CHỨNG NHÂN TẬN MẮT CÔNG ÐỒNG VATICAN II

Đức Tổng giám mục Denis E. Hurley, thuộc Dòng Tận Hiến Ðức Mẹ Vô Nhiễm (O.M.I), cai quản giáo phận Durban, Nam Phi, là một trong những nghị phụ chủ lực của Công Ðồng Vatican II từ lúc chuẩn bị cho đến lúc kết thúc. Trong loạt bài độc quyền viết cho tờ The Southern Cross và được xuất bản năm 2001, ngài thuật lại các biến cố quan trọng xẩy ra trong các khóa họp của Công Ðồng này, kể cả những vận động hậu trường, chưa được tiết lộ. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan XXIII công bố triệu tập Công Đồng, mời qúy bạn đọc theo dõi loạt bài lý thú này.

1. Aggiornamento

Ngày 25 tháng Giêng năm 1959, Ðức Gioan XXIII công bố ý định triệu tập một công đồng chung cho toàn thể Giáo Hội. Lời công bố này được thực hiện sau một cử hành phụng vụ tại Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phaolô ngoại thành Rôma, nhân tuần lễ Hiệp Nhất Kitô giáo. Số nhỏ các vị hồng y nghe Ngài tuyên bố hôm đó hình như không tỏ dấu hiệu gì hứng khởi hay chào đón viễn tượng có một công đồng chi hết.

Nhiều người trong chúng tôi thắc mắc lý do tại sao cần phải có một công đồng vào lúc này. Bởi xét theo lịch sử, xem ra công đồng chỉ cần để giải quyết một khủng hoảng nào đó trong đời sống Giáo hội. Nhưng tháng Giêng năm 1959, làm chi có khủng hoảng? Nhất là đối với cái phần nói tiếng Anh của Giáo hội, thì ý niệm khủng hoảng lại càng xa vời hơn. Phần lớn trong các xứ ấy, các giáo xứ đều đang sinh hoạt rất tốt, các trường Công giáo điều hành thành công, ơn kêu gọi làm linh mục và tu dòng tăng triển đều đặn.

Có lẽ chính vì lý do đó, tôi phản ứng khá chậm khi nhận được thư của Đức Hồng y Tardini, Quốc vụ khanh, gửi các giám mục hoàn cầu, mời góp ý cho nghị trình của công đồng. Phải đến khi có thư thúc, tôi mới chịu nhúc nhích. Tôi nghĩ nhiều vị giám mục khác cũng thế thôi. Tôi bèn phủi bụi cuốn từ điển Latinh cũng như sách văn phạm của mình để bắt tay soạn một vài đề nghị.

Ấy thế mà ngạc nhiên thay, đầu năm 1961, tôi được chỉ định làm thành viên của ủy ban chuẩn bị trung ương. Nhiều ủy ban chuyên môn đã làm việc trước đó để soạn thảo các đề tài cho công đồng. Công việc của ủy ban chuẩn bị trung ương là phối hợp các bản văn đã được soạn thảo và đem lại cho chúng hình thức cuối cùng, mệnh danh là các đề án (schemas). Schema là từ Latinh, nguyên gốc Hylạp, có nghĩa là bản văn đề nghị.

Kinh nghiệm làm việc tại ủy ban chuẩn bị trung ương giúp tôi hiểu ra lý do tại sao cần có một công đồng. Ủy ban này bao gồm khá đồng đều hai khuynh hướng bảo thủ và cấp tiến. Tôi thấy mình thuộc nhóm sau, là nhóm quan tâm nhiều đến việc làm thế nào để Giáo hội quan tâm đến việc thờ phượng, và việc phúc âm hóa đối với các điều kiện xã hội đương thời.

Phe bảo thủ có khuynh hướng nhìn trở lui và vận động duy trì những gì đã được thiết dựng. Những vị bảo thủ mạnh mẽ nhất phần lớn là các vị hồng y bàn giấy đang phục vụ tại giáo triều lúc ấy. Ðiều này xem ra khá lạ vì đức Gioan XXIII đã chỉ rõ mục đích của công đồng là aggiornamento, mà ta có thể đại khái dịch là cập nhật hóa.

