Chứng Nhân Tận Mắt Công Đồng Vatican II
5. Hai tuần chủ yếu của Vatican II
Các nghị phụ công đồng tập trung tại Rôma để tham dự giai đoạn hai vào cuối tháng 9 năm 1963. Thánh lễ khai mạc được cử hành tại vương cung thánh đường Thánh Phêrô ngày 29. Chủ tế là đức tân giáo hoàng Phaolô VI. Vị tiền nhiệm của ngài, đức Gioan XXIII, người triệu tập công đồng, đã qua đời năm đó.
Ðức Phaolô VI, người lúc còn là Hồng y Montini, vốn là một khuôn mạo quan trọng trong khóa thứ nhất của công đồng, trong bài diễn văn, rõ ràng tự xếp mình đi theo chính sách aggiornamento (cập nhật hóa) của đức Gioan XXIII.
Ngày làm việc đầu tiên là ngày 30 tháng 9. Chúng tôi ngồi chỗ mới trong aula, nhận được bản đề án mới về Giáo hội, và bỏ phiếu ủng hộ đề án này với 2231 phiếu thuận trong tổng số 2301 phiếu bầu. Ðiều này cho thấy đã có sửa đổi quan trọng so với bản văn đầu.
Khi tranh luận về “Mầu nhiệm Giáo hội”, các can thiệp đã nhấn mạnh nhiều đến những hình ảnh thánh kinh như dân Chúa, nước Chúa, nuớc đức Kitô, thân mình đức Kitô, gia đình Thiên Chúa, hiền thê đức Kitô. Ðiều này cho thấy một sự chuyển mình ra khỏi nền thần học dựa trên phương thức triết học và cơ cấu; cũng là một chuyển mình ra khỏi thái độ thủ thế (hay hộ giáo) từng là hậu quả của những đối nghịch Thệ phản. Trong bản văn cuối cùng, được chấp thuận về Giáo hội, “Dân Chúa” trở thành một chương riêng tiếp theo chương “Mầu nhiệm Giáo hội”.
Trước khi kết thúc phiên họp ngày Thứ Sáu, cuộc tranh luận bắt đầu về phẩm trật, đặc biệt nhắc đến tính hiệp đoàn (collegiality) của các giám mục. Cuộc tranh luận này kéo dài 7 ngày.
Tính hiệp đoàn của các giám mục chẳng có chi liên quan đến trường này trường nọ hay đại học này đại học nọ. Mà vấn đề là: phải chăng các giám mục Công giáo tạo thành một cơ chế hiệp đoàn (corporate body) với đức giáo hoàng trong thừa tác vụ tông đồ? Các giám mục nhận được thẩm quyền của mình từ đức giáo hoàng hay trực tiếp từ đức Kitô như một cơ chế hiệp nhất và bên dưới đức giáo hoàng?
Ðây là vấn đề rất lớn đối với các thần học gia aggiornamento. Các nhà bảo thủ sợ rằng tính hiệp đoàn sẽ làm yếu đi quyền tối thượng (primacy) của đức giáo hoàng. Các nhà cấp tiến trái lại xác tín rằng việc lãnh đạo trong Giáo hội sẽ yếu đi vì thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các giám mục và đức giáo hoàng trong việc quản trị Giáo hội.
Vào ngày Thứ Sáu là ngày bắt đầu cuộc tranh luận, một trong những vị bảo thủ tên tuổi là đức Hồng y Rufini của Palermi miền Sicily, mở đầu cuộc tranh luận bằng cách mạnh mẽ bênh vực quyền tối thượng không điều kiện. Sáng Thứ Hai, 9 đức hồng y, phần nhiều là người Bên Kia Núi (là tên chỉ các nghị phụ không phải người Ý), lên tiếng ủng hộ tính hiệp đoàn.
Tuần đó kết thúc với một đóng góp Ý rất mạnh khác, lần này lại từ cánh cấp tiến. Diễn giả là một vị rất trẻ, vừa mới được thụ phong 5 ngày trước đó, chính là giám mục phụ tá địa phận Bologna, đức cha Bettazzi. Quét một loạt Latinh trôi chẩy như thác nước và với những cử điệu tuyệt vời, trong 15 phút vắn vỏi có tác dụng điện hóa cả một hội trường đang mệt mỏi vào ngày cuối tuần, đức cha Bettazzi đã tuôn ra một loạt những chứng tá thần học hùng hồn để chứng minh rằng truyền thống Ý đại lợi thực ra cũng đứng đàng sau tính hiệp đoàn giống như mọi truyền thống khác.
Chỉ 15 phút thôi: nhưng cũng đã quá năm phút do qui luật cho phép. Ðáng bình luận là việc đức hồng y Lercaro của Bologna, người chủ toạ phiên họp hôm đó, say mê theo dõi lời trình bầy của vị phụ tá của mình đến độ quên khuấy cả việc mình phải trung lập và phải rung chuông cảnh cáo sau phút thứ 8, như qui luật đòi hỏi. Vị diễn giả khác trong ngày cũng được phép nói thêm giờ: đó là đức tổng giám mục Slipyi, người vừa được thả khỏi nhà tù Siberia sau 18 năm đằng đẵng.
Thế là hai tuần lễ quan trọng nhất của công đồng Vatican II đã kết thúc, hai tuần lễ bàn về bản chất Giáo hội, và vấn đề quyền tối thượng và tính hiệp đoàn.
Trong bản văn được thỏa thuận và công bố về Giáo hội, được biết dưới tựa đề Latinh là Lumen Gentium, tương quan giữa quyền tối thượng và tính hiệp đoàn được phát biểu như sau: “Giám mục Rôma, vì chức vụ Thay mặt đức Kitô và trong tư cách là mục tử của toàn thể Giáo hội, có quyền trọn vẹn, tối cao và phổ quát trên toàn thể Giáo hội, một quyền mà ngài có thể tự do thi hành. Chức bậc các giám mục là người kế quyền tông đồ đoàn (college of the apostles) trong vai trò của mình như thầy dậy và mục tử, và trong chức bậc ấy tông đồ đoàn được truyền đến muôn đời. Cùng với người đứng đầu là Ðức Giáo hoàng, và không bao giờ tách rời ngài, chức bậc các giám mục là chủ thể của quyền bính tối cao và trọn vẹn trên toàn thể Giáo hội hoàn cầu, nhưng quyền này không thể thi hành nếu không có sự đồng thuận của Giám mục Rôma”. Nếu độc giả thấy khó mà hiểu được mối tương quan giữa quyền tối thượng của đức giáo hoàng và tính hiệp đoàn, thì họ phải hiểu rằng phải khó khăn bao nhiêu mới đạt được nó trong một cuộc thảo luận có sự can dự của hơn 2000 tham dự viên!
