, truyền thông thế giới đã làm rùm beng cả lên về vụ này.

Sau những ngày cuối tuần kéo dài, bao gồm cả lễ Các Thánh, Công đồng tiếp tục bàn đến các chủ đề văn hóa, kinh tế, tình liên đới nhân loại và hòa bình.

Ðức hồng y Lercaro của Bologna kêu gọi phải làm chứng nhân lớn hơn cho đức khó nghèo trong Giáo hội. Ðó là đề tài rất ăn ý của ngài. Xem ra ngài không muốn thưởng thức vẻ huy hoàng lộng lẫy của một hồng y tại Ý.

Các vị khác lên tiếng về tự do nghiên cứu, và đức cha hùng biện Elchinger của Strasbourg bên Pháp lên tiếng kêu gọi phải long trọng phục hồi danh dự cho Galileo. Cái ông Galileo khốn khổ từng phải chối từ cái lý thuyết trái đất quay quanh mặt trời của mình, chứ không phải ngược lại. Truyền thuyết cho rằng khi đứng dậy, ông ta thì thào nói về trái đất “eppur si muove” (tuy nhiên nó vẫn cứ quay).

Nếu đức hồng y Ottaviani được gọi lên để phục hồi danh dự cho Galileo nhân danh Bộ Tín lý mà ngài đứng đầu, người ta tự hỏi không hiểu ngài sẽ thì thào điều gì.

Sau đó là các diễn văn về văn hóa, giáo dục, nghèo đói.

Cuộc tranh luận trở nên thích thú với việc lựa chọn một người Mỹ, ông James Morris, chủ tịch Hội đồng Di dân Công giáo Quốc tế, để nói một cách đầy hình ảnh về các khu vực nghèo đói kinh niên của thế giới.

Ông nhấn mạnh rằng 16% nhân loại (một con số phần lớn bao gồm cộng đồng Bắc Ðại Tây Dương) đang thụ hưởng 70% tài nguyên của thế giới. Ông nhắc đến việc các xứ giầu đều là những nước theo truyền thống Kitô giáo, và kết luận rằng Giáo hội phải tung hết các tài nguyên thiêng liêng và tinh thần của mình vào việc giải quyết vấn đề này. Ông Morris hy vọng rằng Công đồng sẽ quyết định thiết lập ra một bộ máy với kích thước hoàn cầu để động viên các nỗ lực Công giáo.

Cuộc thảo luận về hòa bình đã mang lại nhiều ý kiến mạnh mẽ như phải triệt để lên án toàn bộ vũ khí hạch nhân dù điều này xem ra có nghĩa phải đơn phương tài giảm vũ khí về phía những quốc gia chịu lắng nghe tiếng nói của Công đồng. Nhưng ai dám nghĩ Mỹ sẽ tài giảm binh bị khi Nga sô không chịu làm như thế?

Hai vị giám mục nói tiếng Anh đã đem Công Ðồng trở lại mặt đất, nơi chiến tranh vẫn đang xẩy ra như cơm bữa, bằng cách phân tích rất chính xác các hệ luận của việc đơn phương tài giảm binh bị.

Ðóng góp ấy đã kết thúc giai đoạn đầu cuộc thảo luận về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay. Liên ủy ban phụ trách có dư các tài liệu để xem sét lại đề án này.

12. Tranh luận về ơn gọi, cãi cọ về tối thượng giáo hoàng

Diễn trình cắt xén từng đặt để trên ba đề án Hoạt động Truyền giáo của Giáo hội, Ðời sống Tu dòng và Huấn luyện Chủng viện đã đem lại hậu quả bất hạnh cho đề án giữa, như đã từng xẩy ra cho đề án đầu. Diễn trình ấy đã lấy hết sinh khí ra khỏi đề án này, rút nhỏ nó lại chỉ còn là những công thức luật pháp và những biện pháp thực tiễn.

Trước Công đồng không lâu, đức hồng y Suenens của Brussels có xuất bản một cuốn sách tựa là Người Nữ Tu Trong Trần Gian. Ngài biện luận rằng vì Giáo hội có sứ mệnh truyền giáo, nên cuộc sống tu dòng, một cuộc sống tận hiến cho Giáo hội, cũng phải có tính cách truyền giáo một cách rõ rệt.

Các diễn giả tại Công đồng chia thành hai khuynh hướng: một khuynh hướng ủng hộ quan điểm trên, một khuynh hướng chủ trương rằng yếu tính cuộc sống tu dòng là cầu nguyện, hãm minh và phần nào xa lánh thế gian.

Cuộc tranh luận trên phần nào đã khiến Công đồng sao lãng không xem sét những điều cốt yếu thực sự của đời sống tu dòng. Tuy nhiên vẫn có những can thiệp nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cuộc sống chiêm niệm. Lại có những nghị phụ khác lên tiếng cảnh cáo các tu sĩ đừng thiết lập những cơ sở như trường học hay nhà thương ít có tính chứng tá cho đức khó nghèo.

Hiển nhiên khó mà phúc âm hóa được thế giới nếu không mặc lấy một vài đặc điểm của thế giới.

Một đề án không thích đáng đã khởi diễn một tranh luận không thích đáng, và cần nhiều việc phải làm nữa để miêu tả rõ rệt hơn và xác tín hơn yếu tính của đời sống tu dòng và qui mô đời sống ấy có thể can dự vào công việc truyền giáo mà không nguy hại đến yếu tính kia.

Bởi thế, không ai ngạc nhiên khi đề án trên bị dẹp bỏ với tỷ số khá xít xao 1153 chống, 882 ủng hộ. Rất nhiều đề nghị sửa đổi được thu thập, nên đề án cần được tu chỉnh rất nhiều.

Ðề án đem ra thảo luận kế tiếp là đề án về huấn luyện chủng viện. Ðề án này cũng thế, từng bị rút vắn thành những công thức, và sau đó được nới rộng ra bằng cách thêm vào khá nhiều điểm từng bị cắt bỏ.

Ðây là đề án chính bản thân tôi có đóng góp từ lúc Công đồng khai mở. Tôi hết sức ca ngợi tài chuyên môn của vị thư ký là linh mục dòng Bênêđictô (sau lên hồng y) Augustinô Meyer, và linh mục Paul Dezza, sau này là quyền bề trên cả Dòng Tên - một bậc thầy về văn phong cô đọng. Với sự giúp đỡ của hai vị, chúng tôi đã có thể rút từ đề án ra các mệnh đề chính yếu rồi khai triển các mệnh đề ấy trở lại thành đầy đủ tương đối đáng trọng, trong khi vẫn giữ được những điểm chính chúng tôi muốn nhấn mạnh.

Sau khi trình bầy xong đề án của mình, quả là một sảng khoái được ngồi thoải mái, lắng nghe điệp khúc chấp thuận và ca ngợi từ các nghị phụ. Chúng tôi được lòng hầu hết các giám mục với một dẫn nhập khuyến cáo cho các hội đồng giám mục được quyền tự do đưa ra những thích ứng cần thiết đối với những qui phạm tổng quát được trình bầy trong đề án.

Các điểm lôi cuốn các diễn giả bao gồm tính cách quân bình tổng quát của đề án, chiều hướng tông đồ, đòi hỏi ý thức hệ phải xem sét đến khía cạnh kinh thánh và thực tiễn, huấn luyện tu đức phải mang theo tính chất tông đồ, và việc nhấn mạnh đến kinh nghiệm thực tế trong các chức phận mục tử.

Nên không ngạc nhiên khi đề án này được chấp thuận với đa số tuyệt đối 2076 phiếu thuận, 41 phiếu chống.

(Còn tiếp)