Dù được đức Thánh Cha ủng hộ, phe chúng tôi, tức phe cấp tiến, xem ra đang đánh một trận đánh thua cuộc. Chúng tôi chỉ biết tham dự các buổi tranh luận tại Rôma, đưa ra các đề nghị rồi về nước chờ phiên họp sau. Trong khi ấy, các vị đại diện giáo triều ở lại Rôma, tha hồ ảnh hưởng đến việc lên công thức cho các “sáng kiến” của ủy ban.

Ðến lúc chúng tôi tiến tới phiên họp áp chót của ủy ban, mà theo tôi xẩy ra trong tháng Năm năm 1962, tôi khá thất vọng trước các đề án được đề nghị làm nghị trình cho công đồng, mặc dù phe chúng tôi có sự đóng góp của những hồng y tên tuổi như Lienart của Lille, Frings của Cologne, Alfrink của Utretch, Konig của Vienna, Dopfner của Munich, Leger của Montreal, Montini của Milan (sau này là đức Phaolô đệ lục), Bea của Rôma, và Suenens của Mechelen-Brussels, người sau này được công nhận là một trong những kiến trúc sư vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất, của công đồng.

Những người thuộc vùng bắc dẫy núi Alps thường được người Ý gọi là dân Bên Kia Núi (Transalpines) với hàm ý mọi rợ, vì dân man ri vốn từ đó mà ra. Nhóm cấp tiến chúng tôi quả bị đẩy vào cái thế thật không công bằng chút nào trên sân chơi. Tuy nhiên cũng có một vài an ủi trong hai đề án, một về phụng vụ và một về đại kết.

Công lớn trong bản văn về phụng vụ là của vị thư ký xuất sắc của ủy ban chuyên môn thuộc lãnh vực ấy, tức cha Annibale Bugnini, một cha Dòng Thánh Vincent, sau này trở thành tổng giám mục và là thư ký của Thánh Bộ Phụng Vụ trong nhiều năm sau công đồng. Dưới ảnh hưởng của ngài, một nhóm các học giả phụng vụ nổi tiếng của Giáo hội đã được qui tụ lại để làm việc trong ủy ban phụng vụ.

Ðối với đề án có dáng dấp cấp tiến thứ hai, tức đề án đại kết, công lớn là của vị chủ tịch ủy ban, tức đức hồng y Bea, Dòng Tên, một học giả kinh thánh nổi tiếng. Ðó là hiện trạng chuẩn bị để công đồng có thể khai mạc vào ngày 11 tháng Mười năm 1962.

2. Bị bỏ lại phía sau, như những vật trong viện bảo tàng

Tôi nhớ rất rõ, ngày 11 tháng Mười năm 1962 là một ngày Mùa Thu huy hoàng, đầy ánh mặt trời, đem lại một khung cảnh hoàn bị cho cuộc diễn hành của các nghị phụ qua công trường Thánh Phêrô.

Nhiều người sau này cho hay họ thấy tôi trong phim thời sự ghi lại biến cố trên. Tuy nhiên, thực ra họ không thể thấy tôi được, bởi lẽ tôi là một trong những người hụt mất khúc ở công trường. Lý do vì một vị phụ tá chưởng nghi lạc mất hiệu lệnh sao đó, nên đã để cả một lô tổng giám mục kẹt cứng ở địa điểm tập trung.

Ðịa điểm tập trung này là một trong những phòng lớn của Viện Bảo Tàng Vatican. Ðối với chúng tôi, những người thuộc cánh cấp tiến, quả là bực mình khi bị để lại đàng sau như những đồ trưng bầy của bảo tàng viện. Sau đó, chúng tôi bị dẫn vội vàng xuống phía cầu thang điện Vatican, lẻn qua cổng trước của nhà thờ Thánh Phêrô và đẩy vào đòan diễn hành ngay phía trước các hồng y và đức Thánh Cha trên kiệu gestoria.