6. Giáo dân, các phó tế và Ðức Mẹ
Ðiểm yếu lớn trong chương bàn về phẩm trật là song song với 10 tiết (sections) nói về các giám mục, chỉ có một tiết bàn về các linh mục và các giám mục.
Bốn người chúng tôi (một thiểu số quá nhỏ) cảm thấy điều đó quá tệ nên đã lên tiếng can thiệp vào chủ đề chức linh mục. Tôi nhấn mạnh rằng các giám mục sẽ tạo nên một khuôn mạo nghèo nàn nếu không có các linh mục, là những người làm phần lớn công việc. Một vị giám mục Pháp đề nghị rằng cũng như các giám mục đã tạo thành một hiệp đoàn chung quanh đức giáo hoàng thế nào, thì các linh mục cũng tạo nên một linh mục đoàn chung quanh vị giám mục như vậy.
Nhiều xem sét đã được dành cho các phó tế vì việc phục hồi chức phó tế trong Giáo hội Phương Tây được coi là một canh tân.
Nhưng vẫn có những luận chứng ủng hộ và chống lại. Một trong những khía cạnh tranh cãi là vấn đề độc thân. Có ý kiến cho rằng sẽ không thực tế tí nào nếu phục hồi chức phó tế vĩnh viễn mà lại loại trừ những người có gia đình. Ý kiến khác lại sợ rằng các phó tế có gia đình sẽ trở thành lưỡi dao sắc phá hoại luật độc thân của linh mục. Chính trong hoàn cảnh đó, Vatican II đã mở đường cho các phó tế vĩnh viễn có gia đình.
Chương kế tiếp trong đề án về Giáo hội cần phải đem ra thảo luận là chương ba: “Dân Chúa và Giáo dân nói riêng”.
Khi miêu tả việc bắt đầu cuộc tranh luận này, có lần tôi đã sử dụng hình ảnh chơi cricket: “Ðức hồng y Rufini (tổng giám mục bảo thủ của Palermo) đóng vai batsman khởi đầu cuộc chơi và, với con mắt tinh nhìn và tính cẩn thận cố hữu của một tay batsman sinh ra đã biết cầm bat để khởi đầu cuộc chơi, ngài xử lý một cách cứng rắn với bất cứ nghiêng ngả nào ngài nhận ra trong ngôn từ thần học và trong các trích dịch thánh kinh”. Một hồng y người Sicily đứng trước wicket!
Ðối với giáo dân, nhiều bài phát biểu rất hay đã được đọc về sự cần thiết phải nhấn mạnh nhiều hơn đến gia đình Kitô hữu, đến ơn gọi của người giáo dân phải sống và làm việc trong thế gian, đến việc thánh hiến thế gian qua người giáo dân Kitô giáo.
Nhưng có vấn đề: làm sao suy tư về người giáo dân mà lại không dùng đến những điều tiêu cực. Thật khó có thể định nghĩa được người giáo dân mà không nói họ không phải là giáo sĩ hay tận hiến tu dòng.
Một vài gợi ý được đưa ra nhưng hết 9 trong 10 trường hợp, kẻ định nghĩa giáo dân là gì vẫn cứ loay hoay mãi ở cuối đường hầm những cái tích cực, cho đến phút chót lại rơi vào cái bẫy tiêu cực, khiến cử tọa chẳng nhịn được cười.
Có người nhắc đến vai trò ngôn sứ của giáo dân cũng như chức linh mục của họ. Một vài châm chọc đã được phát biểu về điểm thứ hai, có thể vì cái viễn tượng người giáo dân xâm lăng gian cung thánh (chen chúc nhau đàng sau các phó tế có vợ). Tuy thế, cung điệu cuộc tranh luận nói chung khá tích cực, diễn tả được niềm hy vọng, tín thác và vững tin. Một số giám mục phát biểu hùng hồn về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội. Ðức cha Hakin, mà giáo phận bao gồm Nazareth, gây ấn tượng khá đặc biệt trong vấn đề này.
Vấn đề về Ðức Mẹ được nêu lên - liệu Người nên có một đề án riêng, hay chỉ là một tuyên ngôn bên trong đề án về Giáo hội.
Tuần lễ thứ năm của khóa thứ hai là một tuần lễ làm việc rất ngắn. Một ngày được dành cho việc tưởng niệm đức cố Giáo hoàng Gioan XXIII,. đấng đã khởi xướng công đồng, và một ngày nghỉ lễ Các Thánh.
Tuy nhiên cũng kiếm ra giờ để tranh luận về chương 4 của đề án, “Ơn Gọi Nên Thánh trong Giáo hội”. Văn kiện nhấn mạnh rằng mọi phần tử của Giáo hội đều được kêu gọi nên thánh. Chương này bao gồm phần nói đến các tu sĩ, nhưng sau này, một chương riêng đã được tạo ra dành riêng cho đời sống tu sĩ.
Vấn đề vị thế của Ðức Mẹ trong các tài liệu của công đồng đã được bàn thảo một cách gay gắt. Những vị muốn có một đề án riêng biệt dành cho Ðức Mẹ cảm thấy nếu chỉ nói đến Người trong đề án về Giáo hội, ta sẽ xúc phạm đến danh dự mà Người đáng được hưởng. Phe kia thì xác tín rằng đức Maria chẳng muốn điều gì khác hơn là được liên kết chặt chẽ với Giáo hội. Khi bỏ phiếu, số phiếu bầu được công bố như sau 1114 vị ủng hộ và 1074 vị bỏ phiếu chống, một chênh lệch chưa đến 2 phần trăm.
Cuộc tranh luận về đề án liên quan đến Giáo hội kết thúc với 5 câu hỏi được đặt ra cho các nghị phụ để thăm dò thái độ của các ngài đối với các vấn đề quyền tối thượng, tính hiệp đoàn và chức phó tế.