Bước vào vương cung thánh đường, là cả một khung cảnh vĩ đại hiện ra trước mắt. Lòng nhà thờ Thánh Phêrô đã biến thành hội trường vĩ đại gọi theo tiếng Latinh là Aula. Gian chính giữa ấy đã được phân cách hẳn với các gian cánh phụ, và ở hai bên cánh chính này dựng lên những hàng ghế cao vút san sát nhau, để lại một lối đi ở chính giữa, tạo nên một cái khung bán nguyệt tuyệt vời với cung thánh ở phía cuối, mà sừng sững bao quanh bàn thờ là chiếc long đình nổi tiếng của kiến trúc sư Bernini thế kỷ 17.

Khi nhóm tổng giám mục chúng tôi bước vào vương cung thánh đường, gần 2,000 giám mục đã yên vị trong chỗ ngồi của họ và khung cảnh ấy thật giống hẻm núi hùng vĩ gồm toàn mũ tế trắng. Các tổng giám mục, do thâm niên giáo phẩm, được xếp ngồi khá gần bàn thờ. Tôi được xếp ngồi bên phải (nhìn từ phía bàn thờ), rất gần các hồng y.

Tôi hơi e ngại thấy máy quay phim truyền hình đặt rất gần mình, vì sợ rằng trong buổi lễ quá kéo dài sau đây, tôi dám để mình rơi vào cơn mê ngủ và truyền hình sẽ giữ đó làm lưu niệm cho hậu thế thì nguy.

Tuy nhiên, bài diễn văn mà Ðức Thánh Cha Gioan XXIII đọc vào cuối nghi lễ đã đánh tan mọi mối e ngại của tôi. Dĩ nhiên, ngài nói bằng tiếng Latinh, nhưng nhờ bẩy năm tiếng Latinh khi còn là sinh viên tại Rôma và kinh nghiệm làm việc nhiều lần tại Ủy Ban Chuẩn Bị Trung Ương, trong đó tiếng Latinh luôn luôn được sử dụng, nên tôi không thấy có khó khăn gì về ngôn ngữ. Ðức Thánh Cha nói một cách bình thản và rõ ràng, từng lời nói của ngài được nghe rõ mồn một.

Ở đây tôi phải nhận rằng các nhân viên phụ trách sắp xếp âm thanh cho công đồng tại nhà thờ Thánh Phêrô quả đã làm một công việc tuyệt vời. Trong bài diễn văn, Ðức Thánh Cha nói rằng nghị trình của công đồng phải nhằm làm sáng tỏ Ðức Kitô là trung tâm lịch sử và trung điểm sự sống và phải cập nhật hóa các phương pháp của Giáo hội (aggiornamento).

Ngài nói rằng có những người chỉ biết nhìn bất cứ cái gì hiện đại cũng là hủy hoại và quanh co. Ðức Thánh Cha coi họ như các tiên tri điềm dữ và kêu gọi công đồng hãy làm cho Giáo hội thực hiện một bước tiến nhẩy vọt hướng tới việc đào sâu học thuyết và huấn luyện lương tâm, dưới ánh sáng Phúc âm và mầu nhiệm Giáo hội.

Lắng nghe Ðức Thánh Cha, tôi thấy mình chẳng còn khuynh hướng nào để mắt nhắm lại và đầu gật tới gật lui nữa. Ngài quả đứng về cánh cấp tiến chúng tôi, nhưng giáo triều vẫn nắm giữ nhiều quyền kiểm soát lắm.

Cốt chính trong giai đoạn đầu của công đồng là để giải quyết cái tình trạng trên.

3. Ngày đầu làm việc, Công đồng chỉ kéo dài 50 phút

Ngày 13 tháng Mười năm 1962 là ngày làm việc đầu tiên của Công đồng Vatican II. Các nghị phụ công đồng đã được phân phối các giấy tờ cần thiết. Trong số ấy có 10 thẻ bỏ phiếu với 16 khoảng trống trên mỗi thẻ để bầu các ủy ban công đồng. Nhiệm vụ của các ủy ban này là điều hành việc thông qua các đề tài (hay đề cương) trong các buổi tranh luận của công đồng.

Cũng có một danh sách kê khai các vị từng phục vụ trong các ủy ban chuẩn bị. Công đồng được yêu cầu bỏ phiếu bầu các thành viên cho các ủy ban như là nhiệm vụ đầu của ngày làm việc đầu tiên.