7. Hai vụ phun lửa tại Vatican II
Tuần lễ thứ sáu và thứ bẩy năm 1963 của Công đồng Vatican II được dành cho một đề tài khác “Các giám mục và việc cai quản các giáo phận”. Như thế lại có dịp bàn về các giám mục.
Các điểm đưa ra thảo luận là mối liên hệ giữa các giám mục và giáo triều Rôma, với các chi tiết liên quan đến giáo phận, các giám mục phó và phụ tá, và vấn đề người thuộc các nghi lễ khác nhau trong Giáo hội nhưng sống trong cùng một lãnh thổ.
Tại Nam Phi, ngoài nghi lễ Rôma và, một mức độ nào đó, nghi lễ Maronite của phần đông anh em Libăng, chúng ta ít biết đến các nghi lễ khác.
Tại Trung Ðông, trái lại, ta thấy rất nhiều nghi lễ khác nhau mà một số tràn qua cả các nước khác, như Canada và Mỹ. Mối liên hệ giữa các nghi lễ này cần được ấn định rõ.
Hiển nhiên các nghị phụ thuộc các nghi lễ trên có những quan tâm khác nhau, nhưng họ chỉ là thiểu số rất nhỏ. Như thế, khóa hai của Công đồng xem ra đang tiến một cách chậm chạp nhưng đều đặn tới chỗ tàn lụi. Ðiều này rồi cũng đến thôi, nhưng trước khi tàn lụi, nó cũng phun lửa lên hai bận: một nhỏ, một lớn.
Vụ phun lửa nhỏ liên quan đến lời chỉ trích của Thượng phụ Saigh Maximos IV, thuộc nghi lễ Melkite. Vị Thượng phụ này không bao giờ nói tiếng Latinh để phản đối sự độc quyền của ngôn ngữ này. Thay vào đó, ngài nói bằng tiếng Pháp. Ngài hùng hồn chỉ trích Hồng y đoàn, bằng cách cho mọi người hay: theo lịch sử đó chỉ là một tổ chức của các giáo sĩ Rôma. Sinh ra từ cái nôi ‘tội nguyên tổ” ấy, nó không thể đại diện đầy đủ cho Giáo hội hoàn vũ được.
Tốt hơn, theo đề nghị của ngài, nên tổ chức một hội đồng bao gồm các thượng phụ, một ít hồng y vốn là giám mục chính tòa, và cả chủ tịch các hội đồng giám mục nữa. Ngài kết luận, một tổ chức như thế mới có thể đóng góp đáng kể vào việc phổ quát hóa Giáo hội và cổ võ việc thích nghi vào các hoàn cảnh và văn hóa khác nhau.
Vụ phun lửa lớn hơn xẩy ra vào cuối tuần lễ thứ sáu. Sáng Thứ Sáu hôm đó, khi bước vào Nhà thờ Thánh Phêrô, tôi thấy mình đi bên cạnh nhà thần học Dòng Tên người Mỹ nổi tiếng là John Courtney Murray. Ông cho hay tinh thần của Công Ðồng xem ra đang xìu xuống (drooping) trông thấy. Tôi muốn đồng ý với ông.
Tuy nhiên, trong phiên họp buổi sáng, đức Hồng y Joseph Frings của Cologne nắm lấy máy vi-âm và bắt đầu lên tiếng bằng một giọng trầm và rất đặc trưng của người Giéc-manh (teutonic). Bỗng nhiên, các thành viên Công đồng nhận ra ngài đang chỉ trích Bộ Tín lý (Holy Office), là Bộ có nhiệm vụ bảo vệ sự chính thống của tín lý (ngày nay gọi là Bộ Giáo lý Ðức tin). Hội trường bỗng trở nên căng thẳng chăm chú. Các thần học gia aggiornamento, tức cánh cấp tiến, không tin nổi tai mình. Bộ Tín lý từng cứng rắn với khá nhiều thành viên cánh này, trong số đó có John Courtney Murray.
Khoảng 20 phút sau, đến lượt đức hồng y Ottaviani lên tiếng. Ngài là bộ trưởng bảo thủ của Bộ này, viên chức cao nhất sau đức Thánh cha. Ðức hồng y Ottaviani bước xuống phía máy vi âm với cái nhìn hết sức quả quyết trên gương mặt. Khi đến lúc lên tiếng, lời phản kháng say mê thoát ra từ môi miệng ngài và vang vang khắp cả hội trường đang im phăng phắc. Mặc dù rất ít người trong hội trường ủng hộ ngài, nhưng bản năng thể thao (sporting instinct) của các nghị phụ bỗng nổi lên và bộc phát thành tiếng vỗ tay hoan hô vang dội.
Vỗ tay là điều bị cấm, nhưng thỉnh thoảng vẫn nổ ra. Lần này, tiếng vỗ tay không phải vì nội dung, mà vì phong cách. Nó khiến tôi nhớ đến bài thơ của Macauley mà chúng ta thường học ở nhà trường nói về việc Horatius đã giữ cây cầu như thế nào chống lại quân xâm lăng Tuscan khiến “Ngay cả hàng quân Tuscany cũng không thể không hoan hô”. Dịp này đây, cánh cấp tiến quả là những anh chàng Tuscan kia.
Suốt khóa hai này của Công đồng, các chương của đề án đã sửa đổi về phụng vụ - viên đá chủ chốt của Vatican II - được đem ra đầu phiếu. Lá phiếu hoặc placet (đồng ý), hoặc non placet (không đồng ý), hay placet juxta modum (đồng ý có điều kiện). Ai muốn bầu kiểu thứ ba, thì phải giải thích lý do, để lý do ấy được xem sét lúc soạn thảo bản văn cuối cùng.
Hiến chế về phụng vụ diễn tiến tốt và đã đạt được số phiếu áp đảo và không sửa đổi vào ngày 4 tháng 12 năm 1963. Tất cả chúng tôi đều tuân hành đặt bút ký tên vào hiến chế này, một hiến chế thay đổi cách chúng ta cử hành thánh lễ trước Vatican II qua cách chúng ta cử hành thánh lễ ngày nay.
Nhân nói về phương pháp đầu phiếu, có một vị giáo phẩm già hay ngủ gục trong các phiên họp. Mỗi buổi sáng, chúng tôi phải ghi thẻ hiện diện, mà tiếng Latinh gọi là thẻ adsum (tôi có mặt). Có người kể lại rằng vị giáo phẩm thân yêu của chúng ta ghi thẻ ấy như sau: adsum juxta modum (hiện diện có điều kiện) !