Trong số các thành viên của công đồng và các cố vấn thần học, có nhiều vị khi nghe phong phanh về việc này đã tỏ ra kinh hoàng trước viễn ảnh các giám mục phải bỏ phiếu bầu thành viên cho các ủy ban mà không hề biết gì về người mình bầu.

Họ coi việc ấy như một âm mưu vội vàng, thế là cánh cấp tiến vội vã truyền nhau ý kiến phải xử lý việc này. Ý kiến này lọt tới tai tôi.

Lệnh đầu phiếu được ban ra. Nhiều giám mục quanh tôi bắt đầu viết các tên lên phiếu bầu của họ. Còn tôi thì ngồi chờ, và cái chờ ấy dường như dài vô tận. Cuối cùng, đức Hồng Y Lienart của Lille, một thành viên của chủ tịch đoàn, lên tiếng kêu gọi đình hoãn để chúng tôi có đủ thì giờ tìm hiểu về các đề cử viên cho các ủy ban.

Ðức Hồng y Frings của Cologne ủng hộ ý kiến của đức Hồng y Lienart. Tiếng vỗ tay nổi lên và vị chủ tọa cuộc họp buổi sáng là đức Hồng y Tisserant tuyên bố ý kiến ấy được chấp thuận, và các nghị phụ có ba ngày để quyết định nên bầu ai vào các ủy ban. Phiên họp tạm hoãn và các giáo phẩm với phẩm phục đỏ và tím tuôn ra khỏi vương cung thánh đường. Ngày làm việc đầu tiên chỉ kéo dài 50 phút là vì vậy.

Trong suốt ba ngày sau, không khí thật sôi động với nhiều gặp gỡ xẩy ra, nhiều tham khảo được thực hiện, nhiều danh sách được lập ra và được phân phối. Cả hai cánh, bảo thủ lẫn cấp tiến, đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc cánh mình được đại diện trong các ủy ban là những cơ sở có tiếng nói rất mạnh trong việc xét lại các bản văn đề án dưới ánh sáng các buổi tranh luận sắp xẩy ra.

Thật ngạc nhiên khi tôi được bầu làm thành viên của Ủy Ban Huấn Luyện Các Ứng Viên Linh Mục và Giáo Dục Công Giáo.

Khi vấn đề các ủy ban đã được giải quyết, công đồng sẵn sàng để giải quyết đề tài đầu tiên trong nghị trình. Ðó là vấn đề phụng vụ.

Như tôi đã nói ở trên, đề án phụng vụ là một trong hai đề án tốt của Uỷ Ban Chuẩn bị Trung ương. Nó có tính tiến bộ và sáng tạo. Tuy nhiên, đứng đầu ủy ban lại là một vị chủ tịch thuộc cánh bảo thủ, đó là đức Hồng y Larraona, và cả hai vị phó chủ tịch cũng thuộc cánh bảo thủ nốt. Phe cấp tiến hết sức thất vọng vì đến cha Bugnini, từng đóng vai trò lớn trong sự thành công của Ủy ban tiền công đồng về phụng vụ, cũng không được đề cử làm thư ký cho ủy ban công đồng.

Cuộc tranh luận về phụng vụ bắt đầu ngày 22 tháng Mười, 11 ngày sau lễ khai mạc long trọng công đồng. Nhiều phát biểu rất hay vừa ủng hộ vừa phê phán đề án đã được đưa ra, nhưng tôi hoàn toàn thất vọng về thủ tục bao gồm hết lời phát biểu này đến lởi phát biểu khác tiếp nối nhau trong cả ba giờ đồng hồ liền, mà con số lên đến 15 tất cả không ngừng không nghỉ. Những lời phát biểu này được gọi là “những can thiệp” (interventions) du nhập vào tiếng Anh từ tiếng Pháp, Ý và Tây Ban Nha.

Tôi nản lòng về thủ tục này đến nỗi dù tên tôi được kể trong số các vị phát biểu và lời can thiệp của tôi đã được soạn sẵn, tôi lại muốn thà không nói thì hơn và chỉ cần trao bản viết. Những can thiệp tiếp nối nhau vô tận, toàn bằng tiếng Latinh này chắc chắn là nguyên nhân làm nổi tiếng hai quán cà phê có tên là Quán Abbas và Quán Jonah.

Mặc cho người khác nghĩ sao về thủ tục này, nó vẫn cứ quay đều trên cái trục lặp đi lặp lại và, trong trường hợp tranh luận về phụng vụ, nó đã kết thúc bằng đa số phiếu ủng hộ đề án dù với nhiều đề nghị và tu chính. Như thế, sau một tháng ở Rôma, chúng tôi đã hoàn tất được giai đoạn đầu của đề tài. Công đồng xem ra sẽ là một công trình kéo dài.

Một biến cố khá bất thường xẩy ra vào ngày 13 tháng Mười Một khi chúng tôi được thông báo là Ðức Thánh Cha đã quyết định đưa tên Thánh Giuse vào Lễ Qui Rôma, nay gọi là Lời Nguyện Thánh Thể thứ nhất. Ðiều này là để đáp ứng nhiều yêu cầu do các lời can thiệp nêu ra.

Ít ngày sau, tôi được Đức Tổng giám mục (sau lên Hồng y) Wright của Pittsburgh tiếp xúc. Ngài hỏi tôi xem có chịu ủng hộ đơn yêu cầu xin xác định tín điều hồn xác lên trời của Thánh Giuse hay không. Khi thấy lông mi tôi chỉ ngược lên trời, ngài bèn trích lời Cha Peyton, một linh mục nổi tiếng trên truyền hình Mỹ lúc ấy, và nói “có đủ cơ sở vững chãi về thần học: gia đình cầu nguyện với nhau là gia đình bền vững với nhau!”

4. Ðức Gioan XXIII chấm dứt 400 năm thế thủ

Vatican II sẽ đi theo hướng cấp tiến hay bảo thủ là tùy hai cuộc tranh luận chủ yếu diễn ra cuối tháng Mười Một và đầu tháng Mười Hai năm 1962, trong giai đoạn đầu của công đồng.

Ðối với các độc giả không quen thuộc với khung cảnh thần học Công giáo, thật khó giải thích rõ các lý do của việc trên. Thành ra muốn có được một giải thích, tôi cần phải nhắc lại chút ít lịch sử thần học. Thế kỷ 13, thiên tài thần học vĩ đại Dòng Ðaminh là thánh Tôma Aquinô đã du nhập lối suy nghĩ của triết gia Aristote người Hylạp vào nền thần học Công giáo. Dần dà, Aristote chiếm địa vị thống trị và ngôn từ cũng như các công thức của ông trở thành chiếc xe chuyên chở tư tưởng thần học Công giáo.

Ðiều này đáng lẽ đã có thể thay đổi do hậu quả của Phong Trào Phục Hưng. Nhưng lúc Phong trào Phục hưng lên cao nhất, thì Phong Trào Cải Cách xẩy ra, đem lại nhiều tranh cãi thần học và chiến tranh tôn giáo. Giáo hội đi vào con đường thủ thế và nền thần học chịu ảnh hưởng của Aristote được duy trì. Người ta gọi nó là thần học kinh viện, ám chỉ các nhà khoa bảng (schoolmen) trong các đại học thời trung cổ.

Bốn trăm năm sau Cải cách, xem ra Giáo hội vẫn cứ liên tục giữ thế thủ đối với Phong trào Thệ phản, cách mạng khoa học, cách mạng kỹ nghệ, Phong trào Ánh sáng (triết lý thế chỗ cho đức tin Kitô giáo), cách mạng chính trị và cách mạng ý thức hệ bao gồm chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội (nhất là hình thức cực đoan Macxit), chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Quốc xã.

Ðó quả là một Giáo hội tự vệ. Một Giáo hội pháo đài. Nhưng khi Giáo hội này bước vào thế kỷ 20, một loạt những canh tân thi đua đâm bông: về kinh thánh, về thần học, về phụng vụ, về tông đồ và về cả giáo lý nữa. Một trỗi dậy đầy hào hứng.