8. Các Niềm Tin Khác: Ðại Kết
Ðại kết là cổ võ sự hiệp nhất Kitô giáo, đem mọi thành phần đã chia cách và phân tán trong Giáo hội của đức Kitô về một mối.
Về phía Công giáo, vấn đề chính đối với đại kết là duy trì đức tin trong một Giáo hội đích thực của đức Kitô trong khi tỏ đủ lòng tôn trọng và quan tâm nhậy cảm đối với các giáo phái khác nhằm khuyến khích và cổ võ đối thoại tiến tới tái hiệp nhất.
Xét một cách rộng, hiện có hai dạng thức giáo hội ly khai hay như người ta thường nói, có hai “cộng đồng giáo hội” ly khai: một ở vùng Ðông Ðịa Trung Hải và Ðông Âu Châu, và một thoát thai từ Tây Âu Châu. Các Giáo hội Phương Ðông bao gồm những người đã phân cách từ rất lâu, tận thế kỷ thứ năm, vì những lạc thuyết liên quan đến đức Kitô lúc đó, và những người được mệnh danh là Chính Thống Giáo, là những người phân cách với Giáo hội Công giáo trong thời Trung Cổ vì ly giáo. Các giáo hội và cộng đồng giáo hội ly khai Tây Âu Châu gồm những người phân cách khỏi Rôma qua Phong Trào Cải Cách.
Tại Công đồng Vatican II, thảo luận đến các vấn đề liên quan đến những vụ ly khai này cũng như thiết lập ra các nguyên tắc cổ võ việc cầu nguyện, đối thoại và hợp tác không phải là việc khó. Nhưng cái tạo ra vấn đề thực sự chính là việc ghép vào đề án đại kết chương nói về Do Thái giáo và chương nói về tự do tôn giáo. Cuối cùng, hai chương này đã được bỏ ra ngoài đề án để được bàn đến ở nơi khác một cách đặc biệt.
Về vấn đề Do-thái, các luận bác chính được nêu lên là: tại sao lại xử lý đặc biệt về nó trong khi không nói gì đến các thành phần tôn giáo khác như Hồi giáo, Ấn giáo, Phật giáo vân vân; tại sao lại quan tâm cách thiện cảm đối với người Do-thái trong bầu khí thù nghịch hiện đang đặc trưng cho tình hình tại Trung Ðông (người Ả-rập hết sức thù ghét bất cứ sự chú tâm đặc biệt nào dành cho người Do-thái); và tất nhiên, còn vì hàng bao thế kỷ người Kitô giáo đối xử tàn tệ với người Do-thái chỉ vì họ phải chịu trách nhiệm về cái chết của đức Kitô.
Vấn đề đối với tự do tôn giáo chủ yếu cũng là một vấn đề có tính lịch sử, phát sinh từ sự kiện này là trong cuộc phát triển của Tây Âu Châu, đức tin Công giáo đã trở nên đồng hóa, theo một nghĩa nào đó, với các định chế chính trị và xã hội Âu Châu, đến độ bất cứ giáo huấn lạc giáo nào chống lại niềm tin Công giáo cũng được kể là phản bội chống lại quyền lực chính trị.
Từ bối cảnh ấy, người ta xác tín rằng quyền lực chính trị có bổn phận duy trì, bảo vệ và cổ võ đức tin Công giáo. Ðến một mức nào đó, xác tín trên vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong tâm trí các người đại diện của các nước như Tây Ban Nha và Ý Ðại Lợi là những nước không cảm nghiệm được Phong trào Cải Cách, cũng như sự lớn mạnh của các cộng đồng giáo hội ly khai ngay trên đất nước họ.
Chính vì thế cuộc tranh luận mở ra cho các vấn đề phức tạp ấy không tránh khỏi gây nên bối rối và nóng bỏng cho đến khi phải đưa ra quyết định loại bỏ các chương về chúng, và bàn đến chúng trong những đề án khác.
Chương nói về Do thái giáo sau này được đề cập tới trong Tuyên Ngôn về Liên Hệ của Giáo hội với các Tôn giáo Không phải Kitô giáo, và chương về tự do tôn giáo được đề cập đến trong một tuyên ngôn riêng.
Khi các vấn đề trên đã được giải quyết, Công đồng tiếp tục hoàn tất cuộc tranh luận về vai trò của Ðức Nữ Trinh trong Giáo hội.
Hai tước hiệu được đem ra tranh luận là Ðấng Trung gian Mọi Ơn Thánh và Mẹ Giáo hội. Vì có quá nhiều chống đối đối với việc trung gian phổ quát của Ðức Mẹ, nên tước hiệu đầu không được chấp thuận, còn tước hiệu Mẹ Giáo hội cũng gặp nhiều rối rắm vì đức Maria vừa là thành viên vừa là mẹ Giáo hội.
Một vị giám mục Mễ Tây Cơ nói khôi hài rằng nếu đức Maria được gọi là Mẹ Giáo hội và nếu chúng ta là con cái Giáo hội, thì hóa ra Người là Bà chúng ta rồi. Hôm sau ngài bị một vị giám mục Tây Ban Nha lên lớp gay gắt.
Thay vì gọi đức Maria là Mẹ Giáo hội, Công đồng chỉ nhắc đến Người như là Mẫu mực của Giáo hội. Việc ngập ngừng này sau đó đã đức Phaolô VI vượt qua. Ngài không cảm thấy lúng túng tí nào về tước hiệu Mẹ Giáo hội hết, và đã chuẩn y một thánh lễ tuyệt vời kính đức Maria dưới tước hiệu ấy.
Như thế, khóa ba của Công đồng cứ từ từ diễn tiến, không tỏ dấu hiệu gì cho thấy cuối khóa đó là công đồng chấm dứt.
Tuy nhiên, một dấu hiệu khẩn trương mới đã lộ ra trông thấy trong cung cách các hồng y chủ toạ kiểm soát các buổi tranh luận. Tổng giám mục Munich, tức đức hồng y Doepfner, đặc biệt tỏ ra kịch liệt khẩn trương đến độ một số nghị phụ gọi ngài là “Ðức Kịch Liệt” (His Vehemence).
(còn tiếp)
5. Hai tuần chủ yếu của Vatican II
Các nghị phụ công đồng tập trung tại Rôma để tham dự giai đoạn hai vào cuối tháng 9 năm 1963. Thánh lễ khai mạc được cử hành tại vương cung thánh đường Thánh Phêrô ngày 29. Chủ tế là đức tân giáo hoàng Phaolô VI. Vị tiền nhiệm của ngài, đức Gioan XXIII, người triệu tập công đồng, đã qua đời năm đó.
Ðức Phaolô VI, người lúc còn là Hồng y Montini, vốn là một khuôn mạo quan trọng trong khóa thứ nhất của công đồng, trong bài diễn văn, rõ ràng tự xếp mình đi theo chính sách aggiornamento (cập nhật hóa) của đức Gioan XXIII.
Ngày làm việc đầu tiên là ngày 30 tháng 9. Chúng tôi ngồi chỗ mới trong aula, nhận được bản đề án mới về Giáo hội, và bỏ phiếu ủng hộ đề án này với 2231 phiếu thuận trong tổng số 2301 phiếu bầu. Ðiều này cho thấy đã có sửa đổi quan trọng so với bản văn đầu.
Khi tranh luận về “Mầu nhiệm Giáo hội”, các can thiệp đã nhấn mạnh nhiều đến những hình ảnh thánh kinh như dân Chúa, nước Chúa, nuớc đức Kitô, thân mình đức Kitô, gia đình Thiên Chúa, hiền thê đức Kitô. Ðiều này cho thấy một sự chuyển mình ra khỏi nền thần học dựa trên phương thức triết học và cơ cấu; cũng là một chuyển mình ra khỏi thái độ thủ thế (hay hộ giáo) từng là hậu quả của những đối nghịch Thệ phản. Trong bản văn cuối cùng, được chấp thuận về Giáo hội, “Dân Chúa” trở thành một chương riêng tiếp theo chương “Mầu nhiệm Giáo hội”.
Trước khi kết thúc phiên họp ngày Thứ Sáu, cuộc tranh luận bắt đầu về phẩm trật, đặc biệt nhắc đến tính hiệp đoàn (collegiality) của các giám mục. Cuộc tranh luận này kéo dài 7 ngày.
Tính hiệp đoàn của các giám mục chẳng có chi liên quan đến trường này trường nọ hay đại học này đại học nọ. Mà vấn đề là: phải chăng các giám mục Công giáo tạo thành một cơ chế hiệp đoàn (corporate body) với đức giáo hoàng trong thừa tác vụ tông đồ? Các giám mục nhận được thẩm quyền của mình từ đức giáo hoàng hay trực tiếp từ đức Kitô như một cơ chế hiệp nhất và bên dưới đức giáo hoàng?
Ðây là vấn đề rất lớn đối với các thần học gia aggiornamento. Các nhà bảo thủ sợ rằng tính hiệp đoàn sẽ làm yếu đi quyền tối thượng (primacy) của đức giáo hoàng. Các nhà cấp tiến trái lại xác tín rằng việc lãnh đạo trong Giáo hội sẽ yếu đi vì thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các giám mục và đức giáo hoàng trong việc quản trị Giáo hội.
Vào ngày Thứ Sáu là ngày bắt đầu cuộc tranh luận, một trong những vị bảo thủ tên tuổi là đức Hồng y Rufini của Palermi miền Sicily, mở đầu cuộc tranh luận bằng cách mạnh mẽ bênh vực quyền tối thượng không điều kiện. Sáng Thứ Hai, 9 đức hồng y, phần nhiều là người Bên Kia Núi (là tên chỉ các nghị phụ không phải người Ý), lên tiếng ủng hộ tính hiệp đoàn.
Tuần đó kết thúc với một đóng góp Ý rất mạnh khác, lần này lại từ cánh cấp tiến. Diễn giả là một vị rất trẻ, vừa mới được thụ phong 5 ngày trước đó, chính là giám mục phụ tá địa phận Bologna, đức cha Bettazzi. Quét một loạt Latinh trôi chẩy như thác nước và với những cử điệu tuyệt vời, trong 15 phút vắn vỏi có tác dụng điện hóa cả một hội trường đang mệt mỏi vào ngày cuối tuần, đức cha Bettazzi đã tuôn ra một loạt những chứng tá thần học hùng hồn để chứng minh rằng truyền thống Ý đại lợi thực ra cũng đứng đàng sau tính hiệp đoàn giống như mọi truyền thống khác.
Chỉ 15 phút thôi: nhưng cũng đã quá năm phút do qui luật cho phép. Ðáng bình luận là việc đức hồng y Lercaro của Bologna, người chủ toạ phiên họp hôm đó, say mê theo dõi lời trình bầy của vị phụ tá của mình đến độ quên khuấy cả việc mình phải trung lập và phải rung chuông cảnh cáo sau phút thứ 8, như qui luật đòi hỏi. Vị diễn giả khác trong ngày cũng được phép nói thêm giờ: đó là đức tổng giám mục Slipyi, người vừa được thả khỏi nhà tù Siberia sau 18 năm đằng đẵng.
Thế là hai tuần lễ quan trọng nhất của công đồng Vatican II đã kết thúc, hai tuần lễ bàn về bản chất Giáo hội, và vấn đề quyền tối thượng và tính hiệp đoàn.
Trong bản văn được thỏa thuận và công bố về Giáo hội, được biết dưới tựa đề Latinh là Lumen Gentium, tương quan giữa quyền tối thượng và tính hiệp đoàn được phát biểu như sau: “Giám mục Rôma, vì chức vụ Thay mặt đức Kitô và trong tư cách là mục tử của toàn thể Giáo hội, có quyền trọn vẹn, tối cao và phổ quát trên toàn thể Giáo hội, một quyền mà ngài có thể tự do thi hành. Chức bậc các giám mục là người kế quyền tông đồ đoàn (college of the apostles) trong vai trò của mình như thầy dậy và mục tử, và trong chức bậc ấy tông đồ đoàn được truyền đến muôn đời. Cùng với người đứng đầu là Ðức Giáo hoàng, và không bao giờ tách rời ngài, chức bậc các giám mục là chủ thể của quyền bính tối cao và trọn vẹn trên toàn thể Giáo hội hoàn cầu, nhưng quyền này không thể thi hành nếu không có sự đồng thuận của Giám mục Rôma”. Nếu độc giả thấy khó mà hiểu được mối tương quan giữa quyền tối thượng của đức giáo hoàng và tính hiệp đoàn, thì họ phải hiểu rằng phải khó khăn bao nhiêu mới đạt được nó trong một cuộc thảo luận có sự can dự của hơn 2000 tham dự viên!