Ðức Giáo hoàng Gioan XXIII nắm bắt được cơ may ấy khi ngài triệu tập Công đồng Vatican II.

Công đồng có nhiệm vụ phải quyết định giữa não trạng pháo đài hay bước vào phương thức mở cửa tâm hồn mình nhiều hơn đối với thế giới và xã hội con người. Ðại khái đó là vấn đề tranh chấp giữa cánh bảo thủ và cánh cấp tiến.

Hai cuộc tranh luận khiến vấn đề trên trồi lên hàng đầu chính là hai cuộc tranh luận liên quan đến mạc khải và Giáo hội.

Về vấn đề mạc khải, phương thức kinh viện từng đem lại ý niệm hai nguồn: thánh kinh và tông truyền. Cánh cấp tiến chống lại ý niệm đó vì họ thấy rằng đặt tông truyền thành nguồn riêng biệt của mạc khải Thiên Chúa là điều sai lầm. Ðối với họ, chỉ có một nguồn mạc khải mà thôi: đó là Lời Chúa tỏ cho dân Người và được ủy thác cho các tông đồ và, khi được các ngài truyền lại, thì mặc lấy hai chiều kích: thánh kinh và tông truyền, nâng đỡ và bổ túc cho nhau.

Một cuộc tranh luận gắt gao xẩy ra trong các ngày từ 14 đến 19 tháng 11 năm 1962, khi các nghị phụ được yêu cầu bỏ phiếu xem có nên tạm ngưng cuộc tranh luận hay không. Ðiều này trên thực tế có nghĩa là cần phải đưa ra một đề án mới. Kết quả đầu phiếu là 1368 ủng hộ tạm ngưng, 822 chống lại. Tuy không đạt được 2/3 tổng số phiếu, nhưng kết quả ấy cũng đủ cho thấy đề án đang tranh cãi ít có tương lai. Bởi thế, Ðức Thánh Cha phải can thiệp vào và chỉ thị phải viết lại đề án.

Cuộc tranh luận chủ yếu thứ hai liên quan đến đề án về Giáo hội. Cũng có phản ứng mạnh chống lại đề án này. Nó quá kinh viện, quá thủ thế. Không có đặc tính cởi mở và quy hướng mục vụ mà đa số các nghị phụ mong chờ.

Bởi thế, một lần nữa đức giáo hoàng Gioan XXIII lại đã can thiệp vào và chỉ thị phải sửa lại đề án, sau khi đức hồng y Suenens, tổng giám mục Brussels đưa ra đề nghị ngày 4 tháng 12 phải có một kế hoạch toàn bộ cho công đồng. Chủ đề chính phải là Giáo hội, với ít nhiều phụ đề bàn về các khía cạnh đối nội và đối ngoại của Giáo hội. Khía cạnh đối ngoại bao gồm tác động của Giáo hội đối với thế giới. (Bản Latinh: Ecclesia ad intra and Ecclesia ad extra). Việc xem sét đến tác động đối với thế giới sau này sẽ trở thành Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay (Gaudium et Spes).

Trước khi kết thúc giai đoạn đầu, Ðức Thánh cha đưa ra một quyết định quan trọng: tức quyết định thiết lập một ủy ban phối trí để kiểm soát chặt chẽ các đề án và chương trình thảo luận.

Giữa việc xử lý vấn đề phụng vụ và hai cuộc tranh luận chủ yếu, công đồng cũng dành hai ngày để thảo luận về Giáo hội và các phương tiện truyền thông hiện đại.

Giai đoạn đầu của công đồng là một giai đoạn gay cấn nhưng chắc chắn đã kết thúc một cách tích cực. Có lẽ đó là một an ủi lớn lao cho đức Gioan XXIII, người được chứng kiến ngày sinh của công đồng nhưng đã không được tận mắt chứng kiến trên trần gian những sinh hoạt sau đó của nó. Ngài qua đời tháng 6 năm 1963, sau khi đã khai mở một cố gắng nhằm chấm dứt 400 năm thế thủ trong sinh hoạt của Giáo hội và mở cửa cho Giáo hội hường tới một viễn ảnh mục vụ bao quát hơn.

(Còn tiếp)