6. Giáo dân, các phó tế và Ðức Mẹ
Ðiểm yếu lớn trong chương bàn về phẩm trật là song song với 10 tiết (sections) nói về các giám mục, chỉ có một tiết bàn về các linh mục và các giám mục.
Bốn người chúng tôi (một thiểu số quá nhỏ) cảm thấy điều đó quá tệ nên đã lên tiếng can thiệp vào chủ đề chức linh mục. Tôi nhấn mạnh rằng các giám mục sẽ tạo nên một khuôn mạo nghèo nàn nếu không có các linh mục, là những người làm phần lớn công việc. Một vị giám mục Pháp đề nghị rằng cũng như các giám mục đã tạo thành một hiệp đoàn chung quanh đức giáo hoàng thế nào, thì các linh mục cũng tạo nên một linh mục đoàn chung quanh vị giám mục như vậy.
Nhiều xem sét đã được dành cho các phó tế vì việc phục hồi chức phó tế trong Giáo hội Phương Tây được coi là một canh tân.
Nhưng vẫn có những luận chứng ủng hộ và chống lại. Một trong những khía cạnh tranh cãi là vấn đề độc thân. Có ý kiến cho rằng sẽ không thực tế tí nào nếu phục hồi chức phó tế vĩnh viễn mà lại loại trừ những người có gia đình. Ý kiến khác lại sợ rằng các phó tế có gia đình sẽ trở thành lưỡi dao sắc phá hoại luật độc thân của linh mục. Chính trong hoàn cảnh đó, Vatican II đã mở đường cho các phó tế vĩnh viễn có gia đình.
Chương kế tiếp trong đề án về Giáo hội cần phải đem ra thảo luận là chương ba: “Dân Chúa và Giáo dân nói riêng”.
Khi miêu tả việc bắt đầu cuộc tranh luận này, có lần tôi đã sử dụng hình ảnh chơi cricket: “Ðức hồng y Rufini (tổng giám mục bảo thủ của Palermo) đóng vai batsman khởi đầu cuộc chơi và, với con mắt tinh nhìn và tính cẩn thận cố hữu của một tay batsman sinh ra đã biết cầm bat để khởi đầu cuộc chơi, ngài xử lý một cách cứng rắn với bất cứ nghiêng ngả nào ngài nhận ra trong ngôn từ thần học và trong các trích dịch thánh kinh”. Một hồng y người Sicily đứng trước wicket!
Ðối với giáo dân, nhiều bài phát biểu rất hay đã được đọc về sự cần thiết phải nhấn mạnh nhiều hơn đến gia đình Kitô hữu, đến ơn gọi của người giáo dân phải sống và làm việc trong thế gian, đến việc thánh hiến thế gian qua người giáo dân Kitô giáo.
Nhưng có vấn đề: làm sao suy tư về người giáo dân mà lại không dùng đến những điều tiêu cực. Thật khó có thể định nghĩa được người giáo dân mà không nói họ không phải là giáo sĩ hay tận hiến tu dòng.
Một vài gợi ý được đưa ra nhưng hết 9 trong 10 trường hợp, kẻ định nghĩa giáo dân là gì vẫn cứ loay hoay mãi ở cuối đường hầm những cái tích cực, cho đến phút chót lại rơi vào cái bẫy tiêu cực, khiến cử tọa chẳng nhịn được cười.
Có người nhắc đến vai trò ngôn sứ của giáo dân cũng như chức linh mục của họ. Một vài châm chọc đã được phát biểu về điểm thứ hai, có thể vì cái viễn tượng người giáo dân xâm lăng gian cung thánh (chen chúc nhau đàng sau các phó tế có vợ). Tuy thế, cung điệu cuộc tranh luận nói chung khá tích cực, diễn tả được niềm hy vọng, tín thác và vững tin. Một số giám mục phát biểu hùng hồn về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội. Ðức cha Hakin, mà giáo phận bao gồm Nazareth, gây ấn tượng khá đặc biệt trong vấn đề này.
Vấn đề về Ðức Mẹ được nêu lên - liệu Người nên có một đề án riêng, hay chỉ là một tuyên ngôn bên trong đề án về Giáo hội.
Tuần lễ thứ năm của khóa thứ hai là một tuần lễ làm việc rất ngắn. Một ngày được dành cho việc tưởng niệm đức cố Giáo hoàng Gioan XXIII,. đấng đã khởi xướng công đồng, và một ngày nghỉ lễ Các Thánh.
Tuy nhiên cũng kiếm ra giờ để tranh luận về chương 4 của đề án, “Ơn Gọi Nên Thánh trong Giáo hội”. Văn kiện nhấn mạnh rằng mọi phần tử của Giáo hội đều được kêu gọi nên thánh. Chương này bao gồm phần nói đến các tu sĩ, nhưng sau này, một chương riêng đã được tạo ra dành riêng cho đời sống tu sĩ.
Vấn đề vị thế của Ðức Mẹ trong các tài liệu của công đồng đã được bàn thảo một cách gay gắt. Những vị muốn có một đề án riêng biệt dành cho Ðức Mẹ cảm thấy nếu chỉ nói đến Người trong đề án về Giáo hội, ta sẽ xúc phạm đến danh dự mà Người đáng được hưởng. Phe kia thì xác tín rằng đức Maria chẳng muốn điều gì khác hơn là được liên kết chặt chẽ với Giáo hội. Khi bỏ phiếu, số phiếu bầu được công bố như sau 1114 vị ủng hộ và 1074 vị bỏ phiếu chống, một chênh lệch chưa đến 2 phần trăm.
Cuộc tranh luận về đề án liên quan đến Giáo hội kết thúc với 5 câu hỏi được đặt ra cho các nghị phụ để thăm dò thái độ của các ngài đối với các vấn đề quyền tối thượng, tính hiệp đoàn và chức phó tế.
7. Hai vụ phun lửa tại Vatican II
Tuần lễ thứ sáu và thứ bẩy năm 1963 của Công đồng Vatican II được dành cho một đề tài khác “Các giám mục và việc cai quản các giáo phận”. Như thế lại có dịp bàn về các giám mục.
Các điểm đưa ra thảo luận là mối liên hệ giữa các giám mục và giáo triều Rôma, với các chi tiết liên quan đến giáo phận, các giám mục phó và phụ tá, và vấn đề người thuộc các nghi lễ khác nhau trong Giáo hội nhưng sống trong cùng một lãnh thổ.
Tại Nam Phi, ngoài nghi lễ Rôma và, một mức độ nào đó, nghi lễ Maronite của phần đông anh em Libăng, chúng ta ít biết đến các nghi lễ khác.
Tại Trung Ðông, trái lại, ta thấy rất nhiều nghi lễ khác nhau mà một số tràn qua cả các nước khác, như Canada và Mỹ. Mối liên hệ giữa các nghi lễ này cần được ấn định rõ.
Hiển nhiên các nghị phụ thuộc các nghi lễ trên có những quan tâm khác nhau, nhưng họ chỉ là thiểu số rất nhỏ. Như thế, khóa hai của Công đồng xem ra đang tiến một cách chậm chạp nhưng đều đặn tới chỗ tàn lụi. Ðiều này rồi cũng đến thôi, nhưng trước khi tàn lụi, nó cũng phun lửa lên hai bận: một nhỏ, một lớn.
Vụ phun lửa nhỏ liên quan đến lời chỉ trích của Thượng phụ Saigh Maximos IV, thuộc nghi lễ Melkite. Vị Thượng phụ này không bao giờ nói tiếng Latinh để phản đối sự độc quyền của ngôn ngữ này. Thay vào đó, ngài nói bằng tiếng Pháp. Ngài hùng hồn chỉ trích Hồng y đoàn, bằng cách cho mọi người hay: theo lịch sử đó chỉ là một tổ chức của các giáo sĩ Rôma. Sinh ra từ cái nôi ‘tội nguyên tổ” ấy, nó không thể đại diện đầy đủ cho Giáo hội hoàn vũ được.
Tốt hơn, theo đề nghị của ngài, nên tổ chức một hội đồng bao gồm các thượng phụ, một ít hồng y vốn là giám mục chính tòa, và cả chủ tịch các hội đồng giám mục nữa. Ngài kết luận, một tổ chức như thế mới có thể đóng góp đáng kể vào việc phổ quát hóa Giáo hội và cổ võ việc thích nghi vào các hoàn cảnh và văn hóa khác nhau.
Vụ phun lửa lớn hơn xẩy ra vào cuối tuần lễ thứ sáu. Sáng Thứ Sáu hôm đó, khi bước vào Nhà thờ Thánh Phêrô, tôi thấy mình đi bên cạnh nhà thần học Dòng Tên người Mỹ nổi tiếng là John Courtney Murray. Ông cho hay tinh thần của Công Ðồng xem ra đang xìu xuống (drooping) trông thấy. Tôi muốn đồng ý với ông.
Tuy nhiên, trong phiên họp buổi sáng, đức Hồng y Joseph Frings của Cologne nắm lấy máy vi-âm và bắt đầu lên tiếng bằng một giọng trầm và rất đặc trưng của người Giéc-manh (teutonic). Bỗng nhiên, các thành viên Công đồng nhận ra ngài đang chỉ trích Bộ Tín lý (Holy Office), là Bộ có nhiệm vụ bảo vệ sự chính thống của tín lý (ngày nay gọi là Bộ Giáo lý Ðức tin). Hội trường bỗng trở nên căng thẳng chăm chú. Các thần học gia aggiornamento, tức cánh cấp tiến, không tin nổi tai mình. Bộ Tín lý từng cứng rắn với khá nhiều thành viên cánh này, trong số đó có John Courtney Murray.
Khoảng 20 phút sau, đến lượt đức hồng y Ottaviani lên tiếng. Ngài là bộ trưởng bảo thủ của Bộ này, viên chức cao nhất sau đức Thánh cha. Ðức hồng y Ottaviani bước xuống phía máy vi âm với cái nhìn hết sức quả quyết trên gương mặt. Khi đến lúc lên tiếng, lời phản kháng say mê thoát ra từ môi miệng ngài và vang vang khắp cả hội trường đang im phăng phắc. Mặc dù rất ít người trong hội trường ủng hộ ngài, nhưng bản năng thể thao (sporting instinct) của các nghị phụ bỗng nổi lên và bộc phát thành tiếng vỗ tay hoan hô vang dội.
Vỗ tay là điều bị cấm, nhưng thỉnh thoảng vẫn nổ ra. Lần này, tiếng vỗ tay không phải vì nội dung, mà vì phong cách. Nó khiến tôi nhớ đến bài thơ của Macauley mà chúng ta thường học ở nhà trường nói về việc Horatius đã giữ cây cầu như thế nào chống lại quân xâm lăng Tuscan khiến “Ngay cả hàng quân Tuscany cũng không thể không hoan hô”. Dịp này đây, cánh cấp tiến quả là những anh chàng Tuscan kia.
Suốt khóa hai này của Công đồng, các chương của đề án đã sửa đổi về phụng vụ - viên đá chủ chốt của Vatican II - được đem ra đầu phiếu. Lá phiếu hoặc placet (đồng ý), hoặc non placet (không đồng ý), hay placet juxta modum (đồng ý có điều kiện). Ai muốn bầu kiểu thứ ba, thì phải giải thích lý do, để lý do ấy được xem sét lúc soạn thảo bản văn cuối cùng.
Hiến chế về phụng vụ diễn tiến tốt và đã đạt được số phiếu áp đảo và không sửa đổi vào ngày 4 tháng 12 năm 1963. Tất cả chúng tôi đều tuân hành đặt bút ký tên vào hiến chế này, một hiến chế thay đổi cách chúng ta cử hành thánh lễ trước Vatican II qua cách chúng ta cử hành thánh lễ ngày nay.
Nhân nói về phương pháp đầu phiếu, có một vị giáo phẩm già hay ngủ gục trong các phiên họp. Mỗi buổi sáng, chúng tôi phải ghi thẻ hiện diện, mà tiếng Latinh gọi là thẻ adsum (tôi có mặt). Có người kể lại rằng vị giáo phẩm thân yêu của chúng ta ghi thẻ ấy như sau: adsum juxta modum (hiện diện có điều kiện) !
8. Các Niềm Tin Khác: Ðại Kết
Ðại kết là cổ võ sự hiệp nhất Kitô giáo, đem mọi thành phần đã chia cách và phân tán trong Giáo hội của đức Kitô về một mối.
Về phía Công giáo, vấn đề chính đối với đại kết là duy trì đức tin trong một Giáo hội đích thực của đức Kitô trong khi tỏ đủ lòng tôn trọng và quan tâm nhậy cảm đối với các giáo phái khác nhằm khuyến khích và cổ võ đối thoại tiến tới tái hiệp nhất.
Xét một cách rộng, hiện có hai dạng thức giáo hội ly khai hay như người ta thường nói, có hai “cộng đồng giáo hội” ly khai: một ở vùng Ðông Ðịa Trung Hải và Ðông Âu Châu, và một thoát thai từ Tây Âu Châu. Các Giáo hội Phương Ðông bao gồm những người đã phân cách từ rất lâu, tận thế kỷ thứ năm, vì những lạc thuyết liên quan đến đức Kitô lúc đó, và những người được mệnh danh là Chính Thống Giáo, là những người phân cách với Giáo hội Công giáo trong thời Trung Cổ vì ly giáo. Các giáo hội và cộng đồng giáo hội ly khai Tây Âu Châu gồm những người phân cách khỏi Rôma qua Phong Trào Cải Cách.
Tại Công đồng Vatican II, thảo luận đến các vấn đề liên quan đến những vụ ly khai này cũng như thiết lập ra các nguyên tắc cổ võ việc cầu nguyện, đối thoại và hợp tác không phải là việc khó. Nhưng cái tạo ra vấn đề thực sự chính là việc ghép vào đề án đại kết chương nói về Do Thái giáo và chương nói về tự do tôn giáo. Cuối cùng, hai chương này đã được bỏ ra ngoài đề án để được bàn đến ở nơi khác một cách đặc biệt.
Về vấn đề Do-thái, các luận bác chính được nêu lên là: tại sao lại xử lý đặc biệt về nó trong khi không nói gì đến các thành phần tôn giáo khác như Hồi giáo, Ấn giáo, Phật giáo vân vân; tại sao lại quan tâm cách thiện cảm đối với người Do-thái trong bầu khí thù nghịch hiện đang đặc trưng cho tình hình tại Trung Ðông (người Ả-rập hết sức thù ghét bất cứ sự chú tâm đặc biệt nào dành cho người Do-thái); và tất nhiên, còn vì hàng bao thế kỷ người Kitô giáo đối xử tàn tệ với người Do-thái chỉ vì họ phải chịu trách nhiệm về cái chết của đức Kitô.
Vấn đề đối với tự do tôn giáo chủ yếu cũng là một vấn đề có tính lịch sử, phát sinh từ sự kiện này là trong cuộc phát triển của Tây Âu Châu, đức tin Công giáo đã trở nên đồng hóa, theo một nghĩa nào đó, với các định chế chính trị và xã hội Âu Châu, đến độ bất cứ giáo huấn lạc giáo nào chống lại niềm tin Công giáo cũng được kể là phản bội chống lại quyền lực chính trị.
Từ bối cảnh ấy, người ta xác tín rằng quyền lực chính trị có bổn phận duy trì, bảo vệ và cổ võ đức tin Công giáo. Ðến một mức nào đó, xác tín trên vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong tâm trí các người đại diện của các nước như Tây Ban Nha và Ý Ðại Lợi là những nước không cảm nghiệm được Phong trào Cải Cách, cũng như sự lớn mạnh của các cộng đồng giáo hội ly khai ngay trên đất nước họ.
Chính vì thế cuộc tranh luận mở ra cho các vấn đề phức tạp ấy không tránh khỏi gây nên bối rối và nóng bỏng cho đến khi phải đưa ra quyết định loại bỏ các chương về chúng, và bàn đến chúng trong những đề án khác.
Chương nói về Do thái giáo sau này được đề cập tới trong Tuyên Ngôn về Liên Hệ của Giáo hội với các Tôn giáo Không phải Kitô giáo, và chương về tự do tôn giáo được đề cập đến trong một tuyên ngôn riêng.
Khi các vấn đề trên đã được giải quyết, Công đồng tiếp tục hoàn tất cuộc tranh luận về vai trò của Ðức Nữ Trinh trong Giáo hội.
Hai tước hiệu được đem ra tranh luận là Ðấng Trung gian Mọi Ơn Thánh và Mẹ Giáo hội. Vì có quá nhiều chống đối đối với việc trung gian phổ quát của Ðức Mẹ, nên tước hiệu đầu không được chấp thuận, còn tước hiệu Mẹ Giáo hội cũng gặp nhiều rối rắm vì đức Maria vừa là thành viên vừa là mẹ Giáo hội.
Một vị giám mục Mễ Tây Cơ nói khôi hài rằng nếu đức Maria được gọi là Mẹ Giáo hội và nếu chúng ta là con cái Giáo hội, thì hóa ra Người là Bà chúng ta rồi. Hôm sau ngài bị một vị giám mục Tây Ban Nha lên lớp gay gắt.
Thay vì gọi đức Maria là Mẹ Giáo hội, Công đồng chỉ nhắc đến Người như là Mẫu mực của Giáo hội. Việc ngập ngừng này sau đó đã đức Phaolô VI vượt qua. Ngài không cảm thấy lúng túng tí nào về tước hiệu Mẹ Giáo hội hết, và đã chuẩn y một thánh lễ tuyệt vời kính đức Maria dưới tước hiệu ấy.
Như thế, khóa ba của Công đồng cứ từ từ diễn tiến, không tỏ dấu hiệu gì cho thấy cuối khóa đó là công đồng chấm dứt.
Tuy nhiên, một dấu hiệu khẩn trương mới đã lộ ra trông thấy trong cung cách các hồng y chủ toạ kiểm soát các buổi tranh luận. Tổng giám mục Munich, tức đức hồng y Doepfner, đặc biệt tỏ ra kịch liệt khẩn trương đến độ một số nghị phụ gọi ngài là “Ðức Kịch Liệt” (His Vehemence).
(còn tiếp)